TANG CHẾ VÀ TANG-PHỤCPhần 22 · trang 336–355

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 336TANG CHẾ VÀ TANG-PHỤC Đối với người chết, con cháu họ-hàng xa gần, đề tỏ lòng nhớ tiếc, đều mang tang, nhưng không phải ai cũng đề tang người chết như ai ; tùy theo thân-sơ, việc đễ tang sẽ lâu hay chóng.

Trong luu vo .ang, có y-phục riêng, có khi là toàn bộ y-phục, có khi lang hiệu chỉ thấy ở một vài dấu hiệu trên y-phục hoặc trên một bộ phận/nào của y-phục.

Màu tang của Việt-Nam là màu trắng, nhưng qua màu trắng, vai dùng cũng khác nhau giữa tang gần với tang xa. Ngoài ra, màu vàng cũb? là màu tang, nhưng chi dùng riêng cho các chắt khi đề lang các cụ. Tìong một vài đám tang, ta thấy các em nhỏ đội khán đỏ Màu đỏ xưa nay vẫn là màu tốt-đẹp, ở đây cũng là màu tang, các chút, chữ là huyền-tôn đề tang các ky tức là các vị cao-tổ-phụ, cao-lỗ-mẫu đội khăn màu đỏ. Các viễn viễn tôn lức con các huyền-tôn cũng dùng khăn đỏ vị cao-cao-lổ.

đề tang các Màu đ3 vốn vẫn dùng trong việc vui-mừng ở đây biến thành tang- sắc được giải-thích : các vị cao lổ, cao cao tổ tuổi đã quá can, sức lực suy-kém, được Trời Phật rước về là một điều mừng, và đề biều-lộ sự mừng vui các huyền-tôn, viễn tôn dùng khăn đỏ thay cho khăn trắng !

CÁC LOẠI TANG-PHỤC Theo Tho-Mai gia-lể, tang phục có năm hạng theo sự thân sơ và lâu chóng của ngời sống đối với người chết : 10 Đại lang, đề tang ba năm ; 20 Co-phục, đề tang một năm ;

Trang sách 33730 Cửu-công, đề tang 9 tháng ; 40 Tiàu-công, đề tang 5 tháng; 50 Ty-ma, đệ tang 3 tháng.

TANG ÔNG, BÀ, CỤ, KY Ông bà cụ kỳ. hai bên nội ngoại tang đề khác nhau, và tang-phục mỗi trường-hợp cũng đều khác nhan. 10 Tang các ky tức là cao rồ phụ, mẫu, các chút đề 3 tháng, mặc áo vén gấu. Trong ngày tang, mặc đồ trắng chứt khăn đỏ, nhưng sau đó, chỉ cần mặc áo màu trắng vén gấu, không cần mang khăn. về họ ngoại, các chút theo tục-lệ chỉ đề tang trong ngày đám, và đám tang xong, lang-phục không còn. Trong Thọ-mai không nói tới trường hợp này. 20 'Tang các cụ mới là tằng tổ phụ, mẫu, các chắt đề 5 tháng mặc áo vén gấu. Trong ngày tang mặc đồ trắng, chứt khăn vàng, nhưng sau đó cần mặc áo trắng vền gấu là đủ.

Các chắt ngoại theo lục lệ chỉ đề tang trong ngày đám, và đám tang song, tang phục cũng hết. Tho-Mai gia-lê cũng không nói trường- hợp này.

Nếu cha hoặc ông người chắt đã chết rồi, người chắt là người thừa-trọng, phải đề tang 3 năm vả mặc áo sổ gấu. Trong đảm tang phải chứt khẩn trắng thay cho khăn vàng. 3o Các tằng tô-bá, thúc-phụ, mẫu, anh em ruột với tằng-tổ-phụ, tang đề 3 tháng. 40 Các tằng-tôcô, chị em ruột với tằng-tổ-phụ, tang đề 3 tháng nếu chưa đi lấy chồng, đã xuất - giá các chắt khỏi đề tang.

Về họ ngoại, các tằng-tổ-bá, cữu phụ-mẫu và tằng-tổ-di, các chắt chỉ đề tang trong ngày đám theo tục-lệ.

Trang sách 338a 339 - 50 Tang ông bà, tô-phy và lỗ-mẫu, sinh ra cha mình, cháu phải đề tang một năm, khăn trắng, áo trắng vén gấu. Nếu cha đã chết rồi, cháu là dích-tôn thừa-trọng, phải thay cha đề tang 3 năm, áo sô mũ gậy. về họ ngoại, ông bà sinh ra mẹ cháu ngoại đề tang 5 tháng, khăn trắng, áo trắng vén gấu.

Ông bà sinh ra đích-mẫu, tang cũng đề 5 tháng. bo Các tổ-bó, thúc phụ, mẫu, - ông bác, bà bác, ông chú, bà thím, bà cô - anh chị em ruột với tổ-phụ, tang để 5 tháng, áo vén gấu. Bà cô đã xuất-giá, lang bạ xuống một bậc còn 3 lháng.

