ĐỜI SỐNG GIA-ĐÌNHPhần 2 · trang 8–20
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 8ĐỜI SỐNG GIA-ĐÌNH Gia-đình là nền tảng của xã-hội, có gia đinh mới có xã-hội, nhất là gia-đinh Việt-Nam lại càng là một nền tảng vững-chắc của xã bội, Việt- Nam.
Khảo xét về phong tục Việt-Nam, phải bắt đầu từ gia-đinh Việt Nam với những tục-lệ đã chi-phối gia-đinh : sinh, tử, giá, thú, dề dàn dần đi tới phong-tục về xã-hội.
Cia-đình là nền lảng của xã-hội, nhưng gia-đinh phải bắt đầu lừ cá nhân. Nếu ví gia-dinh là một tế-bào thì những phần tử trong gia-đình là những phần tử của tế-bào.
THÁNH-PHẦN GIA-ĐÌNH VIỆT-NAM.
Gia-đinh Việt-Nam bao gồm một thành-phần rộng-rãi hơn gia-đình các dân-tộc khác.
Thco định-nghĩa của Đào Văn Tập trong TỪ-ĐIỀN VIỆT-NAM PHỐ.
THÔNG thì hai liếng GIA-ĐÌNH chỉ tất cả mọi người quyến thuộc trong nhà.
Định-nghĩa này tương lự với định nghĩa của hai chữ GIA-QUYẾN trong HÁN-VIỆT TỬ ĐIỀN của Đào Duy Anh những người thân thuộc trong một nhà.
Vậy những người thân thuộc trong nhà là những ai ?
Trả lời câu hỏi trèn, ta bắt đầu lừ người chủ gia-đinh đề đi lần tới những người khác trong nhà.
Người chủ gia-đinh có cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ, thuộc hàng trên, nhưng thường chỉ có cha mẹ ông bà, còn cự kỳ còn sống rất hiếm, nhứt là ngày nay, người ta lập gia đinh muộn hơn xưa.
Ngang hàng với người chủ gia đình là anh chị em.
Về hàng dưới, người chủ gia-đình có vợ, con.
Trang sách 9Con người chủ gia-đình gọi những người anh em của người này là chú, bác, cô.
Tất cả cụ, ky, ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em đều là những người trong gia-đình. Những người này thuộc về HỌ NỘI.
Những ông bà, cha mẹ, anh chị em của người mẹ thuộc về HỌ NGOẠI tuy không ở cùng gia-đinh nhưng vẫn là người trong quyến thuộc, nghĩa là vẫn có sự liên-can mật-thiết giữa người nọ với người kia.
Xem như trên, một gia-đình Việt-Nam gồm nhiều người hơn gia-đình hiều theo người phương Tây.
Một gia-đình tại các nước phương Tây chỉ gồm có bai vợ chồng và lũ con.
Đã biết thành phần của gia-đinh, ta thử tìm hiều nhiệm vụ của mỗi người trong gia-đinh, và sự liêo lạc của những người này đối với nhau.
NGƯỜI CHA Người cha tức là người đứng chủ gia-đình, có con hoặc với chính vợ mình hoặc với một người đàn bà khác. Luật lệ ta xira cho phép một người đàn-ông có quyền năm thê bảy thiếp, nên sự ăn ở với người khác sinh con chỉ là một sự thường, miễn là sau này khí người đàn bà cùng minh ăn ở, sinh con, minh nhận thâo dưỡng đứa con đó.
Không có con không thề là cha được, trừ trường hợp nuôi con nuôi.
Người cha còn gọi là bỗ, và ngày nay được gọi bằng nhiều danh tứ mới như ba, bả, cậu, (1) ông già v.v...
Trong gia-đinh người cha có quyền định-đoạt bết mọi việc liên- quan tới mọi người trong nhà. Quyền đó gọi là phụ-quyền.
Phụ-quyền rộng rãi lắm, nhất là xưa kia.
Khi ông bà còn sống thì quyền đó ở trong tay ông bà.
