VÕ - NGHỆ VÀ THI VõPhần 7 · trang 109–122
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 109THI Võ VÕ - NGHỆ VÀ Ta có câu :
Văn quan căm hút an thiên-hg.
Võ lướng đề đao định thái-bình.
Lại có câu :
Bình thời giảng võ, loạn thế độc thư Qua những cầu trên ta thấy rằng nếu văn tài cần cho đất nước, tạo cho đất nước những vị vắn quan định kế hoạch an thiên-hạ, thì võ nghệ cũng không kém cần-thiết. Kế-hoạch của các nhà chính-trị đặt ra muốn được thi-hành, đất nước cần phải thái-bình không giặc-giã, không kẻ quấy rối bất cử ở nơi nào. Định thái-bình là nhiệm vụ của những tay võ-tướng, chính những người này đem lại an-ninh cho xử sở. Cỏ văn phải cổ võ, và võ cũng phải cần tới văn. Quan-niệm trọng văn khinh võ là một quan-niệm sai lầm.
Nước ta xưa nay trải qua bao nhiêu thời trị, thời loạn, trong thời nào ván võ cũng hỗ trợ lẫn nhau : Văn của Hưng-đạo Vương phải có võ của Trần quốc-Toản, Phạm-ngũ-Lão, Trần-bình-Trọng, v.v…. văn của Nguyễn-Trãi phải có võ của Lê-Lai của Trần nguyên-Hãn, võ của vua Quang-Trung phải có ván của Ngô-thời-Nhiệm.
Võ nghệ cũng quan trọng đối với dân ta nhir ván-chương vậy.
Người xưa có ôn văn và có luyện võ, và nền võ-nghệ của ta cũng thực là đáng kề.
MẤY MÔN VÕ CHÍNH Võ-nghệ ta có nhiều cách luyện-lập, nhưng trải qua bao nhiêu thế- kỷ truyền lại, những lối tập võ gần đây được coi là thông thường nhất, phải kề :
Trang sách 1101.- Tập xách tạ 2.- Tập đu 3.- Luyện chân tay . 4.- Tập nhầy 5.- Tập quyền-thuật 6.- Tập khi-giới 7.- Tập bắn cung 8.- Tập đánh-vật Tám lối tập võ trên được các tay võ thuật luyện tập cho tới thời Pháp thuộc, và ngay cả trong thời Pháp thuộc, nhiều môn vẫn tồn tại.
Ngày nay trước sự dụng chạm với Âu-Mỹ, có nhiều môn võ thuật mới được truyền-nhập vào nước la, trong khi đó, nhiều môn vũ của ta như đang muốn mất dần trên võ trờng.
TẬP XÁCH TẠ Tập xách lạ là một lối tập đề con người quen tập xách nặng, trước xách ít sau xách nhiều hơn, trước xách và đi trong quãng gần, rồi quãng này càng lập càng xa hơn.
Ta thường dùng một hòn đá lớn hoặc một quả cân nặng độ b yến ta, mỗi yến ta ăn sáu kí-lô ngày nay, đề tập môn võ này. Võ-sinh bê hòn đá hoặc quả cân, giơ lên nhắc xuống cho cứng gân cốt, rồi lại bê quả tạ đó mà đi.
Sau khi đã bê được một cách dễ dàng quả tạ sáu yến và đi được khá xa, võ-sinh sẽ lần lần tập những quả tạ nặng hơn.
Ngày nay trong các môn thể thao mới của Âu-Mỹ cũng cơ môn tạ, nhưng ngoài môn lạ giơ lên nhắc xuống và váo đi xa, lối tập mới lại có món rém lạ, thời xưa ta không có, TẬP ĐU Tập đu cốt làm cho cứng gân cốt, nhưng cũng lại làm cho gân cốt được dẻo-dại.
Trang sách 111Môn lập này thực ra công-dụng và kể ngay cả cách luyện tập không k hác chi mấy với môn thể dục lập sả, tập thang, lập lộn vòng sắt v.v... ngay nay.
Có khác là chỉ ở chỗ xưa kia không ai dựng sà, và không có thao trường với dụng cụ đầy tủ để các võ-sinh luyện-lập.