Về họ ngoại, trong ngày tang các cháu mang khăn trắng theo tục-lệ. 70 Các lổ-bá, thúc phụ, mẫn họ và bà cô họ, ông bà họ, anh em thúc-bá với tổ-phụ, tang để 3 tháng, khăn trắng áo trắng. Bà cô họ đã đi xuất-giá, không phải đề tang. về họ ngoại, tang chỉ đề theo lục-lệ trong ngày tang và cai ràng khăn trắng TANG CHA MẸ 1o Con cái đề tang cha mẹ 3 năm, Tang cha dùng khán sô, áo sô sở gấu và gậy tre.

Tang mẹ dùng khăn sô, áo sô sở gấu và gậy vông. 20 Con đề tang cha ghẻ cổ 3 trường hợp:

- ở chung gọi là đồng-cir-phụ, tang đề một năm;

- trước ở chung, sau ở riêng, tang để 3 tháng;

- không bao giờ ở chung là bất đồng-cưr-phụ, không lang.

Tang cha ghẻ dùng khăn trắng, áo trắng vén gấu. 3o Con đề tang cha ghẻ, chồng người kế mẫu nếu ở chung thì một năm, bằng không thì không tang. Trờng-hợp ở chung gọi là lòng kế- nẫu giá-phụ : cha mất đi, kế mẫu đi lấy chồng khác, mình đi theo.

Trang sách 33940 Đích-mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, các con phải đề tang 3 năm, áo số gấu đối với đích-mẫu, áo vén gấu đối với kế mẫu và đưỡng-mẫu. 5º Từ mẫu : Mẹ sinh ra mình đã chết, minh còn nhỏ đại, cha nhờ vợ khác hoặc nàng hầu nuôi, người mẹ nuôi mình là từ-mẫu. Tang lừ- mẫu đề 3 năm áo tén gấu hoặc số rấn cũng được.

Nhưng nến người vợ khác hoặc nàng bầu của cha không nuôi minh từ nhỏ như con, chỉ ở chung, lang đề 5 tháng. 6o Giá-mẫu, xuất mẫu và thứ-mẫu tang một năn.

Giá- mẫu là mẹ đẻ ra minh, khi cha chết, bước đi bước nữa.

Xuất-mẫu là mẹ đẻ ra mình đã bị cha ly-thân hoặc ly-dị.

Thứ mẫu là mẹ đẻ ra mình nhưng là vợ lẽ của cha. 70 Vợ lẽ và nàng hầu của cha tức là mẹ ghẻ, tang đề 3 tháng. 80 Nhĩt-mẫu, lức là vú nuôi cho bú mớm, tang để 3 tháng. go Con thứ tang mẹ đẻ ra mình, - mình là con thứ và mẹ đẻ cũng là vợ thứ, tang để 3 năm, áo vén gấu.

TANG CHÚ BÁC, CẬU MỢ, CÔ, DÌ 1o Tang bác trai, bác gái, cô, chú và thím, - anh chị em ruột hoặc: chị em dâu với cha, - một năm. Nếu cô đã đi lấy chồng, tang rút xuống 9 tháng. Chồng cô không tang. 20 Tang bác trai bác gái họ, cô bọ, chú và thím họ, - anh chị em thúc-bả với cha, -. năm tháng. Nếu cô họ đã đi lấy chồng, tang rút xuống 3 tháng. Chồng cô họ không tang. 30 Tang bác trai, bác gái, chú, thim và cô họ, - anh chị em chái chú cháu bác với cha, - 3 tháng. Cô họ đã đi láy chồng không tang.

Chồng cô họ không tang. 40 Tang bác trai, cậu, già (cũng có nơi gọi là bác gái) và di, - anh chị em ruột với mẹ, - 5 tháng. Mợ, vợ cậu, chồng già, chồng dì đều không tang. Nếu cùng ở chung một nhà, có thể đề tang 3 tháng.

Trang sách 340Một bức trướng viếng

Trang sách 341Ca dao có câu :

Chồng cô, vợ cậu, chồng di, Trong ba người ấy chết thì không lang !

TANG NHỮNG NGƯỜI BẰNG VAI số mặc gấu, áo 10 Vợ đề tang chồng 3 nấm, khán sô, áo sô trái sống. 20 Chồng đề tang vợ một nám. Nếu bố mẹ đã chết, các con người mẹ được chống gậy, nếu còn sống, không gậy. 30 Chồng đề tang vợ lẽ và nàng hầu dù có con hay không cũng đề 3 tháng. 4o Anh chị em ruột đề tang nhau một năm ; chị dâu em dâu tang rút xuống 9 tháng, cũng như chị và em gái đã đi lấy chồng tang cũng rút xuống 9 tháng. Chị và cm gái đã lấy chồng bị chồng bỏ, trở về không con, tang được giữ nguyên một nám. 50 Anh chị em thúc-bá đề tang nhau 9 tháng, vợ những người này tang rút xuống 5 tháng ; chị cm thúc-bá đã đi lấy chồng, tang cũng rút xuống 5 tháng. 60 Anh chị em họ cháu chủ cháu bác đề tang nhau 5 tháng ; vợ những anh em này, tang rút xuống 3 tháng; chị em cháu chủ cháu bác đã đi lấy chồng, tang cũng rút xuống 3 tháng. 70 Anh chị eni chắt chú chắt bác đề tang nhau 3 tháng : vợ những anh em này và các chị em đã lấy chồng, không tang. 80 Anh chị em cùng mẹ khác cha đề tang nhau 5 tháng. Vợ những anh cm này không tang. Con cái những người này cũng không để tang nhau.