Người cha chỉ xử-dụng phụ quyền khi ông bà đã qua đời cả. (1) Đây là một cách xưng hô mới. Những gia-đình hiểm con, còn gọi cha là anh sinh còn mẹ là chi đẻ.
Trang sách 10Theo Thân Trọng Huề trong HỌC LUẬT LỆ AN-NAM thi các con cháu phải hiếu phụng ông bà cha mẹ : khi ông bà cha mẹ còn sống không cho phép con cháu ở rlêng thì không được ở riêng. Ông bà cha mẹ chết mà chưa hết lang thì cùng như còn sống, con cháu không được chla fla-lài. Đã nói rằng con cháu phải hiếu phụng ông bà cha mẹ, khì con cháu không được kiện ông bà cha mẹ vì kiện ông bà cha mẹ là & can đanh phom nghiet».
Bổn phận của ông bà cha mẹ là phải rán dạy con cháu, và chịu trách-nhiệm về những hành-vi của con cháu. Con cháu không chịu vâng lời, ông bà cha mẹ cỏ quyền mắng đánh, trong sự đánh đặp, chẳng may con cháu chết, ông bà cha mẹ cũng không có tội, nhưng chỉ được đánh vào chỗ thu-bình tức là hai mông đit, còn đánh vào chỗ khác gọi là hoạnh-đà, con cháu chết ông bà cha mẹ cũng mang lội.
Ngày nay, ông hà cha mẹ không có quyền đánh chết con cháu, luy có nhiệm vụ phải nuôi-nấng và dạy-bảo, dạy-bảo không nổi thi trừng. phạt, nhưng không được trừng-phạt đến nỗi con cháu phải chết.
Cha nuôi đối với con nuôi cũng có quyền như cha đẻ, và cũng có bồn phận như vậy. Những con riêng của vợ là con ghẻ, vả người cha trong trường hợp này là cha dượng. Cha dượng có quyền với con của vợ hay không là do sự có nuôi chúng hay không.
NGƯỜI MẸ Người mẹ là vợ của người cha, nghĩa là vợ của người chủ gia- đình khi có con. Người đàn bà dù lấy chồng mà không có con thi không phải là mẹ, đây là nói mẹ đẻ.
Ta phân biệt mẹ đẻ, mẹ glà, mẹ ghè.
Muốn là mẹ đẻ, phải tự minh sinh ra con. Nuôi con người khác thì chỉ là mẹ nuôt.
Mẹ già tức là người vợ cả của cha, dù có con hay không có con, được các con của những người vợ lễ xưng-hô như vậy.
Mẹ ghẻ tức là người vợ lẽ hoặc vợ thứ của cha, được các con của vợ cả hoặc những người vợ thứ ở bàng trên xưng hô như vậy.
Trang sách 11Người mẹ cũng có quyền như người cha, nhưng phải theo quyết.
định của người cha, vl lễ vợ phải theo chồng. Khi cha chết, phụ-quyên, tôi muốn nói quyền điều khiên gia-đình, về lay người mẹ, nếu người này là vợ cả. Những người vợ lẽ hoặc vợ thứ, sau khi chồng chết ở lại nhà chồng phải chịu theo quyền bành của người vợ cả.
Luật-lệ phong-tục ngày nay đã thay đổi. Trong gia-đinh, người mẹ, dù người cha còn sống, có quyền ngang hàng với cha, và mọi quyết- định của người cha đều có ý-kiến của người mẹ. Tục đa-thê cũng dần dần bớt đi, và có còn lại một vài gia-đinh thì những người vợ lẽ hoặc vợ thứ cũng có quyền riêng của minh, không đến nỗi phải lệ-thuộc vào người vợ cả nhiều như thời xưa.
ÔNG BÀ Trong một gia-đình nếu ông bà còn sống thì ông bà là chủ gia đình.
Những quyền của cha mẹ thuộc về tay Ông Bà.
CON, DÂU, RẺ Những người do cha mẹ sinh ra là con.
Con lúc nhỏ cha mẹ nuôi-náng dạy dỗ. Đến tuổi đi học, cha mẹ cho đi học. Khi khôn lớn, cha mẹ lo gây dựng 'gia đinh cho.