Các võ-sinh kiếm cành cây cứng đề vịn vào lập đu, hoặc trồng cột bắc giá đánh đu.
Việc tập tành cối ở sự siêng-năng đều hòa, ngày nọ sang ngày kia.
Lúc lập hai tay võ sinh vịn cành cây hoặc giá đu, lừ từ đưa mình lên rồi hạ mình xuống. Tập mãi cho đến khi nào đưa được thẳng cánh tay đem đầu gối lên sát cành cây hoặc giá đu mới thôi.
Ngoài ra võ-sinh lại lập lộn trên cành cây hoặc gíá đu đề thân mình được mềm đẻo, ngõ-hầu khi tập côn quyền tránh đỡ được nhẹ- nhàng.
LUYỆN CHÂN TAY Mục đích luyện chân tay cốt đề cho chân tay được cứng-cáp. Cách luyện chân tay gần tương-tự như những người chơi quyền Anh ngày nay luyện tập.
Tập quyền Anh, võ-sinh nắm tay đấm vào những bì cát, luyện tay lối xưa chỉ khác ở chỗ các ngón tay phải xòe thẳng.
Luyện tay bắt đầu dùng một thùng thóc, ngày ngày giương thẳng hai bàn tay đâm xỉa vào thóc. Lúc đầu thóc cọ vào da thấy đau, nhưng dần dần sự cọ sát không có nghĩa lý gì nữa, và đồng-thời với sự luyện. tập gân tay cũng trở nên ngày một cứng rắc. Khi nào bàn tay đâm suốt được tới đảy thùng thóc, bàn lay đã mạnh lắm rồi. Lúc ấy võ-sinh tập sỉa vào thân cây chuối, sĩa mãi cho tới khi bàn tay đâm thủng qua được cây chuối.
Những võ-sinh chịu khó luyện tập có thề sĩa được thủng cây tre, và hai bàn tay có ngày đi tới sức mạnh cứng, chặt đôi được hòn gạch, sỉa qua được tấm gỗ v.v...
Trang sách 112Luyện tập chân, võ-sinh đá vào cây chuối ; đá mãi cho tới một ngày mỗi chiếc đá làm gầy được một cây chuối. Lúc đó võ-sinh đá vào gỗ, vào tường gạch. Tập cho tới khi nào đá vào đâu cũng không thấy đau mới có kết-quả.
TẬP NHẢY Tập nhảy ngày xưa cũng có mục-đích như tậy nhảy trong các môn thề thao Âu-Mỹ bây giờ, nghĩa là luyện tập đề võ-sinh có thể nhảy được thật cao và thật xa, tuy phương pháp luyện tập có khác.
Vỗ-sinh kiếm một chỗ gò thấp hoặc đào một hố xâu đề lập nhảy cao. Võ-sinh túm hai ống quần lại bỏ đầy cát vào nhảy. Trước nhảy còn nặng sau dần dần quen nhẹ đi. Hỗ đào đầu tiên còn nông rồi ngày càng xâu thêm. Tập với hai ống quần đầy cát, khi đã thấy nhẹ, võ- sinh buộc thêm vào hai chân những vật nặng như chi sắt đề luyện tập.
Khi luyện tập đã thành công, bỏ cát và các vật nặng ra, vỗ-sinh cỏ thề nhảy lên mái nhà, qua những bức tường, hoặc truyền ti mái nhà Lọ sang mái nhà kia một cách nhẹ - nhàng dế dàng.
TẬP QUYỀN-THUẬT Tập quyền-thuật tức là tập những miếng vũ đấm đá, tránh-đỡ khi giao-đấu với một địch-thủ.
Võ-sinh sau khi đã luyện lập thân thề được nhẹ nhàng, gân cốt được dẻo-dang, xương thịt được cứng cáp, thi bắt dầu lập quyền thuật.
Quyền thuật tập theo từng bài võ, từng thế võ.
Phần nhiều các bài quyền thuật của ta dựa theo võ Tâu : Hầu- quyền, Bát-bộ liên-boa-quyền, Mai-hoa quyền v.v... Vũ đặc biệt Việt-Nam cũng có một số bài riêng với các miếng hiềm-bóc riêng cho võ-sinh luyện-tập.