Do Anh chị em con cô con cậu hoạc đôi con di ruột đề tang nhau 3 tháng. Anh chị em cháu cô cháu cậu không tang.

Trang sách 342.. 343 -aer TANG CON VÀ CHÁU BẰNG VAI CON Con cái phải đề lang cha mẹ, cháu phải đề tang chú, các cô di, nhưng cha mẹ cũng phải đề tang con và chú, các cô di cũng phải đề lang các cháu. 1o Cha mẹ đề tang con trai một năm, con cả cũng như con thử người con chết không được có gậy dù đã có con. Tang nàng dâu trưởng một nắm, nàng dâu thứ 9 tháng. Các con đã đi làm con nuôi người khác, lúc chết cũng được bố mẹ đề lang như các con khác. 2º Tang con gái một năm, đã xuất giá tang rút xuống 9 tháng,; tuy. nhiên nếu xuất giá mà chồng chết hoặc bị chồng bỏ, tang lại được trở lại một năm. 30 Cha mẹ vợ đề tang con rể 3 tháng. 40 Bác, chú, cô ruột đề tang cháu trai một năm, cháu dâu 9 tháng.

Cháu trai đã làm con nuôi người, tang rút xuống 9 tháng; vợ người nây tang rút xuống 5 tháng. Tang cháu gái cũng một năm như cháu trai; nếu đã lấy chồng, lang rút xuống 9 tháng. 50 Bác ngoại và cậu ruột đề tang cháu trai 3 tháng và chảu gái 5 tháng dù đã lấy chồng hay chưa. 6o Bác, chú, cò bọ đề làng cháu trai 5 tháng, cháu đâu 3 tháng.

Tang cháu gái cũng 5 tháng, nếu đã lấy chồng rút xuống 3 tháng.

TANG CHÁU 1o Ông bà đề tang chảu trai đích-tôn một năm, cháu dâu đich-tôn 5 tháng. 20 Tang các cháu trai và cháu gái khác là 9 tháng, các cháu dâu, tang rút xuống 3 tháng. Cháu gái đã xuất giá được ông bà đề tang 5 tháng. 30 Ông bác, bà bác, ông chú, bà thim ruột để tang các cháu trai gái 5 tháng, các cháu dâu 3 tháng. Các chán gái đã xuất giá, lang rút xuống 3 tháng.

Trang sách 34340 Ông bác, bà bác, ông chú, bà thím họ đề tang các cháu trai gái 3 tháng. Cháu dâu và cháu gái đã xuất-giá không tang. 50 Ông bà ngoại đề tang các cháu trai gái 3 tháng. Cháu dâu và cháu gái đã xuất-giá không lang.

TANG CHẮT Cu đề tang các chất nội, - con người cháu trai gọi mig. bha ngoại cũng không lang.

TANG CHÚT Kỵ đề tang các chút tứ đại do chắt nội sinh ra, 3 tháng. Chút dâu' chút gái đã xuất giá và chút ngoại không tang.

TANG NGƯỜI TÔNG-THUỘC Theo trong ngũ-phục, tông-nhân không có tang, nhưng đề giữ tông thống, những lông-nhân giữ từ-đường, thừa-lự tổ tiên, cả hai vợ chồng đều được đề tang 3 tháng.

TANG CON CHỒNG 1o Đích-mẫu, kế mẫu và từ-mẩu đề tang các con chồng và nàng dâu cả một năm, nàng dâu thứ 9 tháng.

Kế mẫu lại đi lấy chồng mà con chồng trước đi theo, tang người con ấy một năm và người con ấy báo tang lại cũng một nam. Tang giữa người con này và anh chị cm con người kế mẫu với chồng sau đều 5 tháug. 20 Giá-mẫu, xuất-mẫu tang các con đẻ minh một năm. Con gái đã xuất-giá, tang rút xuống 1 tháng. Và đề bảo tang, người con gái này cũng đề tang 1 tháng. Chồng của giá-mẫu, xuất-mẫu không tang.

Trang sách 344TANG HỌ NHÀ CHỒNG 1o Cụ, kỹ, ông và cụ, kỵ bà chồng đều tang 3 tháng. 20 Ông bà chồng tang ? tháng. 30 Anh chị em ruột với ông bà chồng, tang 3 tháng. Người đã xuất. giá không tang. 40 Ông bà sinh ra mẹ chồng tang 3 tháng. 50 Bố mẹ chồng, tang 3 năm. Chồng dù có đi làm con nuôi nhà người, tang vìn theo như chồng. Khăn trắng, quần áo sô số gẫu, trải sống. 60 Bác trai, bác gái, chú, thim, anh em ruột với cha chồng, tang 9 tháng. Cô chồng, - chị em ruột với cha chồng, -- tang 5 tháng. 70 Ông bác, bà bác, ông chú, bà thim họ và bà cô họ, lang 3 tháng.