Con phải hiếu phụng đối với cha mẹ và phải tùy thuộc vào cha mẹ cho đến khi cha mẹ chết.
Của cải của cha mẹ con được hưởng.
Ngày nay, theo với nếp sống mới, con cái phải lệ-thuộc cha mẹ cho đến khi trưởng thành. Trưởng-thành, con cái có quyền tự-lập, và đã có nhiều đứa con bất biếu, quên cả sự phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi gia.
Thời xưa trẻ cậy cha, gìà cậy con. Cha mẹ có bổn phận phải nuôi con lúc nhỏ, con cũng có nhiệm vụ phụng-dưỡng cha mẹ lúc già.
Con có con trai và con gái.
Vợ người con lrai là con dâu, chồng người con gái là con rề.
Trang sách 12ANH EM, CHI EM Những người cùng một cha mẹ sinh ra gọi là anh em, chị em.
Anh chị em cùng cha cùng mẹ gọi là anh chi em đồng-bào, cùng cha khác mẹ gọi là anh chị em dị - bào. Anh chị em cùng mẹ khác cha gọi là anh chị em đồng mẫu dị phụ.
Anh chị em cùng một mẹ đẻ ra, cứ theo thứ tự để trước là anh, là chị, đẻ sau là cm. Nhiều mẹ để ra, con vợ cả là anh, con vợ lễ là em, không cứ gì nhiều tuổi hay lt tuổi.
Xưa có nhiều gia - đình lấy nàng hầu trước khi lấy vợ, con những nàng hầu dù rất lớn cũng vẫn là em con người vợ được cưới sau làm chính - thất. Và chỉ con bà chính thất mới được là con cả hoặc con trưởng.
Trong trường hợp vợ chính-thất không có con trai, con trai vợ lễ hoặc vợ thứ mới được làm trưởng-lử, gọi là thứ trưởng-tử.
Anh chị em ở với nhau khi còn sống chung với cha mẹ phải hòa. thuận thương yêu nhau, khi khôn lớn, cha mẹ cho ở riêng, hoặc cha mẹ chết, phải thân-ái đùm bọc bênh-vực lấy nhau.
Ta có câu kiến giả nhất phận, phận ai người nấy lo, nhưng trong những gia-đinh lễ giáo, anh chị em thường thương yêu che-chở cho nhau.
Những anh em đồng mẫu dị phụ thường đối xử với nhau không được như anh emu đồng-bào hoặc cùng cha khác mẹ.
NGƯỜI ANH CẢ Sách có chữ Quyền Huynh Thế Phụ, nghĩa là quyền anh thay cha. Anh đây là người anh cả.
Khi cha mẹ mất, người anh cả phải thay cha mẹ trông nom các em.
Em còn thơ bé phải nuôi-nắng, rồi phải lo dựng-vợ gả-chồng cho các em.
Của cải của cha mẹ đề lại phải chia cho các em, nhưng người anh
Trang sách 13cả có quyền giữ phần lớn hơn, ngoài của bương-bỏa bao giò cũng thuộc về người anh cả. Người anh cả phải giữ-gin việc thờ-phụng gia- tiên, lại phải lo bết mọi vấn đề ma chay giỗ tết trong gia-dinh.
NGƯỜI CON ÚT Người con út là người con cuối cùng của cha mẹ. Trong nhiều gia- đình, cha mẹ rất thọ, sau khi dã gây dựng cho những đứa con lớn thành gia-thất, có sản-nghiệp rồi, cha mẹ chỉ còn ở với người con út đề vui lúc tuổi già. Lúc đó, tài sản cha mẹ còn lại gi đều trút cả cho người con út, trừ của hương-bỏa, thuộc về phần người anh cả.
Tục ngữ ta có câu : Giàu con út, khó con út, trút sạch cửa nhà là vậy.
CHI EM DÂU, ANH EM RẺ Chị em dâu lức là người vợ của anh boặc em trai minh. Hai người đâu bà lấy bai anh em ruột cũng là chị em dâu.