Thoạt đầu võ-sinh học những bài quyền, luyện lập một mình. Khi đã thuộc đủ các thế các miếng của bài quyền, vã-sinh được cùng
Trang sách 113Giảo-sur giao-đấu đề Giáo-sư chỉ dẫn cho cách ứng dụng các miếng vỗ, thế võ đã học, lúc ứng lúc thủ ra sao.
Quyền-thuật biến chuyền then các trận giao-đấu. Võ-sinh phải tùy địch thủ mà ứng-dụng các miếng vò trong các bài.
TẬP KHÍ GIỚI Tập quyên thuật đã tiến bộ tới một mức khá, các võ sinh tập đến khí-giới.
Võ-sinh phải tập đấu côn, đấu roi, lập khiên mộc, tập múa đại.
đao, múa sang, mua kiểm, múa dẫn v.v..
Mỗi môn khí-giới đều có một bài dạy, khi động, khi tĩnh, khi tiến, khi lùi, khi múa, khi nhảy đều có phép cả. Bài võ còn dạy cả những đòn trá-bại để quay lại hại địch thủ như miếng đà-đao, sát-thủ-dẫn, hồi-mã-sang v.v...
Những món khí giới liên đều là do người Tàu truyền sang ta. Trong vũ nghệ Việt Nam la cũng có mấy món khi-giới rièng rất lợi hại, Đó là thiết-lĩnh, bút-chì, bút sắt.
Thiết lĩnh là một khi giới gồm hai thanh gỗ dắn, một thanh mẹ đài và một thanh con ngắn. Hai thanh mẹ con của thiết lĩnh được nối vào nhau bằng thứ giây chắc, thường vẫn dùng tóc đề khỏi bị đứt. Chỗ nối liền hai mẹ con thiết-lĩnh có vòng khuyên sắt. Lúc xử-dụng lùy nơi rộng hẹp, cầm cây mẹ vung đánh bằng cây con hoặc cây con vung đánh bằng cây mẹ, Thiết-lĩnh đánh rất mạnh, các khí giới khác gặp thiết-lĩnh chống trả thật khó vì thiết-lĩnh là một khí-giới mạnh lại có tinh cách mềm nhưng rất lợi-hại.
Muốn phá thiết lĩnh phải dùng giây hoặc cành tre, khiến cho thiết- lỉnh vương vào không vung được nữa.
Bút chì thực ra là chiếc mai hoặc thuồng có buộc vào cuối cản một giây thừng. Khi lâm trận vung ném mai hoặc thuổng ra đề tiện chân, hoặc người, kẻ địch. Phải luyện tập đề khi vung bút chi ra tấn còng lại kéo về được ngay. Võ-sinh điêu luyện có thề phóng liên tiếp ba bốn ngọn bút chì liền.
Trang sách 114Xử dụng bút chì có lợi là lúc phóng ra bút chì là một ngón đòn kió, nhưng lúc thu về, bút chì lại biến thành một khí giới đề phòng dịch.
Bút sắt cũng là một thứ đòn gió để ảm phỏng hại địch trong lúc lâm trận.
Chính bút sắt một ngọn dáo hoặc ngọn mác, mũi sắt cán tre, loại tre nhỏ nhưng thân rất cứng thường gọi là tre gai.
Giữa kbi đôi bên giao chiến hoặc cùng ở thế thủ rinh nhau người xử-dụng bút sắt, uốn cong cán bút, rồi bất thần lựa chiều buông ra văng mạnh đi để ngòi bút tức là ngọn mác hoặc ngọn dáo lao lới kẻ dịch.
Bút sắt lợi-bại như một ám khí, nhưng một kbi đã phóng ra không kéo được trở về như bút chi.
LĂN-KHIÊN Ngoài ba khi-giới trên đặc-biệt Việt-Vam, la xưa còn có lối dùng khiên gọi là lăn-khiên.
Khiên chính là cái mộc dùng đề che tên, đỡ những nhát đâm chém của địch-thú.