Đã xuất-giá, không tang. 80 Anh chị em ruột với chồng và vợ của anh em đều tang 5 tháng. 90 Tang chồng 3 năm. Tang phục như tang cha mẹ. 100 Anh chị em họ thúc bá và vợ những anh em họ này, tang 3 tháng. Các chị em bọ đã xuất giá không lang. 110 Thứ mẫu để tang vợ lẽ và nàng bầu cha chồng một năm. 120 Con đẻ các con chồng, con dâu cả của chồng, tang một năm.

Con dâu thứ và con gái đã xuất giá, tang 1 tháng. 130 Anh em chị ruột chồng, tang một năm. Chị em dâu và chị em gái chồng đã xuất-giá, tang !) tháng. 140 Cháu chủ cháu bác tang 5 tháng ; cháu dâu và cháu gải đã xuất- giá, lang 3 tháng. 150 Cháu trai cháu gái con nhà chủ bác, tang 3 tháng; cháu dâu và cháu gái đã xuất giá không lang. 16o Cháu trai cháu gái gọi bằng bà (tôn), tang 9 tháng ; cháu dâu và cháu gái đã xuất-giá không tang.

Trang sách 34517o Chắt chút trai gái, tang 3 tháng ; chắt chút dâu và chắt chút gái đã xuất-giá không tang. 180 Cậu chồng, di chồng, tang 3 tháng.

Mười tám trường hợp trên áp dụng cho đàn bà đề tang họ nhà chồng, nhưng nếu đã ly-dị, linh nghĩa coi như đã hết, không phải bỏ buộc để tang. Cũng có khi còn nghĩ đển nghĩa cũ, người dàn bà có thể lự mình để lang, nhất là đối với các con mình.

TANG HỌ NHÀ VỢ Chàng rê để tang bố mẹ vợ một năm, ngoại giả không phải đề tang ai. Vợ chết, lấy vợ khác, tang bố mẹ vợ trước vẫn đề như vợ còn sống.

NANG HÀU ĐỂ TANG HỌ NHÀ CHỒNG 10 Cha mẹ chồng, lãng một nam. 20 Chồng, tang 3 năm, quần áo sô gai, sở gấu. 30 Vợ cả, tang một năm. 40 Các con chồng và con minh sinh ra, lang một năm.

NĂNG BẦU ĐỀ TANG HỌ NHÀ MÌNH Cha mẹ sinh ra mình một năm.

Đối với họ mình cũng như đối với họ chồng, họ hàng bàng thân đều không lang.

Theo sách lễ thì như vậy, nhưng trên thực tế, những người nàng hầu vẫn để tang họ nhà minh và có khi cả họ nhà chồng như mọi người đàn bà khác đã xuất-giá. Trước sự đau đớn mất một người thân, không ai nỡ lấy gia-lễ ra để cấm đoán một phụ-nữ để tang một người, nhất là khi người chết lại là ruột người thân mến của người sống.

Trang sách 346GÁI XUẤT-GIÁ ĐẺ TANG HỌ NHÀ MÌNH Qua các tiều mục trên về tang chế, la thấy rằng người con gái khi đã xuất-giá, các tang đều có giảng, và nếu đã đi lấy chồng lại bị chồng bỏ, hoặc chồng chết không con, trở lại nhà minh, các lang đều trở lại như còn con gái. 1o Cu ky ông bà, tang như anh em trai. 20 Anh chị em ruột với ông, tang 3 tháng, bà cô đã lấy chồng không tang. 30 Cha mẹ sinh ra minh, tang lột năm, quần áo vén gấu. 40 Anh chị em ruột, chị em dâu với cha, tang ! tháng. 50 Anh chị cm chủ bác với cha, tang 3 lháng. Đã xuất giá không tang. 6o Anh chị em ruột, tang 9 tháng, chị dâu tang 5 tháng. Trường hợp cha đã chết rồi, phải để lang một năm người trưởng nam, là người giữ việc phụng thờ cha mẹ. 70 Anh chị em thúc-bá, lang 5 tháng, vợ các anh em này không tang. Chị em đã lấy chồng, tang 3 lháng. 80 Anh chị em con của cô ruột, tang 9 tháng ; vợ anh em này và chị cm đã lấy chồng, làng 5 tháng. 90 Anh chị ei cháu chú cháu bác, long ba tháng ; vợ anh em này và chị em đã lấy chồng, không tang. 10° Anh chị em con di, còn già, tang 3 tháng.

Theo sách lễ, con gái đã lấy chồng đễ tang cha mẹ ruột một năm, quần áo vén gấu, nhưng trên thực-tế, nếu cha mẹ chồng đã chết, thường tang vẫn đề ba năm để tỏ sự nhớ thương và lúc đưa đám tang phục cũng sô gai, duy chỉ có áo không trái sống.

