NuÓI CONPhần 4 · trang 35–51
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 35NuÓI CON Đẻ con là một điều mừng, nhưng có sinh phải có dưỡng, hữu sinh vô dưỡng lức là điều bất-hạnh không những cho em bé sơ-sinh, còn cả cho người mẹ và gia-đinh nhà chồng.
Người ta quy sự hữu sinh vô dưỡng vào tà-ma, vào sự thiếu âm- đức của nhà chồng hoặc sự thất đức của người vợ.
Ta có câu phúc đức lại mẫu, người mẹ phúc đức con cái được hưởng, người mẹ thất đức con cái phải chịu. Bởi vậy, xua nay trong việc hữu sinh vô dưỡng, tuy có thể là lỗi lại chồng, nhưng người vợ vẫn không khỏi có trách-nhiệm.
Có đẻ phải có nuôi mới gọi là hợp tình hợp cảnh.
LÚC SƠ-SINH Phương ngôn có câu : nâng như vâng trứng, bứng như hứng hoa, thật đúng với ý nghĩa khi trông nom nuôi nắng một em bé sơ-sinh.
Em bé yếu đuối mỏng mảnh lắm, một luồng gió, một tiếng động mạnh cũng làm cho em giật minh và khóc, và có thề vì đó sinh sài sinh đęn.
Nuôi trẻ sơ-sinh rất vất vả và phải hết sức cần-thận. Tránh giật mình, lại còn phải tránh tà ma, tránh những người dữ vía. Ta tin rằng một người dữ vía có thể khiến cho em bé sơ-sinh thất-kinh phát khóc, khóc không ai dỗ được, chỉ khi nào đốt vía em bé mới nín.
Em bé thường được giữ gìn trong một phòng kín, lránh gió và xa mọi tiếng động. Những người vía dữ không được vào buồng em.
Trong mấy ngày đầu, người mẹ chưa có sữa, phải nhờ hàng xóm ai tốt sửa cho bú chực, hoặc những gia-đình khá-giả thì mượn vú nuôi,
Trang sách 36Hai ba ngày sau kbi sinh, vú người mẹ mới bắt đầu căng sữa. Người mẹ gọi sữa về bằng cách dùng lá mít rửa vú, ăn cháo thông thảo, ngỏ sen nấu với chân giò.
Ngày nay, trong thời kỳ chờ sữa, người ta nuôi em bé bằng sữa bò, và theo phép vệ-sinh mới, trong bai mươi bốn giò đầu, em bé không được ăn gì, chỉ có thể thỉnh-thoảng được nhỏ vào miệng vài giọt nước đường, chò cho dãi-dớt chảy hết mới bắt đầu được án.
ĐẦY CỮ Một cũ là một thời-gian bảy ngày hoặc chín ngày.
Em bé ra đời sau thời-gian đó gọi là đầy cứ. Cũ của em trai là bảy ngày, của em gái là chín ngày. Phân-biệt như vậy vì tục ta tin rằng con người có hồn và vía. Hồn thì nam cũng như nữ đều có ba hồn, còn vía thì con trai khỏe-mạnh gan-dạ hơn có bảy vía, coo gái yếu-đuối nhu-ml có chín vía.
Đầy cũ, nghĩa đen là đầy thời-gian tượng trưng cho số via của em.
Ta có lệ cúng đầy cứ, còn gọi là cúng mụ.
Theo sự tin lưởng, muốn thành hình con người phải do các bà mụ nặn. Tất cả có mười hai bà mụ, mỗi bà phụ trách nặn một số bộ phận của đứa lrẻ.
Khi củng mụ, đồ lễ phải sửa-soạn cho đủ mười hai bà, mỗi vật cúng đều phải là con số mười hai : mười hai đôi hài, mười hai cải mũ, mười bai bộ quần áo, mười hai trăm vàng, một đĩa có bây mười hai trái cây, mười hai chiếc bánh, mười hai con ốc, mười hai miếng trầu v.v... cùng với cúng mụ, có củng gia-tiên và thổ-công.
Trong những nhà gia đinh khá giả, khi cúng đầy cữ cho em bé, có mời bạn-bè họ-hàng khách-khứa.
Những khách khứa bà con tới ăn đầy cữ đều có quá cho sản phụ hoặc cho em bé, thường thường cho sản phụ là thức ăn, nhất là nước mắm ngon để sản phụ ăn kiêng, còn quả cho em bé là vòng tay, vòng chân, quần, áo v.v...
Trang sách 37Tục cúng đầy cữ ngày nay còn tồn-tại rất It, chỉ những gia-đinh hiếm hoi mới làm lễ cúng để cho đứa trẻ đỡ ốm sài, hoặc người ta chỉ cúng cho con đầu lòng, vì con đầu cháu sớm, người ta muốn theo đủ mọi tục-lệ cổ truyền. Tại thành thị rất ít người còn giữ tục này.