Người Việt-Nam đã biến cái khiên thành một món võ rất nguy. hại cho địch là lăn khtên.
Người ta đan những chiếc khiên bằng cật tre rất cứng, đan ngoài lại lót trong để cho tên bắn không thủng, dáo mác đâm không qua và dao chém không đứt.
Loại khiên này đan hình tròn, có chỗ lay cầm bên trong.
Người lăn khiên cầm khiên bên tay trái, còn tay mặt xử-dụng một thanh mã tấu hoặc một thanh gươm bén. Người đó lăn tròn chiếc khiên và ân mình gọn ghẽ đằng sau khiên, tiến tới địch và tấn công địch bằng mã-tấu hoặc gươm, luồn dưới khiên đề phạt chân địch. Địch đâm hay chén đã có khiên đỡ, và đồng thời lùa mã-tấu ra chém địch.
Trang sách 115TẬP BẮN CUNG Người xưa gọi nghề võ là nghề kiếm cung, đã mang danh là võ-sinh phải biết múa kiếm và bắn cung.
Cung uốn bằng tre hoặc gỗ hình bán nguyệt, chằng bằng giây cứng.
Lúc bắn dùng lên lắp vào cung, kéo giây cung cho căng rồi buông ra.
Giây cung theo sức mạnh của cánh cung răn thẳng đấy lên đi.
Tập bắn cung, võ-sinh nhắm vào một đích gọi là hồng-tâm tức là một chấm tròn trên miếng gỗ. Phải bắn sao cho trúng đích. Lúc đầu vỡ. sinh đứng gần đích bắn, rồi dấn dần lùi xa, trước còn đứng dưới đất, sau crỡi trên mình ngựa. Lúc mởi cuõi ngựa, còn đề ngựa đứng mà bắn, rồi dần dần cho ngựa đi, võ-sinh bắn lúc ngựa đang đi. Tập bắn khi ngựa đi chậm, rồi lại lập bắn trong lúc ngựa phi. Những tay xạ-thủ có tài, có thể bắn được cả trong lúc ngựa phi ngược chiều hồng-tâm, ngoái đầu trở lại bắn vẫn trúng đích.
Ngoài cây cung, người xưa còn có cây nỏ, hinh thức cũng như cây cung nhưng có trục ở giữa và lấy nỏ để xử dụng hơn. Lúc bắn, cũng phải giương nỏ lắp tên vào trục, bật lẫy nỏ lên, lẫy nỏ buông giây nỏ ra, giây nỏ đầy tên đi.
BẮN SÚNG Gần đây dưới triều Nguyễn, các võ-sinh khi tập bắn, ngoài cung nỏ, còn tập cả bắn súng, nhưng đây là loại súng hiệp, nghĩa là súng có mồi lửa để thuốc nổ đẩy đạn đi.
Lúc tập bắn cũng nhắm đích, giống như hồng-tâm khi bắn cung.
TẬP ĐÁNH VẬT Đánh vật là một lỗi lập-luyện đặc-biệt để khi gặp địch xông sát bên mình, khí giới không dùng được, dùng những miếng vật quật ngã địch.
Vật là món võ dân quê rất ưa thích. Trong các ngày hội thường có treo giải vật.
Người đô vật phải học những miếng ngáng, miếng đệm, miếng tránh đề có thể vật ngã đối-phương khỏe hơn mình.
Trang sách 116Tất cả mấy món võ trên khi lập đều phải có thầy dạy.
Khi mới bắt đầu tập các võ-sinh phải ăn cháo cho nhẹ người nhất là chảo cua, vừa dễ tiêu lại vừa làm cho sức lực mau bồi.
Để cho gân cốt và các bắp thịt khỏi bị đau trong lúc tập, các võ- sinh xông mình bằng nước lá tre lá bạc-hà hoặc lá lông-não. Các võ- sinh cũng xoa bóp lẫn cho nhau bằng một thứ thuốc riêng có tính-cách hồi-lực.
Trong lúc tập, các võ-sư luôn luôn canh chừng các võ-sinh.