TANG HỌ CHA MẸ NUÔI 1o Ky, lang 3 tháng ; 20 Cu, tang 5 lháng ;

Trang sách 34730 Ông bà, tang một năm ; 1o Cha mẹ, tang ba năm như cha mẹ đẻ, áo quần sổ gấu và có gây.

ăo Từ ông bà trở lên, nếu minh là con nuôi lập-lịị, lại là thừa- trọng, tang cũng ba năm, y phục cũng như tang cha mẹ, có gậy; 6o Ông bà ngoại, lang 5 tháng ;

Ngoài các trường-hợp trên, họ hàng bàng thân đều không tang.

NGƯỜI ĐÃ ĐI LÂM CON NUÔI ĐỂ TANG HỌ NHÀ MINII Khi đã đi làm con nuôi, nhất là con nuôi lập tự, tang họ nhà mình phải giảm xuống một bậc, và có nhiều tang bị bỏ hẳn. 10 Ông bà nội, lang :) tháng ; 2o Cha mẹ, lang một năm có gây : 30 Bác trai, bác gái, chủ thim và cô, tang 9 tháng ; cô đã lấy chồng, tang 5 tháng; to Anh chị cm ruột tang ?) tháng ; chị em dâu, tang 3 tháng. Chị em đã lấy chồng lang 5 tháng. 50 Ông bà ngoại, tang ở tháng.

TANG BẰNG-HỮU Anh cm hạn là một trong ngũ-luân, nên cũng có lệ đề tang 3 tháng.

Trên thực-tế, các bạn thân lúc đi đưa đám bận tang phục nhưng sau đó rất ít người mang tang.

TANG THẢY HỌC Trinh-Tử nói : Thảy không đặt lệ lang, nên lấy linh hoặc hậu hoặc bạc mả xử, như ông Nhan-Uyên, ông Mẫn Tử-Khiên ở với Đức Không- Tử dẫu sô gai ba năm cũng chưa hết nghĩa.

Trang sách 348T hày học là người đào tạo nên mình, phải coi như cha. Việc đề tang thày học phải tùy-nghi mà xử sao cho phải thì làm.

TANG HÀNG XÓM Trong sách về tang-lễ không nói đến tang hàng xóm, nhưng ca-dao ta có cầu :

Hàng xóm còn đề ba ngay.

Chồng có up cậu một ngày cũng không.

Theo câu ca dao, hàng xóm để tang nhau trong lúc đám tang, sau đó bỏ khắn đi. Tình hàng xóm cũng thân thiết nhi lình bè-bạn, và ta vẫn bằng nói « Bán anh em xa maa láng giềng gần », lúc chết đề tang nhau là hợp ngbĩa.

Lân bang hàng xóm lúng giêng ;

Phương-ngôn : Tắt lửa lối đèn có nhau.

Phải nên lương ái lương cầu Anh em xa để có đâu thân bằng !

ĐẦY TỚ ĐỀ TANG CHỦ NHÂN Cũng như trường hợp học trò đề tang thòy, tang chế không nói tới trường-hợp đầy tớ phải đề tang chủ-nhân, nhưng tinh-nghĩa t* chủ tuy không thuộc trong ngũ-luân, cũng có sự ràng-buộc, khi người đầy-tớ còn đang làm việc với chủ.

Đầy tớ chết, chủ phải lo-liệu chôn cất, lo cúng-bái, thì khi chủ chết, đầy tớ cũng phải tỏ ân tinh. Thường đầy-tớ cũng thương-sót chủ nhà, và có nhiều đầy tớ được chủ coi như con nuồi.

Chủ chết, trong suốt khi cử hành đám tang, đầy-tớ lỏ lòng thương đau, đề tang chủ, đội khän trắng áo trắng vén gấu, và khi đưa đám cũng ăn mặc như vậy.

Có khi ân-tình nặng, đầy lớ để tang chủ như cha mẹ nuôi, khóc- lóc sót-sa đau-đớn không kém gì ngưrời trong máu mủ.

Trang sách 349THUỘC-HẠ ĐỀ TANG QUAN THÂY Tại các nơi công-sở có lơ, làn, lại các bộ cỏ lại-điễn, cũng như ngày nay tại co-sở công rộng đều có công chức phục-vụ. Đứng đầu mỗi công-sở đều có một vị chỉ - huy và các vị phụ-tá, có văn có võ: lại các phủ huyện có các vị tri-phủ, tri-buyện, phụ-lá các vị này có các trợ-lá, các cai cơ, đội-lệ ; tại các tỉnh có các vị rổng-Đốc, Tuần-Phủ, Bố-Chánh v.v.... phụ-tả các vị này có các Thượng-lá, Lãnh-binh v.v..., tại các bộ có quan Thượng Thư, ngày nay là Tổng-Trưởng, Bộ-Trưởng.

Tơ, lào, lại điên là thuộc-hạ của các vị chỉ-huy trên.

Đối với các vị chỉ-huy này, nếu đang tại chức chẳng may thất-lộc các thuộc hạ đê tỏ ân tinh thường đến viếng thăm và trong lúc đi đưa cũng mang khăn trắng đề tang.