CÁO TIỀN TỔ VÀ THẤN-LINH Tại nhiều nơi có tục, mỗi khi sinh con, nhất là con trai thờng sửa lễ đề cáo với gia-tiên và thổ-công. Sinh con là một tin mừng, cần trình tổ tiền rõ huyết thống đã thêm trồi thêm lộc đề tổ-tiên mừng và phù-hộ cho. Đã cáo với gia-tiên, thi cũng củng cả thổ công đề xin ngài che-chở cho đửa nhỏ, ngài là đệ nhất gia chi chủ.
Có nhiều nhà, ngoài việc cúng gia-tiên và thổ-công, người ta lại sửa lễ ra củng tại đinh, như đề trình với đức Thành-hoàng xin ngài ban phúc cho đứa nhỏ. Lễ vật thường đơn sơ chỉ gồm có con gà, đĩa xôi, trầu, cau, rượu, vàng, bương, nhưng lòng người ta thật là thành-khần.
Thên một xuất đinh, nếu là con trai, hoặc thêm một nhành hoa, nếu là con gái, là một việc đáng mừng cho bất cứ gia-đinh nào. Trước sự vui mừng này, cầu xin che-chở của thế-giới vô-hinh cho em nhỏ chỉ là một điều rất thường !
BẢO-VỆ HÀI-NHI Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bề, câu ca-dao này đã nói lên một phần nào sự trông nom nuôi-nấng con cái của cha mẹ.
Tiếng rằng sinh tử hữu mệnh, sống chết có số, nhưng trong sự nuôi con, cha mẹ đã phải chịu bao sự vất vả đắng cay, đề luôn luôn, trong trường hợp quả thật là số mệnh chi phối con người ta, chống với số mệnh cố bảo-vệ lấy con minh, nhất là đề con mình khỏi vi mình mà yều-tử.
Trong thời-kỳ ấu-trĩ, có nhiều em nhỏ rất nhiều bệnh-tật, và chống lại những bệnh-tật đó, cha mẹ đã mất bao công-trình, phần thì lo thuốc men, phần thì lo những phương - thuật, cố làm sao nhân định thắng thiên, nuôi cho được đứa con.
Trang sách 38Thời-kỳ trứng-nước của em nhỏ là thời-kỳ lo lắng nhiều nhất của cha mẹ.
Có nhiều đứa trẻ đẻ phải glờ quan-sát hoặc giờ kim-xà thiết-lòa khó nuôi, cha mẹ phải củng đối giờ.
Nhà nào hiếm muộn, sợ khó nuôi con, làm lề bán-khoán, nghĩa bán con cho Thần Phật, nhờ Thần Phật phù hộ cho đứa trẻ.
Mỗi khi rang con đi đâu, sợ là-ma ám-ảnh, người ta bôi nhọ chảo lên trán đứa trẻ, hoặc cầm con dao, cái kéo hay chiếc đũa bảo-vệ đứa trẻ.
Có nhiều đứa trẻ cứ đêm đêm là khóc, có đứa khóc suốt ba tháng mười ngày, la gọi là khóc dạ đề. Muốn chữa cho con khỏi khóc, phải mượn một người khác họ lấy chiếc cọc chuồng lựn ném xuống gầm giường.
Gặp người lạ dữ vía, dù ở ngoài cữ, đứa trẻ vấn khóc, người ta cũng đốt vía khi người lạ đi khỏi hoặc khi người lạ còn có mặt thì người la lấy bó lửa ném vào trước mặt người nây cho đứa trẻ thôi khóc.
Có khi đứa trẻ ngủ li không dậy, người ta xin vài cái tóc mai của người khác họ phảy vào miệng đứa trẻ cho nó thức tỉnh.
Đứa trẻ bay trớ, người ta lấy nước lòng đò cho uống.
Đứa trẻ nấc, lấy ngọn lá trầu không dán vào trán cho khỏi.
Con đau bụng khóc lắm, phải mượn người nhỏ bão trên đầu mẹ, đặt con nằm ép vào bụng mẹ.
Con lồi rốn, mượn kẻ ăn mày cảm gậy chọc vào rốn.
Con ngứa lịt mình mấy phải cúng ma lịt.
Con lên đậu, ngoài cửa ngõ treo một bó vàng và trồng một cây lá ráy vào một chiếc nồi đất, hoặc cài một cành kinh-giới đề giữa mệnh cho con.
Con hắt-hơi thì nói « sống lâu, trám tuổi » đề cầu cho con thọ.
Con hay ốm đau luôn, nhờ người bế con chui qua chiếc săng trong một đám tang người chết già đề cho con khỏi bệnh, sống lâu.
Trang sách 39Con mắc sài mòn, mang con ra kéo lê chung-quanh một mả mới để bỏ cái sài lại nơi mả này.
Các phương-thuật trên chỉ cốt bảo-vệ cho đửa trẻ về phương-diện vật-chất, nhưng cha mẹ lại thường bảo vệ cả tinh-nết của con nữa Bởi vậy khi đưa con cho người khác bễ, người la kiêng không đưa qua cửa sổ, c lớn lên dứa trẻ sẽ ăn cắp ăn trộm, trèo lưởng, vượt cửa, cũng như lúc cho con bú chực thường kén người tốt tính đề con khỏi chịu ảnh-hưởng lính xấu của người cho bú.