Những lúc đi bài quyền, múa bài kiếm v.v... các võ-sư thường dùng mỗ làm hiệu, võ-sinh nghe theo tiếng mỗ đề tiến lui nhảy múa.
Rủi nếu xảy ra tai-nạn có chảy máu, gấy xương, các võ-sư đã có nhiều môn thuốc chữa rất hiệu-nghiệm, có thế hiệu-nghiệm ngay tại chỗ sau khi xoa bóp.
VÕ KINH Luyện tập vỡ-nghệ chỉ là một phần trong việc học lập của vũ-sinh.
Muốn trở nên một tướng tài, biết dùng binh, biết bổ trận các võ- sinh phải học sách vố-kinh.
Sách võ-kinh là sách dạy phép làm tướng cầm quân, biết lúc nào ra quân, lúc nào lui binh v.v..
Trong vò-kinh có dạy cách xem giờ, kén ngày, coi thiên-văn, xét địa-lý, lính nhâm-độn v.v... đề khi hành quân áp dụng sao cho được thắng lợi.
Một vị tướng giỏi phải văn vỡ toàn tài, văn đây là văn về phương. diện dùng quân, nghĩa là phải rõ đủ Lục thao, Tam-lược, phải xem đủ các sách binh-pháp, nhất là những sách binh-pháp của Tôn-Vô của Ngô-Khởi, của Khổng-Minh và của các danh tướng khác thời xira, trong số đó cả Binh-thư yếu-lược của Hưng-Đạo-Vương.
Ngoài ra lại phải biết cách luận bàn về các vũ-khi, nói về lợi-hại của mỗi thí.
Trang sách 117CÁC KỲ THI VÕ Có các kỷ thi về vản, cũng có các ký thi vồ. Các ký thi văn kén văn thần ; các kỳ thi võ kén vô-tướng cho triều-đình.
Mỗi thời, các kỳ thi võ cũng có những khác biệt nhiều ít như các khoa thi văn.
Về triều Nguyễn, khoa thi võ đầu tiên mở vào năm Minh-Mệnh thứ 17. Có ba trường thi : Thừa Thiên, Hà-Nội và Thanh-Hóa.
Đến nam Thiệu-Trị thứ 5, nhà vua ấn định những năm thi vỗ cho các khoa thi Hương và thi Hội. Võ Hương-thí thi vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, còn Võ-Hội-thí mở vào các năm Thin, Tuất, Sửu, Mùi. Văn thi xong thì đến võ. Thi Hội trúng, các thí sinh cũng vào thi Đinh như thi văn.
THỂ-LỆ THI VÔ Thi võ, thi Hương cũng như thi Hội, có ba kỳ : Xách tạ, Mùa côn, sang và Bắn súng hiệp.
THI HƯƠNG : Thi bương các thí-sinh phải trải qua ba ký thử sức và phải đạt tới mức tối thiểu sau.
XÁCH TẠ : Quả tạ đúc bằng chi nặng một lạ hai ta, mỗi tạ ta ăn 60 kilos ngày nay.
Các thí-sinh phải xách hoặc hai tay hai quả và phải đi một quãng it nhất là 8 trượng trở ra, hoặc chỉ xách một quả nhưng đi ít nhất 16 trượng trở ra mới được kồ là thứ hạng, Đi dưới 8 trượng và 16 trượng tùy theo xách hai quả hay một quả tạ, bị xếp vào liệt hạng. Mỗi trượng in 4 thước ngày nay.
Thí-sinh nào đi được ít nhất 12 trượng và 21 trượng trở ra tùy theo xách hai hay một quả lạ được kể là bình hạng.
Trang sách 118Nếu đi được từ 16 và 32 trượng trở ra, tùy theo số tạ xách được kế là ưu hạng.
MÚA CÔN SANG Dưới triều Minh Mệnh ký này gồm múa còn đánh quyền và đấu gươm mộc ; đấu gươm mộc đòi bèn dúng môn vũ lão khiên đấu với nhau.
Đến đời Thiệu-Trị, việc thi cải-cách lại và bắt các vö-thi-sinh phải múa côn và infa sang.