Thời xira ân tình sâu-đậm, các thuộc-hạ khi thượng cấp chết thường đến phục-dịch tang lễ cho đến hết ba ngày, và luôn luôn trong thời gian này họ đội khăn trắng đề mang lang. Lễ tất-nhiên họ có trướng đối phúng viếng như học trò phúng viếng thày, đầy-tớ phúng- viếng chủ, hàng xóm phủng-viếng nhau.

Khi vợ các cấp chỉ-huy chết, các thuộc hạ cũng tỏ tình như đối với chính cấp chi-huy.

Tục-lệ đem ân-tình ràng-buộc. Ngày nay tục-lệ lốt đẹp này tuy không còn giữ nguyên-vẹn như xưa, nhưng khi một cấp chỉ-huy hoặc vợ mệnh-một, các thuộc hạ thường phúng điếu, thăm viếng đi đưa, cũng có người đến phục dịch tang lễ không khác chi thời trước. Ngay ở giữa Đô thành và các thị trấn, tục-lệ này vẫn được duy-trì. Năm 1961, dới thời Chính-phủ Ngô-đình-Diệm, có một vị Bộ-trưởng kiêm Tổng- Giám-Đốc một Tổng-nha, có vợ chết. Các thuộc viên tại Bộ và tại Tổng- nha đều có đờ phúng-điếu chia buồn. Lại có hẳn một số ân tình thâm- nặng đã cùng kéo nhau tới phục dịch tang-lễ như kẻ ăn người ở trong nhà đúng với tục xưa từ lúc bà Bộ-trưởng nằm xuống cho đến khi hết đám tang. Đáng khen là các thuộc viên này có đủ các cấp, cao-cấp, trung-cấp và hạ-cấp. Họ đã giữ lễ xưa để khăn tang, mặc áo tang vền gấu trong suốt tang-lễ và lúc đi đưa đám.

Trang sách 350TANG VUA CHÚA Trong sách tang lễ không nói gi đến việc thần-dân cũng như văn. vỗ bá-quan phải đề tang vua chúa ra sao. Thường khi Hoàng-đế, Hoàng hậu, hoặc Thái-bậu bàng hà, trong khi Triều đình củ hành tang-lễ thì thần dân đề tang trong suốt thời-kỳ lang lễ cin quan vàn võ để tang vua cũng như học trò đễ tang thày học, lâu chóng lùy chức vụ và cũng tùy ân-tinh, không sách nào ấn định.

Năm 1820, khi vua Gia-Long băng-hà, hoàng-thái-tử, tíre là vua Minh-Mệnh có ra chỉ dụ ngày Mậu-thân, 5-2-1820, đề ấn-định việc đề tang vua cha từ hàng các hoàng-tử, phi-lần tới thần dân.

Then chỉ-dụ này, các quan vän võ lừ lam phẩm trở lên để tang ba năm, áo vén gầu ; các quan từ tứ phẩm tới lục-phẩm đễ tang một năm, áo vén gấu ; các quan từ thất-phẩm đến củu-phẩm để lang chín tháng, áo vén gấu.

Con các quan cũng phải đễ tang :

- Trưởng-tử các quan nhất phẩm đề tang một năm, - Trưởng-tử các quan nhị-phẩm độ tang chín tháng, - Trưởng-tử các quan tam phầm để tang nám tháng.

Các bà vợ chính thất các quan từr lục phầm trở lên cũng đề tang theo chồng.

Ngoài việc ấn định lang chế, chi-dụ còn cấm việc hỏn thú trong một thời gian :

Các quan văn võ từ tam phẩm, trong bách nhật không được kết-hôn, Các quan vàn võ từ lử phẩn trở xuống, trong hai tháng, - Lính-tráng và thần đân trong 27 ngày.

Cbỉ dụ cũng cấm mọi sự hoan lạc trong một thời gian :

- Không được dụng hồng sắc, tổ chức ca nhạc trong 27 tháng đối với các quan lừ tam phẩm trở lên.

- Trong một năm đổi với các quan từ lục-phẩm đến tứ-phẩm.

Trang sách 351- Trong 9 tháng đối với các quan tir thất phầm đến cửu-phẩm.

Tại kinh-đô cũng như các nơi, suốt 27 tháng, trong những ngày sóc- vọng không có triều-kiến. (uần áo lòe-loọt không ai được mặc, trừ trong những buỗi lế-lễ.

Về tang-phục, các quan từ tư phẩm đến lục-phẩm đầu đội khăn vải trắng, mặc áo cổ chén, các quan từ thất-phẩm đến cửu phẩm, đầu đội khăn vải trắng, áo ngắn, dùng thứ vải thô đen.

Chỉ-dụ không nói tới tang-phục của các quan từ tam phẩm trở lên, nhưng lẽ tất nhiên các vị này phải ăn mặc theo đại-tang, chỉ có khác là ảo vén gấu.

Không nói tới thời gian đề tang của quân-lính và thần-dân, nhưng theo như cổ-lệ, trong những ngày tang-lễ cử hành quân-lính và thần dân có mang tang, và chợ búa trong thời-gian đó cũng không họp.