LỄ BÁN KHOÁN Trong các phương thuật đề bảo-vệ hài-nhi, có tục bán khoán, nghĩa là bán con cho Thần Phật, thường được các nhà hiếm muộn áp-dụng, kể cả ngay thời bây giờ nữa, nhất là khi đứa trẻ sinh vào những giờ khó nuôi.
Con người trần có thể bị tà-na tbeo đõi ảm ảnh, nhưng con Thần, Phật tà-ma phải kiêng-sợ.
Khi đã bản khoán rồi thì đứa trẻ là con nuôi vị Thần hoặc Phật lại các điện chùa mà cha mẹ dứa trẻ đem bản khoán. Tô khoản có mang kiềm ấn của Thần hoặc Phật. Kế từ ngày bán khoán đứa trẻ sẽ theo họ Thần, Phật. Bán cho cửa đền thỏ đức Hưng-Hạo Vương đứa trẻ mang họ Trần, bán cho chùa, đứa trẻ lấy họ Màu.
Việc báo khoán có những lễ-nghi riêng.
Trước hết, muốn bản khoán phải đợi cho đứa trẻ sinh được ba tháng mười ngày, nghĩa là phải chờ đứa trẻ đã sạch hết những ô-uế của lúc ra đời và người mẹ cũng đã bết luần chay gát đẻ, không còn những dơ-dáy của buổi lâm-bồn nửa.
Khi đứa trẻ đã qua ba tháng mười ngày rồi, phải chọn một ngày tốt, mang đồ lễ tới đền chùa. Ở đây sẵn có thày cúng đề nhờ viết một lá sở xin bán khoán đứa bé và một tờ khoán thành hai bản. Tờ khoán này cũng như tờ văn tự bán con cho Thần, Phật, có dấu của đền chùa.
Trang sách 40Rồi cha mẹ đứa bé phải lễ trước bàn thờ, trong khi thày cúng đọc sở.
Sở đọc xong. được đem hóa. Một bản khoán lưu ở đền chùa, còn một bản khoán cha mẹ đứa bé mang về. Kê từ ngày bán khoán, tuy trên thực-lế và giấy khai-sinh đứa trẻ vẫn mang họ của cha, nhưng đối với thế-giới thần linh, đứa trẻ mang họ của Thần, Phật, và trong mọi sự lễ củng khi khấn cho đứa trẻ phải khấn theo họ của Thần, Phật.
Việc bản khoán có giá trị, trên nguyên lắc, suốt đời, nhưng khi đứa trẻ quá mười sáu tuổi, bố mẹ có thễ xin chuộc khoán được.
BỎ CHỢ, BỎ ĐƯỜNG Bỏ chợ bỏ đường cũng là một phương thuật để bảo-vệ hài-nhỉ chống ma quý.
Có những đứa trẻ luôn luôn bị ma quỷ quấy-nhiếu, hết đẹn đến sài. hết đau đến yếu, càng cúng lễ đứa trẻ càng đau ốm hơn. Người ta bảo rằng đó là ma quỳ thấy đứa trẻ được bố mẹ cưng chiều thì phả quấy đề được cúng lễ. Người ta không tiếc gi sự cúng lễ, nhưng đối với ma quỷ cũng như đối với kẻ liều-nhân càng cúng lễ chúng càng quấy đảo nhiều hơn.
Muốn cho chúng khỏi dõi theo ám-ảnh, phải tỏ cho chúng biết đưa trẻ không được quý-báu như chúng tưởng-tượng.
Người ta mang đứa trẻ ra bỏ ở ngoài chợ hoặc ở ngã ba đường. Ma quỷ thấy đứa trẻ bị bỏ rơi sẽ thôi không theo dõi nữa, chúng cho rằng đứa trẻ không có người thương ai cúng lễ chúng. về phần đứa trẻ bị bố mẹ đem bỏ ở chợ hoặc ở ngã ba đường sẽ có người, người này đã thỏa thuận trước với bố mẹ đứa trẻ, đến nhặt bế về.
Một vài ngày sau, có khi ngay một vài giò sau, bố mẹ đưa trẻ đến xin lại và cám ơa người mang nó về.
Trang sách 41CHO: LÀM CON NUÔI Đây cũng là một phương-thuật để bảo-vệ cho hài-nhi.
Có nhiều đứa trẻ sinh ra gặp tuổi xung-khắc với bố mẹ, sống với bố mẹ thường hay quật quẹo, người ta tìm một người hợp tuổi với đứa bé đề cho làm con nuôi. Thường người ta tìm một gia-đình đông con, vì sự thật, việc cho làm con nuôi này chỉ là một việc tượng-trưng, chính ra cha mẹ đẻ đứa trẻ chịu bết mọi sở phí về việc nuôi nấng, có khi mướn riêng một người vú cho đứa trẻ.
Người la kiếm người hợp tuổi với đứa bé, đề đứa bé khỏi quặt-quẹo, kén gia-đinh đông con, đề đứa bé dựa vào những đứa con kia mau lớn.