Anh em rề là chồng chị hoặc em gái minh. Hai người đàn ông lấy hai chị em ruột cũng là anh em rề. Thường tình, anh em rê, chj em dâu không thương nhau, hay dè-bỉu khúng-khính với nhau.
Tục ngữ có câu : & Yêu nhau chị em gái, khái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rề v đề chỉ sự không thân yêu nhau của những chị em dâu và anh em rể Anh em chị em trong một gia-đình là một bát máu xẻ đôi, như chân với tay, tinh thân thiết bơn cả người khác. Anh em chị em đã thương yêu nhau, có bao giờ lại không biết thương yêu chị em dâu và anh em rể là những người phối-ngẫu với anh chị em ruột của mình.
Người anh người chị thương em, phải biết thương em dâu hoặc em rề, có như vậy mình mới khỏi tủi-bỗ với vợ hoặc với chồng.
Lại đến như những người chị dâu, em dâu, anh rễ, em rễ, đã thương chồng, thương vợ, sao không thương được anh, em và chị, em của vợ! Bề nào cũng đã là người trong quyến thuộc, phải biết lấy chữ Nhẫn đối-xử với nhau đề tránh hết mọi điều xích-mích de-biu thực đáng chê !
Trang sách 14VỢ CHỒNG Vợ chồng là hai cột chính của gia-đinh, sau sẽ trở thành cha mẹ, ồng bà.
Kề lừ khi đôi bên kết-hôn với nhau là đã có nghĩa-vụ lẫn với nhau, lại có cả nghĩa-vụ dối với kẻ trêo, người dưới của đôi bên nữa.
Luật-lệ của ta xưa nói rằng sự hôn thủ là đề phụng lôn khiên và kế hậu thế, nghĩa là đề phụng thờ ông bà cha mẹ và gây dựng con cháu.
Vợ chồng tuy lấy nhau, như trên đã nói, không được ra ở riêng nếu không được ông bà cha mẹ cho phép. Lại phải lo làm án đề phụng dưỡng ông bà cha mẹ.
Nếu con cháu biếng nhác đến nổi ông bà cha mẹ phải tự-sát thi phải tội.
Ông bà cha mẹ tuổi già sức yếu, bệnh lật, vợ chồng con cháu không nuôi cũng có tội.
Đó là những bồn phận đối với kẻ trên, lại còn những bồn phận đối với người dưới : phải lo dạy-dỗ, gây-dụng con em. Con em có lỗi phải trừng-phạt.
Ngoài ra vợ chồng ăn ở với nhau cũng có những nhiệm-vụ và bồn-phận.
Vợ phải theo chồng đúng với lẽ tòng phu. Bỏ chồng ra đi, can tội bội phu bị pháp-luật trừng-phạt.
Đàn ông có ở gửi rễ, vợ cũng phải kính chồng. Đánh chồng, giết chồng phải tội nặng.
Chồng phải nuôi vợ, dạy vợ. Không được cầm vợ bán vợ. Vợ có lõi chồng có quyền đánh. Vợ làm lỗi đối với pháp-luật, chồng có tội.
Của cải của chồng là của vợ, trái lại, của vợ cũng là của chồng.
Nợ của chồng, vợ phải gánh ; nợ của vợ, chồng cũng phải mang.
BÁC, CHÚ, CO, THÍM Về họ nội bác là anh ruột cha, chú là em trai ruột cha, có là chị hoặc em gái ruột cha.
Trang sách 15Vợ của bác gọi là bác gái, vợ của chủ là thim.
Chồng cô là bác rè hoặc chú rề, tùy theo cô là chị hay em cha, trong Nam gọi là dượng.
Ta có câu Chú cũng nhi cha, nghĩa là người chú đối với cháu ruột cũng như đối với con mình, và cháu đối với chủ bác ruột phải kính- trọng như ăn ở đối với chính cha mình.
Ta lại có câu : Xảy cho còn chú, xảy mẹ bú dì, nghĩa là cha chết còn chủ trông nom, mẹ chết trông cậy vào di được.
Hai câu phương ngôn trên chứng tỏ sự mật thiết giữa cháu đối với bác và chú.
Những người cháu, chẳng may cha mẹ mất sớm phải ở với chú bác.