MÚA CÔN : Cây côn nặng nửa tạ ta. Võ-sinh cầm vào khoảng một phần ba, vừa đi vừa múa, nhây nhót đâm đánh theo những thế võ thuộc về cách xử dụng còn, né tránh tùy lúc, đỡ gạt tùy hồi.
Vừa múa vừa đi được ngoài 60 trượng là ưu hạng, ngoài 50 trượng là bình hạng, ngoài 40 trượng là thứ hạng. Đi không được 40 trượng bị loại, là liệt hạng.
MÚA SANG : Ngọn sang chính là ngọn dáo dài 7 thước 7 lấc ta.
Lúc xử dụng ngọn sang, võ-sinh cầm vào giữa khúc để mủa theo những hài rổ về sang, khi nhảy nhỏt, khi gạt ngang đỡ dọc.. Trước mặt võ- sinh, cách xa độ 3 trượng có dựng một người bồ nhin. Vỗ-sinh sau khi múa may obảy nhỏt độ 3, 4 bước phải nhắm người bồ nhìn cho kỹ, rồi chạy thẳng tới đâm vào giữa rốn người này.
Đâm trúng, mũi sang xuyên qua người bồ-nhìn là ưu hạng.
Đâm trúng, mũi sang không qua người bồ-nhìn là bình hạng.
Đâm trúng nhưng chỉ sượt qua là thứ hạng.
Đâm không trúng là liệt họng, bị loại.
BẮN SÚNG HIỆP Một chiếc ụ được đắp nên, và trước chiếc ụ! có bồng lâm làm đích, chung quang có vành tròn.
Trang sách 119Thi-sinh đứng xa chỗ ụ 20 trượng 5 thước ta và được bắn 6 phát súng.
Được kê là ưu họng nếu có 2 phát trúng đính, một phát trúng vành tròn, 3 phát trúng ụ đất.
Được kề là bình hạng nếu được một phát trúng đích, một phát trúng vành tròn, 4 phát trúng v đất.
Được kề là thứ hạng nếu được 2 phát trúng vành tròn, 4 phát trúng u đất.
Bắn 6 phát đều không trúng đích hoặc trúng vành tròn, hoặc nếu chỉ trúng được một phát, bị loại và xếp vào liệt họng.
Qua ba kỳ thử sức thử tài trên, ai có ưu, bình được đậu võ cử-nhân, còn chỉ có toàn thứ thi đậu võ tú-tài.
THI PHÚC-HẠCH Số cử nhân tú-tài đã lấy đỗ xong, các vỏ-sinh phải qua ký thi phúc- hạch, đề phân hạng trên dưới. 'Trong kỳ phúc-hạch, các võ-thi-sinh phải làm bài trả lời mấy câu hỏi về võ-kinh, điềm số những câu hỏi này sẽ được căn cứ đề xếp hạng các vỗ-tân-khoa.
THI HỘI Các võ-sinh trúng tuyễn võ-cử nhân kỷ thi Hương được vào thi Hội.
Phép thi Hội cũng như phép thi Hương, duy trong việc thi tài, mỗi kỳ đều phải nặng hơn thi Hương.
Hai quả tạ của thi Hương nặng mỗi quả 60 cân ta, những quả tạ của thi Hội sẽ nặng bon 5 cân, nghĩa là 6ỡ cân.
Thi Hương phải đi 16 trượng, thi Hội đi 20 trượng.
Ngọn côn và ngọn sang thi Hội cũng nặng hơn, riêng về múa sang, người bò nhìn cũng cách xa vũ.sinh hơn.
Trang sách 120Khi bắn súng hiệp, võ-sinh cũng phải đứng xa hơn khi bắn lúc thi Hương.
Các điềm cho theo ưu, binh, thứ và liệt cũng như thi Hương.
Các thí sinh thi trúng đủ ba kỳ cho vào trúng-cách và được dụ thi Đình.
THI ĐÌNH Những người trúng cách thi Hội được vào thi Đình, luy vậy thi Đinh không bắt buộc tất cả những người trúng-cách phải thi. Trong kỷ thi Đình lấy vẫn tự làm đầu, ai không biết chữ xin miễn cũng được.