Tục cho làm con nuôi ngày nay vẫn còn một số người theo và cả tục bỏ chợ bỏ đường nói trên cũng vẫn còn, và thường diễn ra ở ngay giữa nơi đô-thị.
Bảo rằng đây là một điều mê-tín cũng đúng, nhưng vì lòng thương con, muốn cho con không đau ốm luôn luôn khỏe-mạnh, người ta có nề. hà gì những điều mê-tín nhỏ vô hại.
HỚT VÍA Như trên đã nói, coo người ta có hồn và vía.
Tục ta tin rằng, những đứa trẻ bất thần bị ngã, vía có thể xuất ra khỏi thề-xác, đứa trẻ có lhế trở nên ngở-ngần và lúc ngủ thường hay giật-mình. Phải bờt vía của đứa trẻ đề trả về cho nó.
Muốn hớt vía người ta dùng một quả trứng luộc, cắt làm bảy hoặc chín miếng tùy theo con trai hay con gái rồi nắm bảy hay chín nắm cơm nho nhỏ, mang tới chỗ đứa bé bị ngã, hú vía nó, trao cơm và trứng bảy hoặc chín lượt. Sau đó mang cơm và trứng đó về cho đứa trẻ án.
Đứa trẻ nhỏ quá không ăn được, bố mẹ sẽ nhai mớm cho nó.
Đửa trẻ ăn cơm và trứng đó sẽ lấy lại được vía đã xuất ra và sẽ trở lại bình thường.
Trang sách 42TÂN HƯƠNG NƯỚC THẢI Nhiều khi đứa trẻ bị ốm, bố mẹ sau khi đã chạy chữa thuốc men không khỏi thì cho là đứa trẻ bị thần thánh quở phạt hoặc là ma åm- ảnh. Như vậy không phải là bệnh trần, thuốc men khòng thể chữa được.
Phải cầu củng. Phải xem bói xem loán để biết đứa trẻ đã bị vị thần thánh nào quở phạt vi phạm vào đền miếu hay ma quý nào theo ảm.
Quẻ bói đã cho biết tại sao đứa trẻ đau ốm rồi, bố mẹ phải đi củng ở các cửa đền cửa điện để tạ lội cho đứa trẻ, hoặc xin bùa phép trừ là ma.
Cúng vải xong, người ta lấy làn hương hòa với nước thải, nghĩa là nước lạnh đã dùng đề cúng cho đứa trẻ uống.
Người ta cũng lại xin bùa dấu tại các đền điện mang về cho đứa trẻ đeo. Có bùa đeo, tà ma trông thấy sẽ phải lánh xa. •Cũng có nhiều trường hợp đứa trẻ bị nóng sốt, cha mẹ chúng lấy trầu cau đặt lên bàn thờ lỗ liên, đốt hương khấn vái đề xin tổ tiên phủ hộ cho đứa nhỏ. Rồi luần bương tàn, bố mẹ lại lấy tàn hương nước thải cho con uống.
ÁO DẤU Áo dấu là thứ áo may bằng vải có in dấu của các cửa đền, cửa điện, cửa chừa.
Hàng năm trong những ngày hội chùa Hương, hội phủ Giày, hội chùa Thầy, hội đền đức Hưng-Đạo Vưrơng cùng nhiều chùa khác, những gia- đình có con nhỏ, đi chảy hội mang theo vải tới đền chùa làm lễ xin dấu đóng vào vải, mang về may áo cho con. Họ tin rằng, tà ma thấy trẻ mặc áo dấu, sợ uy Thần, Phật, thường lánh xa đửa trẻ, không dám theo dõi quấy phá chúng nữa.
Tại các đình đền có tiếng, trong những ngày hội, có người mang vải lụa tới xin dấu đóng sẵn vào để bán cho các thiện-nam tín-nũ tới mua dùng may áo cho các con.
Trang sách 43Vải đóng dấu này chỉ dùng may áo chứ không may quần, vì dấu của Thần Phật là trọng, may quần đứa trẻ mặc lê-la ô-uế mang tội. Khi giặt áo dấu, người la cũng giặt riêng chứ không giặt lẫn với quần, nhứt là quần của người lớn.
THỜ CÚNG THẦN SAO Có những trường hợp cả mấy đứa con của một gia-đình luôn luôn đau ốm quặt-quẹo. Thuốc thang cúng vái nhiều vẫn không khỏi. Sau xem số mới biết lại cung lử của bố mẹ có các sao dữ ảnh hưởng tới sức khỏe của con cái, như sao Bạch Hổ. Muốn cho con cái được bình-yên khỏe-mạnh, cha mẹ phải thờ cúng các vị thần sao, nhất là thần Bạch-Hồ khi lá số của bố mẹ có sao này trong cung Tử.
ĐẦY THÁNG Cha mẹ nuôi con, mong con khôn lớn từng ngày lừng tháng. Kề tù ngày sinh, đầy cũ thì cúng đầy cữ, lới khi con được đầy tháng, lại có cúng đầy tháng. Qua một cũ, qua một tháng là qua một giai đoạn trong đời người.
