SINH CONPhần 3 · trang 21–34
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 21SINH CON Qua thành-phần về gia-đinh, la thấy rằng muốn trở thành cha mẹ phải có con. Con cái là mầm để nối dõi tông đường, bảo-tồn huyết- thống. Chính con cái sẽ giữ việc khói hương phụng-thờ tiên-tỏ, củng giỗ, cúng Tết.
Ta có câu Bất hiếu hữu lam, vô hậu vt đại, nghĩa là không có hiếu có ba điều thi không con là nặng nhất. Người không con sẽ là người tuyệt. tự, huyết-thống tới người đó sẽ tắt, vi vậy tông-đường không ai nối-dõi, liên lổ không ai phụng thờ.
Có tổ-tiên rồi đến ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra minh, đến lượt minh cũng phải sinh con đổ di truyền nôi-giống, tránh khỏi sự vô-hậu.
Người đàn ông lấy một vợ không có con, phải lấy vợ khác cho đến khi có con, con đây phải là con trai mới giữ được huyết thống, giữ được dòng họ. Con gái trưởng thành đi lấy chồng sẽ là con người ta.
Người đàn-bà, lấy chồng ai cũng mong có con.
Theo tục-lệ và luật-pháp xưa, lấy chồng không con là một tội, người chồng có thể vin vào tội này đề bỏ vợ được.
Trong bầy điều theo luật xưa, người chồng có thể hỏ vợ được, tội không con đứng đầu, sau đó mới tới các điều khác, xin liệt-kê ra đây đề bạn đọc cùng biết : 1. - Không con 2. - Dâm-dật 3. - Không thờ cha mẹ chồng 4. - Nhiều lời 5. - Trộm cắp 6. - Ghen-luông 7. - Có ác-tật.
Trang sách 22Không con là một tội nặng. Nhiều người đàn - bà không con đề chiều chồng thường cưới vợ lẽ nàng hầu cho chồng, và cũng có nhiều trường hợp vi muốn tránh điều mang tiếng không con, có thề bị chồng bỏ, có người vợ đã phạm lội thông-gian đễ mong có con, khỏi bị mang tiếng hiếm hoi.
Và cũng lại có những trường hợp, những người đàn-ông đã lấy năm bầy vợ vẫn không có con, hiều rằng không con là lự mình, nên đã cho vợ đi thả-cỏ, đề cầu lấy chút con người làm con mình, nhờ thiên-hạ đúc cốt để minh tráng men. Có người tìm cưới làm nàng hầu những người có chửa sẵn.
Miệng thế xưa rất độc-ác đối với kẻ không con. Kẻ không con là cô-độc, cô-quả, lúc chết vong-bồn sẽ bị đi cướp cháo lá đa.
Tóm lại, việc sinh con tại Việt-Nam rất quan trọng. Những cặp vợ chồng biếm con tim đủ mọi cách đề cho có thể có con, đi cầu tự, đi tìm ngải, trừ tà, chữa thuốc, vv...
HIẾM - HOI Không có con là hiếm-hoi.
Theo quan-niệm khoa-học biếm hoi do cơ-quan sinh-dục bất-thường, có khi của chồng, có khi của vợ và cũng có khi do bệnh tật của một trong hai người, nhưng qua sự tin tưởng và thói-lục của ta, sự hiểm. hoi có nhiều duyên-cớ về số phận cũng như về phúc đức của hai bên phối-ngẫu, hoặc bị tà ma ám-ảnh.
SỐ PHẬN Mỗi khi làm việc gì không nên hay gặp việc gì may-mắn ta thường cho là tại số.
Không con cũng là đo số-mệnh, và sau khi đã tìm đủ mọi cách đề tránh sự hiếm-hoi vẫn không sinh đẻ, hoặc chỉ hữu-sinh vô-dưỡng, người la đành quy vào cho số mình. Trăm đường tránh chẳng khỏi số.
Và người ta tin vào vận mình.
Trang sách 23Hiếm-hoi cũng là một điềm quả-báo. Có lễ kiếp trước người ta đã độc-địa nên kiếp này phải chịu cảnh cô-độc cô quả trước miệng-tiếng thế-gian. Đề chuộc tội, người ta phải tu-nhân tích-đức mong lòng thành thấu tới cử-trùng thiên, họa may Trời Phật có thương thay đỏi cho số-mệnh, ban phát cho mụn con đề tránh cảnh hiếm-hoi.
TIỀN-OAN NGHIỆP-CHƯỚNG Chịu ảnh hưởng của Phật-Giáo, ta tin theo thuyết luân hồi và đời sống của ta ngày nay chỉ là cái quả của những hành-động kiếp trước.
Hiếm-hoi là chịu sự trừng-phạt của tiền-oan nghiệp - chướng. Gặp cảnh này, chỉ có cách cầu cúng lế bái, làm nhiều điều thiện, giải oan- nghiệp cho kiếp trước.