Thi Đình gồm một vài bài hỏi về võ kinh, một vài điều yến lược về cách dùng binh của các danh-tướng triều Nguyễn và một vài câu hỏi về thời-sự.
Hội đồng Giám khảo dưới quyền chủtọa của Hoàng-đế, xét văn-lỷ hơn kém định phân số. Ai dược đủ phân số đỗ võ tiến sĩ, được ban mữ áo cờ biển vinh-quỹ cũng nhi vàn-tiến-sĩ.
Những thí-sinh không có phân số nào, hoặc trúng Hội thí mà không vào thi Đình được lấy đò rửn phú-bẳng.
Những vỗ-tiến-sĩ, gọi là tạo-sĩ, vü phó bảng, võ-cü nhân sẽ được Triều-đình lựa chỗ bở dụng cũng như các vàn-lân-khoa, quyền lợi của các ông võ khoa về làng xã tại nơi đình trung cũng được tôn trọng như các ông văn khoa vậy.
NHỮNG CUỘC THI-VÜ Từ trên, mới nói tới các khoa thi vô thường lệ của Triều-đình mở.
Ngoài những khoa thi này xưa kia còn có những cuộc thí-vồ, khi triều.
đình cần kén gấp những bậc anh hùng, những tay võ nghệ để giúp nước.
Các cuộc thí-vũ có khi tổ-chức lại Triều đinh, có khi tổ-chức tại các tỉnh.
Trang sách 121Người dự các cuộc thi-vỡ này có thể là các võ-quan của Triều-đình, có thể là các võ-sinh chưa có chức tước gi. Mục đích của các cuộc thí- vỗ này là đề phân sức lực hơn kém cũng như hơn kém về tài nghệ kiếm. cung.
Trong lịch sử, ta được đọc truyện Phạm Ngũ Lão thí-vỡ đời nhà Trần. Khi Phạm Ngũ-Lão được Hưng-Đạo-Viơng trọng dụng, các tướng có ý không phục, lên Ngũ-Lão xin mở một cuộc thí-vổ để tỏ lài sức của minh.
Trong các cuộc thí-vồ thường có các môn xách nặng, giao đấu bằng khí giới và bắn cung.
Qua các sách truyện, nhất là truyện Tàu, ta thấy mỗi khi Triều đinh muốn kén tướng cầm quân, hoặc kén tướng tiên-phong đều có thí-vỡ đễ các tay võ-nghệ lý thí với nhau.
Lối tý-thí này thật hết sức dân chủ, ai có tài thi được trọng-dụng khòng kể chức trên phẩm đưới, và những kẻ bị thua trong các cuộc tỷ- thí thường bao giờ cũng phục kẻ đã thắng minh.
Ván vù bao giò cũng phải đi đôi. Văn dùng đề trị nước an thiên-họ, vò dùng đề dẹp loạn giữ an-ninh.
Nước ta trọng văn mà cũng quý võ, có thi văn tất phải có thi võ đề kén tướng lấy anh-hùng vũ nghệ tài ba, mỗi khi xuất trận dùng qua kiếm dẹp giặc.
Nhân loại ngày một tiến, nước Việt-Nam ta cũng tiển theo, và trong quân hực ngày nay, lài của Tiết-nhân-Quỷ, Triệu tử-Long cũng chỉ dùng đến một phần nào, chứ trước súng dạn tối tân, trước hỏa tiền, trớc sự tàn-phá của bom nguyên tử, đao kiếm thương cung đâu còn có nghĩa lý
Trang sách 122Tuy nhiên, những môn võ nghệ ta, nhiều môn vẫn được duy trì như những nghệ thuật và người biết nghệ dù sao cũng có lúc giúp được cho minh và cho người. Cùng với nhiều môn vỗ của ta, ngày nay, ta còn tập thêm nhiều môn võ mới như nhu-đạo, như quyền Anh v. v... Mặc các khí giới nguy-biềm cứ được sáng-chế ra, những môn võ đề tự vệ và đôi khi đề bảo-vệ cho người vẫn được duy-trì và có khi còn phát-triển hơn nữa.