Cúng đầy tháng, người ta cũng cúng mụ như khi đầy cữ, đồ lễ cũng tương-tự như đồ lễ cúng đầy cữ.
Cũng có củng Thở-công và gia-tiên.
Những gia-đinh khá-giả lại có mời bạn-bè bà con tới ăn cỗ, như đề mừng cho đứa trẻ đã qua được tháng đầu. Lần này khách khứa tới ăn cỗ chỉ có quà mừng cho đứa bé, không có quà cho người mẹ như khi đầy cũ. Sau một tháng lâm-bòn, sức khỏe của người mẹ đã trở lại bình- thường, không cần kiêng-khem nữa.
ĐẦY NĂM Khi đứa trẻ được đầy năm, lại có cúng đầy năm.
Đứa trẻ đầy năm gọi là đầy tuôt tôi, và lễ cúng đầy năm gọi là cúng đầy tưổi tôi. Cũng gọi là lễ thôt nûi. Thôi nôi tức là từ bỏ cái nôi. Từ bé
Trang sách 44c ho đến lúc đầy nám, đứa trẻ được đặt trong nôi, nhưng khi đầy năm, đứa trẻ đã khá lớn, bố mẹ chuyền chúng sang nằm giường ; nhà giàu s ắm giường nhi-đồng cho con, nhả nghèo, con nằm ngay giường mẹ.
Lễ thôi-nôi rất được chú-trọng.
N goài việc cúng lễ, trong lễ này, ta còn có lục thử đứa trẻ.
Hôm ấy đửa trẻ được lắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, rồi con trai thì bày đồ cung lên bút giấy, con gái thì bày đỏ kim chỉ dao kéo.
Ngoài ra có bày cả những đồ chơi. Sau lễ cúng, đặt đứa trẻ ở trước mọi thứ này để xem đứa trẻ khôn ngoan ngu trí ra sao. Người tàu gọi tục này là Thí nhi, nghĩa là thử trẻ.
Đứa trẻ được đặt trước mọi đồ vật trên, do bản-tính của con người sẽ lấy một đồ vật, có khi nó lựa chọn, có khi tự-nhiên nó nhặt lấy.
Người ta cho rằng nếu đứa con trai chọn kiếm cung hay bút giấy sau này nổ sẽ theo đường ván hoặc nghệ võ, trái lại nếu nó lấy một đồ dùng gì khác thuộc một nghề nào, sau này nó sẽ trở thành người thợ trong nghề đó.
Còn con gái, nếu chọn kim chỉ, sau này sẽ có tài nội trợ, nếu chọn thúng mủng sẽ đi buôn đi bán v.v ..
Lễ đầy tuổi tôi của đứa trẻ rất quan-trọng. Nó đánh dấu một giai- đoạn của đời người.
Đứa trẻ đã bắt đầu lớn, và kề lừ ngày đầy năm, đứa trẻ cũng bơt bệnh tật nhiều.
Trong buổi cúng đầy năm, nhiều nhà làm cỗ-bàn rất linh-đình và mời rất đông khách-khứa, đông hơn ngày cúng đầy cũ và ngày đầy tháng.
Các khách khứa nhân dịp này, lễ tất-nhiên là có đồ mừng cho đứa trẻ, nhưng cũng có cả đồ mừng cho cha mẹ nữa, nhất khi đứa trẻ lại là con trai. Các tay văn tựị nhân dịp này thường có thơ mừng.
Tục ăn đầy năm cũng như ăn đầy tháng của đứa trẻ hiện còn tồn tại, với gần đủ các lễ nghi xưa tại hầu khắp các nơi đất Việt tự do.
Trang sách 45Ăn đầy tháng cho con tức là ăn mừng con đã qua một đoạn của thời kỳ trứng nước, còn ăn đầy năm tức là ăn sinh nhật lần thứ nhất của con vậy.
ĐẶT TÊN Ngày xưa nước ta không có hộ-tịch, đứa trẻ sinh ra không phải khai. sinh ngay. Ta cho rằng vấn đề hộ-lịch là vấn đề riêng của từng cá-nhân và chỉ liên-quan lới cá nhân và gia đinh đương sự.
Bởi vậy khi đứa trẻ mới sinh ra, người ta có lệ quen gọi nó là thằng cu, cái đĩ, thằng tỷ, con đỏ v.T... tùy theo con trai hay con gái.
Cho tới lớn, nhiều khi lấy vợ lấy chồng, con cái mới bắt đầu được cha mẹ chính thức đặt lên cho, và khi đã được đặt tên rồi, tên vấn có thể thay đổi được nếu vì trùog danh hoặc phạm phải lên kiêng, hoặc vì cái lên củ mang lại những điều không may cho gia-đình hoặc cho bản- thâo đứa trẻ.
Cụ tam-oguyên Yên-Đổ, trước khi lấy tên là Nguyễn-Khuyến đã mang tên là Nguyễn văn-Thắng, nhưng sau vì trượt khoa thi Hội năm Ất-Sửu, nên cụ mới đổi tên. Sau khi đổi tên, cụ đã đỗ Tam-Nguyên năm Tân-Mùi.