Chỉ dụ trên được ban-hành nhân tang-lễ vua Gia-Long, nhưng sau đó vẫn được áp-dụng mỗi khi hoàng-đế băng-hà, trừ trường-hợp mấy vua bị hạ-sát khi quân Pháp mới xâm-chiếm nước ta.

Việc thần-dân và quân-lính đề tang vua, khi vua Khải-Định bằng hà năm 1925, không thấy có ở các tỉnh, và có lẽ ở ngay kinh-đô cũng đã giảm bớt đi nhiều. Cỏ chăng chỉ những lính cận vệ, và một số dân- chúng có cảm-tình với nhà vua còn đề lang vua, TRÙNG-TANG Có nhiều gia-đinh gập những hồi không may, trong nhà thường có đôi ba tang một lúc, hoặc cũng có khi, tang nọ chưa hết đã gập tang kia tới. Gập những trường hợp trùng tang này, người để tang phải theo lễ mà thay tang-phục hẳn hoặc đề rồi trở lại tang cũ tùy theo sự thân sơ giữa mình và người chết, tùy theo trọng tang hoặc khinh-tang có trước hay sau.

Trang sách 352TRỌNG-TANG GẬP TRỌNG-TANG Tang cha, tang mẹ và tang chồng là trọng-tang.

Đang có trọng-lang chưa xong, không may lại gập thêm trọng-tang nữa thì đến ngày trừ tang trước, làm lễ đại-tường xong, lại mặc đờ tang-phục đại-tang để lang sau.

Bằng người chết sau chira kịp chôn đã nhằm vào ngày đại lường của người chết trước, không được mặc trờng phục, phải thay ngay sang tang phục người chết sau. Theo sự tin lưởng của ta không nên đề nối tang, nghĩa là không nên dùng tang phục của người chết trước đề mang tang người sau. Còn tại sao, không làm lễ đại-tường để mặc tường phục rồi mới thay sang tang phục, nếu người chết sau chưa chồn ? Vì tường là cát-lễ, chưa chôn là hung, không nên làm cát-lễ giřa lúc hung.

TRỌNG-TANG GẬP KHINH-TANG Đang có trọng-tang, tang cha mẹ chẳng hạn, gặp phải khinh-tang như tang anh em, dẫu chỉ là lang 3 tháng, cũng nên đến khóc, lúc thành cũng nhận tang-phục, mặc tang lúc đi đưa đám rồi tới ngày tuần đầu tiên, rằm hay mồng một, mang tang-phục lới đặt lên bàn thờ lễ khóc, rồi sau đó lại mang trọng-lang. Trường-hợp trọng-lang đã trừ, khinh-tang chưa hết, sau khi trọng-tang, lại phải mang một khinh- tang.

Đổi với những ngrời tha hương cỏ trọng-trang đang ở nơi xa-xôi, được tin có khinh-tang thì làm lễ khóc người mới chết, mặc đồ khinh. tang rồi ngày hôm sau lập bàn thờ lễ khóc lần nữa, đoạn lại mang trọng-tang.

KHINH-TANG GẬP TRỌNG-TANG Đang có khinh-tang gặp trọng-tang, phải mang trọng-tang KHINH-TANG GẬP KHINH-TANG Đang có khinh-tang mà gặp khinh-lang nên đi thăm viếng và dùng tang-phục đi đưa. Nếu tang sau dài hơn tang trước, hết tang trước để

Trang sách 353liếp lang sau, nếu tang trước còn dài hơn lang sau, hết tang truớc là hết.

MÀU TANG Như trên đã nói, lang sắc của Việt-Nam màu trắng, trừ trường hợp các chắt và chút đưa đám cụ và kỳ. mới mang khăn vàng và khăn đỏ. . khinh-tang, vải Gọi là mân trắng, nhưng giữa các trọng lang và trắng cũng khác nhau.

Các con để lang cha mẹ, vợ để tang chồng trong những ngày đám lúc đi đưa và trong ngày luần tiết, quần án sộ gai, sở bấu, đầu đội mũ mẫn cũng vỏi sô, - một thứ vải màn thô-kệch, màu trắng dục. Các con trai trên đầu đội một chiếc khăn rơm quấn thêm những sợi lá chuối khô. Tùy từng trường hợp, đàn-ông và đàn-bà đề tang bố mẹ chồng hay bố mẹ mình, ảo mặc trái sống, có bấu rải dằng sau lưng hoặc không.

Kề từ lúc người chết nằm xuống cho đến khi đưa đám, chân dẫm đất -đề tỏ lòng thương nhớ.

Trong lớp áo sô trắng đục, những người này còn bận thêm áo dài bằng vải to, màu trắng dục.

Các con trai cũng như các người thừa trọng, trong ngày đám, lúc đi đưa và những tuần chay vố sau còn dùng gây để lễ và tiễn người chết đến nơi an-nghỉ cuối cùng.