Những người chủ phải theo giỗ của cháu, ngrời con trai đầu lòng của anh trưởng mình, sau khi người anh chết, cũng như khi người anh trưởng còn sống.
BÁC, CẬU, MỢ, GIÀ VÀ DÌ Nếu về họ nội có bác, chú, cô, thím, thì về họ ngoại cũng có những người tương-đương với các bậc trên, đó là những chị em ruột. anh em rề, chị em dâu của mẹ.
Anh ruột của mẹ cũng gọi là bác như anh ruột của cha. Có nhiều nơi, trong xưrng hô, gọi hẳn là bác ngoại đề phân biệt với anh của cha là bác nội, vợ của bác gọi là bác gái.
Em trai ruột của mẹ là cậu, vợ của cậu là mợ.
Chị ruột mẹ có nơi gọi là bác gói, nhưng nhiều nơi gọi là gia đề phân-biệt bác gái là vợ của bác, anh cha hoặc mẹ.
Em gái ruột của mẹ là dì.
Chồng của già cũng gọi là bác rè, vả chồng của dì cũng là chú rè như về họ nội. Cũng có nơi gọi là dượng. •Cũng như họ nội, bác, cậu, già, di, đối với cháu cũng có tình thân. mật rất gần, vì sự liên-lạc qua người mẹ.
Trang sách 16Cháu phải theo giỗ bác ngoại hoặc cậu để cúng lễ ông bà tở tiên về họ ngoại.
Bác ngoại cũng như cậu mợ có thể nuôi các cháu ngoại làm con nuôi trong trường hợp không có con, nhưng không thể dùng con của chị hoặc em gái minh lậplự được. Nội ngoại chỉ khác nhau ở điềm này, nhưng không phải vì thế mà sự thân tình kém mật-thiết đi.
CON NUÔI Những người không có con, có thể nuôi con ngưrời khác đề làm con nuôi. Có thề nuôi con cùng họ hoặc khác họ, lại có thể nhận con nuôi từ lúc đứa trẻ mới sơ-sinh, hoặc khi đứa trẻ đã lớn, nhưng còn trong thời ký ty-ấu, nghĩa là chia trưởng-thành.
Việt-Nam la có hai thứ con nuôi :
Con nuôi lập-tự và con nuôi không lập tịr.
CON NUÔI LẬP-TỰ Nước ta lấy sự thờ phụng tổ tiên làm trọng, nên những người không con phải lo nuôi con nuôi lập-lự.
Thưởng, người ta chọn một người cháu gọi bằng bác hay bằng chú, nhưng nếu cháu gần không có, trong trường hợp người không con không có anh em ruột, hoặc anh và em trai ruột người này cũng không con, thì lập cháu xa, nhưng vẫn phải đồng buyết thống, nghĩa là cũng thuộc về bọ nội.
Tục-lệ và luật-pháp định rằng việc lập-tự phải theo thứ-tự chiêu thuận, nghĩa là cháu mới được thừa tự cho chú bác, chứ cháu không được lấy thú bác lập-tự cho mình. Ngoài ra anh không có con trai, em có thể àn thừa tự anh được, trái lại anh không được ăn thừa tự cho en, phải Mì việc ăn thừa lự cho con mình lức là cháu ruột của em.
Người được lập thừatự có thể bị phế bỏ, nếu người đó xét ra kúm dức bạnh, hoặc làm điều gi phạm tới thanh-danh giardinh. Phế người thừa tự này đề lập người khác, gọi là lập-ái hay lập-hiền.
Trang sách 17Trong việc lập thừa tự không được chọn con độc-đinh hoặc con trương, vì những người con này đã có phận sự riêng, lo việc hương-khỏi cho cha mẹ, Người đã được lập-tự phải ở với cha mẹ nuôi như cha mẹ đẻ, không được bỏ nhà đi, và được hưởng mọi quyền lợi như một người con đẻ.