Sự chọn tên đặt cho con cải, người Việt xưa rất cần-trọng. Chẳng thà không đặt tên, cứ gọi con bằng một tên mách-qué, chứ đã đặt tên, cái tên ít ra phải nói lên được cái sở-nguyện của cha mẹ mong cho con, hoặc như trường-hợp cụ Tam-Nguyên nói trên, cái sở-nguyện của chính người tự đặt tên lấy.
Truyện ông Ngô-thời-Sĩ đặt tên cho ông Ngô-thời-Nhiệm là một thí dụ.
Khi ông Nhiệm lên sáu tuổi, ông Ngô-thời-Sĩ mới hỏi ý ông muốn lấy tên gì.
Ông Nhiệm đã thưa :
- Thưa cha, con xin phép cha cho con ghép vào tên huỷ của cha (chữ ST #‡ ), một chấm phảy đề làm tên con : chữ Nhiệm 1#, nhiệm là
Trang sách 46gành vác, ý cậu bé muốn mai sau gánh-vác một phần tránh-nhiệm của nước nhà.
Lớn lên, ông Ngô-thời-Nhiệm đã không hỗ với tên Nhiệm của minh.
Tôi xin đan cử thêm một thí dụ nữa : trường hợp cụ thân sinh ông Cac-bá-Quát đặt lên cho hai con là Bá-Đạt, và Bá-Quát.
Đời nhà Chu có tám vị biền sĩ là Bá-Quát, Bá-Đạt, Trọng-Đột, Trọng- Hốt, Thúc-Dạ, Thúc-Hạ, Quý-Quý và Quý-Đa.
Đặt tên cho hai con là Bá-Đạt và Bá-Quát, cụ thân sinh ra các ông đã muốn cho các con sau trở nên những bậc hiền sĩ.
Sau khi đặt tên con rồi, cha mẹ mới ghi tên con vào gia phả và vào các giấy tờ liên-quan tới con như lá số tử vi chẳng hạn.
THÀNH PHẦN CỦA TÊN Tên thường gồm có họ, chữ đệm và tên, nhưng có nhiều khi, người ta không dũng chữ đệm.
Họ từ tổ tiên truyền xuống, qua đời này đến đời khác. Thường thì cơn lấy họ cha, nhưng cũng có trường hợp con theo họ mẹ :
- Khi mẹ không có anh em trai, một trong các người con lấy họ mẹ nit việc phụng-thờ ngoại-tộc.
- Khi người mẹ lẳng lơ, sinh con không cha Mỗi người thường giữ họ của mình cho đến chết, nhưng cũng có khi rà người thay đổi họ :
Xira kia thân nhân những tướng giặc, tướng cướp đã bị bắt giết, rùng những họ nhà vua đã bị truất ngội, phải trốn tránh ở các nơi xa lạ, rần lbay họ đổi lên đề khỏi lộ tông-tich.
Những người có công với triều đình được nhà vua ban cho quốc.
Inh, lấy lọ vua thay cho họ mình, như ông Thần-bình-Trọng chính là bo ld.
Con nuôi, đôi khi bỏ họ cha mẹ đẻ để lấy theo họ cha mẹ nuôi. the đôn dùng đề nổi liền họ với tên.
Trang sách 47Thường đàn hà con gái dùng chữ thị, còn đàn ông con trai dùng mấy chữ văn, đình, thế, huy, duy, hữu v.o...
Ngày nay, chữ đệm thường thay đỏi nhiều, đàn bà con gái nhiều khi không dùng chữ thị mà dùng những chữ khác đề cho tên nghe được kèu như chữ mông, lệ, thùy, V.v.... và đàn ông con trai cũng dùng nhiều chữ khác thay những chữ đã kề trên.
Tên chính là liếng dùng đề gọi, và là phần chót trong tính-danh.
Như trên đã nói, tên được trọn sao đề nói được cái sở-nguyện của cha mẹ, của kẻ mang lên, hay ít ra tên cũng phải có một nghĩa gì.
Con gải, người ta ưa lựa tên các thứ hoa, kèm trước một chữ đệm thật ván vẻ, lon, cúc, mai, đào, liểu, liên. Các lên trên ghép vào các chữ đệm có thể thành Mông-Lan, Thúy-Liếu. Lệ-Mai V.V...
Người ta cũng dùng tên bốn mùa đề đặt cho con gái :
Mông-Xuân, Lệ-Thu, Thúy-Hạ, Diễm-Đông V.v...
Tên con trai, thường đặt những lên hùng mạnh hoặc có tính cách về nam phái : Nhân, Trí, Dũng, Tín, Trực V.V...
Có khi để giản liện, người ta lấy ngay năm sinh, theo thập can hoặc thập nhị chi đề đặt cho con : Giáp, Ất, Bính, Đinh,.. Hoặc Tý, Sữu, Dần, Mão...