Những quần án trên thường chỉ bận trong ngày đám, lúc đi đưa, trong những tuần chay và trong một thời gian bách nhật, có người chỉ bận đến liết tuần tưcủ, sau đó tang phục được dẫn đị đi nhiều. Cho tới khi mãn-lang, tờng cic long nhân chỉ còn ăn vận quần áo trắng sở gấu, trái sống ; đần đội khăn ngang tức chiếc khăn bằng vải sô chứt múi để giải thông xuống sau lưrng ; chân di giầy mân trắng Có người chít ngày khăn ngang vào đẫn. cũng có người mang bên trong chiếc khăn ngang một chiếc khăn đen hoặc khăn trắng vải thô, đàn bà thì chiếc vấn đầu trắng hoặc đẹn cũng hằng vải thô.

Màu trắng chính là màu lang nhưng mâu trắng dễ lấm bần nên mỗi

Trang sách 354tang-nhân thường chỉ có một bộ quần áo sô gai dùng trong những buổi cúng lễ tuần tiết, còn ngoài ra các trọng-tang-nhân thường đem quần áo trắng nhuộm màu sám, dùng lá chàm, để mặc cho sạch-sẽ. Suốt trong thời-gian mang lang không kề quần-áo ngoài dùng tang sắc, đến những áo ngắn mặc trong cũng phải đem nhuộn.

Ta thưởng nói Vận áo sám để chỉ vào vận hạn của những người đang mang trọng tang, y-phục dùng màu sám. Trong thời gian vận áo. sám người ta thường ít gặp may-mắn, nhiễu người trong thời gian này kiêng kỳ. rất kỹ-lưỡng trong công việc làm ăn.

Đấy là về trọng-tang, còn các khinh-tang màu trắng sáng-sủa hơn và vải dùng có thể là thử vải nhỏ mịn mặt đỡ thô-kệch.

Các cháu đề tang ông bà, trong ngày đám lúc đi đưa và trong những ngày tuần tiết đều mang khăn trắng, áo trắng vén xấu, đầu đội mũ mấn. Khăn, áo và mũ may hằng thứ vải trắng nhỏ mặt, trắng hơn thứ vải dùng cho trọng-tang.

Mũ mấn là thứ mũ nhọn đầu, gặp hai mép vải khâu vào nhau, có đuôi dài độ hơn một hai tắc.

Sau ngày đám và ngoài những ngày tuần tiết ra, đề mang tang các cháu thường chỉ đội khăn trắng hoặc vấn chiếc vấn đầu trắng.

Trừ tang ông bà nói trên, trong các khinh-tang khác, tang-nhản mặc áo trắng và đội khăn trắng trong những ngày đảm, lúc đi đưa và trong những ngày tuần-tiết hoặc chạy lễ. Ngoài ra những lúc khác chỉ cần mang khắn hoặc vấn đầu trắng.

Ngày nay, màu tang đã thay đổi. Nhiều gia-đình theo Âu-Tây dùng màu đen. Thay cho sô gai trắng đục, các trọng-tang nhân, nhất là các đàn bà mặc quần áo toàn đen, đầu khoác thêm chiếc voan vải mỏng.

Trong lúc đưa đám, thay vi dẫm đất, bọ đi giày đi đép, nhất là dép dừa rát tiện dụng trong ngày tang.

Bên những người cử hành tong-lễ, dùng tang sắc theo Au-Tây, một số đông vẫn theo lục-lệ với y phục cổ truyền màu trắng. Có người vẫn hoàn toàn giữ lễ-lối xưa, nhưng đề dản đị-hóa nhiễu người chỉ mang

Trang sách 355tang-phục theo tục-lệ trong ngày đám, trong lúc đi đưa và trong những tuần tiết chay-lễ, ngoài ra đề mang lang, bọ chỉ dùng một băng đen lớn nhỏ tùy theo trọng-tang hay khinh-tang. Bằng đen quấn trên mũ, đeo trên cánh tay trái hoặc cài ngay trước ngực.

Tang-phục phải thay đổi cho hợp với y phục thường dùng ngày nay.

Việc đeo một băng đen ở cánh lay hoặc ở trước ngực rất tiện cho những người vận Âu-phục và tiện cả cho các bà các cô vận Việt phục theo kiều cải-cách.

Chính vì phải tùy-thuộc theo y-phục, nên hầu bết tại các đám tang ngày nay, ta thấy những con cháu đi đưa đám, vận quần áo Tây, nhưng trên đầu lại vấn vòng khăn trắng. Vòng khăn trắng này, sau ngày đám sẽ được thay bằng chiếc băng đen nói trên đeo ở cánh tay, ở ngực hoặc ở trên mũ tùy người.

Mang tang là để tỏ dấu ghi nhớ thương tiếc người đã khuất, tục lệ tuy bó buộc, nhưng nếu thiếu tâm thành tinh thương, dù có mang tang, sự mang lang cũng trở nên vô-nghĩa. Cồ lòng với người chết, giữ mãi không quên kỷ-niệm của người qua đời, như vậy dù chỉ đề tang bằng một mảnh vải, mảnh vải tang này cũng dầy ý-ngbĩa.

Tục-lệ phải biến đổi theo đời sống hàng ngày, tang phục lẽ đâu không biến đổi theo tục-lệ.