Việc lập-lự mặc-nhiên thành vô-hiệu, vếu cha mẹ nuôi, sau khi lập- tự con nuôi, lại sinh được con trai. Tuy việc lập tự thành vô-hiệu, nhưng người con nuôi vẫn giữ được quyền lợi như một người con đẻ và sẽ được hưởng một phần gia tài với người con đẻ.
Khi cha mẹ nuôi đã có con trai, người con nuôi lập tự trước có thể trở về sống với cha mẹ minh.
Người đàn ông lúc sống không con, khi chết đi, vợ có thề thỏa. thuận với tộc trởng đề lập-lự cho chồng.
Những người đã hỏi vợ mà chưa cưới, hoặc mới cưới vợ mà chết sơm không con, nếu đã trưởng-thành rồi, cha mẹ có thề chọn người lập tự cho ; những người chết non trong thời kỷ ty-ấu không được phép lập-tự.
CON NUÔI KHÔNG LẬP-TỰ Con nuôi không lập tự không cần cùng họ với người nuôi. Đây chỉ là nghĩa-tử. Nghĩa-lử muốn ở với cha mẹ nuôi hoặc trở về với cha mẹ đẻ cũng được. Con nuôi ở hẳn với cha mẹ nuôi cũng được hưởng một phần gia-tài, theo luật chước cấp tài sản, nghĩa là phần gia-tài tùy cha mẹ nuôi muốn cho bao nhiêu cũng được, không như những con đẻ, khi bố mẹ chết phần gia tài được bưởng đồng đều với nhau trừ người con trưởng phải giữ việc khói hương được hưởng phần hơn.
NUÔI RỀ Luật và tục ta có lệ ở rễ, nghĩa là bố mẹ vợ nuôi con rè. Rê la người khác họ, không thê lập tự được, và vì vậy, rề không thể thừa-tụ cho cha mẹ vợ.
Trang sách 18Luật ta xira có nói : Chiếu tế dưỡng lão, nghĩa là nuôi rề đề dưỡng già, chứ không phải nuôi rể đề trồng nom việc khỏi bương.
Ngày nay luật-lệ cũng như phong-lục đã thay đổi nhiều, lừ việc nuôi con đến việc lập tự.
Con gái ngày nay cũng cúng giỗ cha mẹ, và con nuôi cũng được coi như con đẻ trước pháp-luật.
ANH CHỊ EM HỌ Con bác, chú, cô, dì, cậu mợ là anh em họ với nhau. Về họ nội con nhà bác là anh chị, con nhà chú là em, còn về họ ngoại con nhà bác, nhà già là anh chị, con nhà cậu, nhà di là em.
Về đằng họ nội, là anh em thúc bá, còn về họ ngoại là anh em di cữu.
Ngoài các anh em thúc bá còn gọi là anh em con chú con bác, và anh em di cữu còn gọi là anh em con cô con cậu hoặc con dì con già, còn các anh em bọ cháu chú cháu bác, cháu cô, cháu cậu, cháu di, cháu già. Những anh em họ này tức là cháu nội cháu ngoại các ông bà là anh em chị em với nhau.
Trong gia-đình ta xưa, nhiều khi các anh cm họ nội vẫn ở chung một nhà dưới quyền chủ gia-đinh là ông nội.
THÂN-THUỘC TRONG GIA-ĐINH Qua các thành-phần trên, ta thấy rằng gia đình Việt Nam bao-quát rất rộng, và mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi liên. hệ, không bởi họ nội thì họ ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại.
Trong một gia-đình chung sống với nhau, nếu ta lấy tự bản thân ta mà tính lên ta sẽ có :
Trên ta là cha mẹ, gọi là phụ mẫu.
Trên cha mẹ là ông bà, gọi là tô-phụ, rồ-mẫu.
Trên ông bà là cụ ông và cụ bà, gọi là tằng-lồ-phụ, tằng-rồ-mẫu.
Trên hai cụ là hai kị, gọi là cao-tổ-phy, cao-tô-mẫu.
Trang sách 19Trên nữa thì gọi chung là cao-cạo-lô, lên mãi cho đến thủy-rổ.
Tính từ thân ta đến kị là năm đời.