Cũng có người lấy địa danh nơi sinh con đặt cho con : Thái, (Thái- Binh) Định (Tân-định) v.v... 'Tất cả những lối dặt lên trên chỉ có lính cách chỉ dẫn không phải nhất thiết như vậy, nhất là ngày nay trong việc đặt tên có thay đổi nhiều.
Có điều, trong một nhà người ta vấn trách sự trùng danh, và xưa kia có tục kiêng tên.
TỤC KIÊNG TÊN Không ai lấy lên cảc vị thầo linh đặt cho con, cũng như không bao giờ dùng tên ruột người trên đề đặt cho con minh, e mang tội bất kinh.
Trang sách 48Nhiều người khi thủ-bằn một kẻ nào, thường lấy lên của kẻ đó đặt cho con, coi như vậy là một điều sỉ-nhục cho kẻ thù.
Trong thôn-xã, đã có xảy ra những trường-hợp vì vô ý, có người đặt tên con nhằm vào lên cha mẹ hoặc ông bà một ngưrời trong làng.
Khi người này biết, và hiểu rằng đó chỉ là một sự lầm lẫn chứ không phải là một sự cố ý, người này liền mang cau trầu bao chè tới đề yêu cầu người kía sửa lại tên con đề tránh sự trùng-danh với bề trên của mình.
Kiêng tên là một điều quan trọng của phong-tục la. Ta có câu Nhập môn nhỏ vấn húy nghĩa là khi vào một nhà nào phải hỏi tên húy đễ biết mà kiêng.
Người có con bắt đầu được kiêng tên. Kể từ khi có đứa nhỏ người ta dùng tên nó đề gọi cha mẹ nó, dủ tên nó mới chỉ là một tên tạm như tên Tí, tên Tẹo. Người ta gọi bố mẹ nó là bác Ti giai, bác Tí gái, cậu Tí, mợ Tí, ông Tí, bà Tí, hoặc bác Tẹo giai, bác Tẹo gái, cậu Tẹo, mợ Tẹo, ông Tẹo, bà Tẹo, v.v...
Trong sự giao-thiệp của giai-cấp thượng-lưu, thường dùng họ đề gọi thay tên : Nguyễn tiên-sinh, Đào tiên-sinh, Đỗ quý-hữu, Ngô nhân-huynh, Đặng tôn-ông, bác Lê, bác Trần v.v...
Khi một người có chức lước, văn bằng, chức tước và văn bằng được Bọi thay lên : Ông Huyện Đặng, cụ Cử Vũ, ông Bát Vương, ông Hàn Ngữ Đối với những người có danh vọng tiếng tăm, đề kính trọng người ta chỉ gọi tới tên làng : ông lú Vị-xuyên là ông Tú-Xương, cụ Tam-nguyên Yên. đổ là cụ Nguyễn-Khuyến, vân vân...
Thường chỉ những người bạch-đinh mới phải dùng đến lên đề gọi, bởi vậy tại các thôn xã người ta cố mua chân nhiêu, chạy chân xã đề được gọi là ông nhiêu, bà nhiêu, ông xã, bà xã thay tên của mình.
Những người giữ những chức vụ trong làng, trong tổng đều được gọi bàng chức-vụ.
Trang sách 49Theo lục lệ, con cháu tránh đọc tới tên cha mẹ ông bà và tổ-tiên, dân chúng kiêng lên các quan và tên vua chúa.
Chính vì tục kiêng lên, mà nhiều chữ phải cải chệch sang chữ khác : hoa đổi là bông, hoàng đổi tên là huỳnh, nguyên đối là ngươn, long đỏi là luông, v.v...
Các kỳ thi ngày xưa có lệ kiêng húy, trong văn bài thí-sinh tuyệt-dối không được dùng những chữ tên nhà vua và các vị tôn tộc trực-bệ. Tên các vị tổ liên xa của nhà vua có thể dùng được nhưng phải đánh ngoặc cho khác đi.
Những chữ búy được yết tại trường thi : Phạm húy thi bị tội.
Ngoài ra, bố mẹ cũng kiêng gọi tên con trong lúc đi đêm hoặc trong khi qua một nơi thanh vắng, e tà ma theo hành đứa nhỏ.
Tục kiêng lên nay đã mất ở nơi đô thị, nhưng ở một vài địa phương vẫu còn giữ, nhất là kiêng lên các vị thần-linh.
Ở đô-thị, tên các vị vua chúa, anh-hùng xưa kia vẫn được kiêng, nay được đem đặt cho đường phố để tỏ sự sùng-kính.
TÊN CỦA MỘT NGƯỜI Đã xél đến việc đặt lên, không thể không nói tới các loại tên của ta.
Ngoài lên lục hoặc lên húy ta hằng kiêng, một người thường có tên hiệu và tên lự nữa.
Tên biệu tức là biệt-hiệu, thường do tự đương-sự đặt lấy. Tên hiệu thường ta có ý gói ghém ý nguyện ở trong.
Thi dụ : Cụ Nguyễn-binh-Khiêm lấy hiệu là Bạch-Vân-Am, là có ý muốn sống ở một am thanh vắng chỉ có mây trời.
Tên tự thường được đặt một cách làm sao đề qua tên tự người ta có thê liên tưởng lới chính-danh của mình.
Như Trương-hán-Siêu lấy tên tự là Trác-Như nghĩa là nổi lên. Hai chữ Trác-Như nhắc tới chữ Siêu là cao-cả.
Trang sách 50Cũng có người dùng lên sông núi địa phương để dặt, ông Nguyễn-khắc- Hiến lấy lên tự là Tản-Đà. Hai chữ lên tự Tản-Đà gồm nủi Tản Viên và song Đà-Giang, tức là sông núi địa phương quê của ông.
Hoặc có người dùng ngay tên làng mình làm lên tự như ông Nguyễn- Du lấy hai chữ Tiên Biền, là lên quê hương ông.
TÊN THỤY Ngoài các tên tự, lên hiệu và chính danh trong lúc sống, mỗi người khi lúc chết còn có một Thụy. Tên này còn gọi là tên hèm, hoặc tên cúng cơm, tức là cái tên chỉ khấn đến khi củng giỗ. Thường tên thụy gồm hai chữ và hai chữ này cố tôm lắt đủ các đức tính của người ang tên.
Tên thụy có khi do chính đương-sự lúc lâm chung, lựự đặt lấy rồi bảo Cho con cháu biết hoặc có khi do người nhà đặt, trong trường-hợp người chết không kịp, tự đặt lấy hoặc lúc sắp chết không còn đủ sáng suốt đề tự tìm cho mình một tên thụy. Người nhà đặt tên rồi báo cho ngưrời hấp-bối biết, hoặc nếu đương-sự đã chết thi khấn ngay cho linh hôn đương sự hay.
Như đã nói, tên thụy cố tóm tắt đức tính người chết. Thí dụ ông Trương đinh Mậu lúc sống người thuần bòa cần thận, bình lĩnh, siêng nũng, khi lâm chung lự đặt lên thụy là Thuần Cân. Khi cúng lế, con cháu sẽ khấn : Nguyễn quý công, húy Dinh-Mậu, thụy Thuần-Cần phủ guin.
Trong những ngày giỗ chạp, lúc củng vái người ta chỉ khấn tên thụy, còn tên húy, người ta khẽ lâm râm trong miệng lúc vái.
Trong các sử sách, người ta cũng chép tên các vua chúa qua tên thụy nhi Lý Thái-Tổ, Lê Thánh Tôn, hoặc qua niên-hiệu như Gia-Long, Minh- Mánh, chír không chép tới tên búy.
DANHI VỚI HỒN Theo phong lục Việt-Nam, tên rất quan-trọng, lên đi liền với hồn.
Trang sách 51Khi một người ngất đi bất tỉnh, hoặc chết, người ta cho là hồn đã xuất khỏi người và phải gọi tên hú hồn đề người ngất hồi lại, và có thể người chết sẽ sống lại chăng !
Các thày phù-thủy, các đạo-sĩ có thể tác-oai tác phúc cho một người khi biết rõ tên họ, ngày sinh tháng đẻ của người này và có trong tay một manh quần áo, một mớ lóc hay một móng tay của người đó, bằng phép trù, ếm hay chài.
ĐỔI TÊN ở trên đã nói về việc đổi họ, đây xin nói qua về việc đổi tên.
Xưa kía, nước ta chưa có hộ tịch rõ ràng, nhiều người thường lúc bé mang một tên, lúc lớn lại mang tên khác.
Có nhiều người bị bố mẹ đặt cho một tên xét ra không mang lại may-mắn cho mình, bèn thay đổi tên khác.
Các thí-sinh thi trượt thường đổi tên như trường hợp cụ Tam-nguyên Yên đỗ đã lự dỗi tên là Nguyễn-văn-Thắng thành Nguyễn-Khuyến.
Kế từ khi luật hộ-tịch được đặt ra, vẫn có nhiều người đổi tên, nhưng muốn đổi tên phải xin phép chính quyền hoặc phải lấy án lệnh của Tòa- án.
Ngày nay, có nhiều trẻ em trong khai-sinh mang một tên, nhưng vì đến khi đi kiêng kỵ, ở nhà cũng gọi em đó bằng một tên xấu-xí, đề rồi học, cái tên chính trong khai-sinh mới được dùng tới.
Riêng về nữ phái, tên mình chỉ dùng cho đến lúc lấy chồng. Lấy chồng sẽ được gọi theo tên chồng. Ngày nay nhiều phụ-nữ tuy đã lập gia-đinh, nhưng tên con gái vẫn được dùng, đó là trường-bợp các nũ công chức. Ở nhà gọi theo tên chồng, tới Sở chính tên riêng vẫn được sử-dụng.
Nuôi con, kê từ lúc sơ sinh cho đến khi đặt tên trải bao tục-lệ, và bổ mẹ thương con, thường tâm thành tin bết mọi tục lệ đề mong cho con được làm người.
Giai đoạn khôn lớn của con cha mẹ cũng không trễ nải, dủ đứa con đã được đặt tên hay còn chờ khi thành người hẳn.