Năm đời cùng ở với nhau một nhà gọi là ngũ đại đồng đường. Đây là một trường hợp hiếm, vì như vậy nếu ta lên một tuổi, cao-tổ-phụ hoặc cao lổ-mẫu ta ít ra phải lám ươi ấy là tính ta sinh ra đời lúc cha mẹ ta hai mươi tuổi. trường hợp này Bốn đời cùng ở với nhau gọi là tứ đại đồng-đường, có nhiều.
Ba đời cùng ở với nhau gọi là lam đại đồng đường. Đây là sự thường vì chỉ gồm có ông bà, cha mẹ và các cháu.
Và khi lấy tự hản thân ta tính xuống, ta sẽ có :
Dưới ta là con, chữ là lừ.
Dưới con là cháu, chữ là lôn.
Dưới cháu là chất, chữ là lằng-tồn.
Dưới chắt là chút, chữ là huyền-tôn.
Còn dưới nữa, đều gọi là viễn-tôn.
Tính từ cao tổ đến huyền tôn gọi là cửu tộc.
Trong cửu tộc lại có những hàng ngang nhau, thứ bực trên đưới chi nhu anh em.
Ngang hàng với cha mẹ ta là chú bác cô di.
Ngang hàng với ông bà ta là ông chú, ông bác, bà cô, bà dì.
Ngang hàng với các cự ta là cụ chú, cụ bác, cụ cô, cụ dì.
Ngang hàng với các kỹ ta là kỳ chú, ky, bác, ky cô, kỹ, dì.
Riêng về ta, ngang hàng có các anh chị em ruột, anh chị em họ.
Ngang hàng với các con là con anh, chị em la, gọi ta bằng bác, bằng chú.
Cứ như thế tính trở xuống cho đến mãi mãi, nhưng càng xuống đưới tinh áu mủ ruột thịt càng xa, vì vậy, không còn lệ phải đề tang nhau.
Trang sách 20LUÂN-THƯỜNG Theo HÁN VIỆT TỰ ĐIỀN của Đào-duy-Anh thì Luân thường là phép lắc chính thường của loài người nên theo.
Trong gia-đinh luân-thường cấm người cùng họ nội không được lấy nhau. Lấy nhau như vậy là loạn luân, luật pháp cấm mà tục-lệ cũng cấm, vả lại sự loạn-luân rất tai-hại cho nòi-giống nữa.
Về họ ngoại, anh em con cô con cậu, con di con già còn phải đề tang nhau không được lấy nhau. Kể lừ anh em đời cháu trở đi có thể lấy nhau được.
Ca dao có câu :
Cháu cậu mà lấy cháu cô.
Thóc lúa đầy bồ, giống má nhà la.
Gia-đinh là căn-bản của xã-hội. Trên gia-đình là gia-tộc, nghĩa là người trong thân thuộc với nhau.
Góp nhiều gia tộc mới thành làng xã, và từ làng xã đi lên mới có quốc-gia.
Nói cách khác, gia-đinh là đoàn thể nhỏ trong đoàn thể lớn là quốc-gia.
Đối với quốc-gia, con người có nghĩa vụ, thì đối với gia-đinh, con ngưrời cũng có nghĩa vụ. Làm tròn nghĩa vụ đối với gia-đinh tức là giữ : trọn một phần nào nghĩa vụ đổi với quốc-gia.
Gia-đình ngày nay tuy nhỏ hẹp hơn gia đình xưa nhưng trên gia- đinh còn có gia-lộc, và chính mối liên-lạc gia-tộc là một mối liên lạc đáng quý đề con người đỡ trông nhìn xã-hội bằng một con mắt quả thiền-cận.
Nếu gia-đinh là một bụi cây nhỏ, gia-tộc là cả một khóm rừng, khóm rừng che chở cho bụi cây, nhưng bụi cây dù nhỏ cũng góp phần vào đề làm cho khóm rừng thêm rậm-rạp.
Muốn biết khóm rừng phải đi từ bụi cây, muốn hiều xã-hội phải đi lừ gia-đình. Chinh vì lễ đỏ, muốn hiểu phong tục Việt-Nam, phải bắt đầu từ phong-tục gia-đình.