TÀ MA ÁM-ẢNH Tục lệ cũng tin rằng tà ma có thể ám-ảnh người, và gây nên cảnh hiếm-hoi, nhất là cảnh hữu sinh vô-dưỡng. Đối với nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn, có đẻ mà chẳng có nuôi, ta thường hay nhắc tới những truyện tiền thê tiền phu, nghĩa là người vợ kiếp trước đã có chồng, hoặc người chồng kiếp trước đã có vợ, nhưng đôi bên ngang trái không sống được cùng nhau trọn kiếp, cho nên kiếp này người chồng hoặc người vợ kiếp trước chưa đi đầu thai, còn theo ám ảnh.
Hoặc cũng có khi, người đàn bà đã có người dạm hỏi trước nhưng duyên nợ không thành, người đó chết đi, nay vong-bồn luyến-tiếc theo ảm-ánh người vợ.
Và người chồng cũng vậy, có thể trước đã dạm hỏi một người nào, rồi chẳng may người đó mệnh một, nay vong-hồn nghĩ đến tinh-nghĩa, theo đuổi ám-ảnh.
Trong những trường-hợp này cần phải cúng để giải sự theo đuổi của vong-hồn người khuất. Ta thường tụng kinh siên-độ cho những người này.
Trang sách 24Cũng có khi tà ma do có kẻ nào thù hằn nhờ bọn thầy pháp sai- khiến ám-ảnh.
Những người hữu-sinh vô dưỡng còn cho là bị giặc Phạm Nhan quấy nhiễu, Phạm-Nhan là tên tướng Nguyên trước sang xâm chiếm nước Nam, bị giết chết, oan hồn còn theo đuổi dân Nam đề hãm hại đàn-bà sinh đẻ.
Bị tà ma ám ảnh cũng như bị giặc Phạm Nhan quấy nhiễu, phải cúng trừ và phải có bùa yềm.
ĐÔI VỢ CHỒNG XUNG KHẮC Trước khi vợ chồng lấy nhau ta thường so đôi luổi, nếu gặp tuổi xung-khắc đôi bên cứ lấy nhau sẽ có thế gặp nhiều điều không may trong đời mà việc hiểm-hoi là một.
Đề tránh sự hiếm-hoi trong trường hợp này, thường khi theo số phải nuôi con nuôi, rồi mới sinh con đẻ. Cũng có khi số dạy người vợ cả phải cưới vợ lẽ cho chồng rồi mới có thể sinh con được, hoặc giả nếu không, người vợ lễ sẽ sinh con thay thế cho mình. Nhiều người vọ cả mong-mỏi có con đã không nghĩ gì đến sự ghen-tuông và chính tự minh đã cưới thiếp cho chồng.
Qua mấy lý do trên nêu ra, ta không thấy nói gì đến sự bệnh tật của chồng hay của vợ, cũng như không nói gì đến sự thất thường của cơ-quan sinh dục của hai người. Tất cả lý-do nêu ra đều dựa vào lẽ thần bí và một cặp vợ chồng nào hiểm-hoi, bao giờ cũng là lỗi ở vợ, tuy đôi khi cũng có lỗi ở chồng :
- Hoặc người vợ vì lẽ quả-báo mà không con.
- Hoặc người vợ vì lẽ tiền-oan nghiệp-chướng mà không con.
- Hoặc người vợ bị tà ma ám-ảnh, tiền phu quấy rối.
- Hoặc người vợ xung-khắc với chồng.
Trang sách 25Bởi các lẽ trên, nên người đàn-bà nào lấy chồng cũng mong-mỏi cỏ con, và muốn cho được có con, nhiều người vợ đã chịu hy-sinh mọi mặt, kể cả tình yêu của chồng, trường hợp cưới vợ lẽ cho chồng, kê cả lai-tiếng của mình, trường-hợp kiếm con bằng lối thả-cỏ.
Muốn có con, ngoài các việc cầu cúng, chiều chồng, người ta thường đi cầu-tự đề xin con.
LỄ CẦU-TỰ Lễ cầu-lự tức là lễ cầu thần thánh ban cho mình đửa con lập-lụ về sau.
Xưa nay ta tin tưởng ở thần quyền và thần thánh là những vị có thề trừng-phạt ta hoặc giúp đỡ ta về mọi phương-diện, kể cả việc cho ta một đứa con.
Người ta thường cầu-tự ở đinh, chùa hoặc đền miếu, nhất là tại những nơi có tiếng là linh-thiêng như đền Và ở tỉnh Sơn. Tây thờ Tảo.
Viên Sơn thần, đền Kiếp-Bạc ở Hải-Dương thờ Hưng-Đạo-Vương, đền Phủ-Giày ở Nam-Định thờ Liễu-Hạnh Công-chúa, và nhất là chùa Hương ở làng Yến Vỹ, huyện Mỹ-Đức tỉnh Hà-Đông, nơi có thờ Phật Bà Quan-Åm.
Trong những ngày đi chảy bội các đền chùa này, ta thường gặp giữa đảm khách đi lễ, một số các bà nạ dòng đi cầu tự. Các bà mang lễ vật tới đền hoặc chùa với một tấm lòng bết sức thành-kính.
Muốn đi cầu-tự, trước hết phải giữ minh cho thanh-khiết, phải ăn chay niệm Phật để tâm thành động tới quỷ thần. Phải tắm nước ngũ- vị để tẩy mùi sú-uế trần tục. Phải kiêng án hành tỏi.
Tới đền chùa với đủ lễ vật gồm vàng hương, hoa quả, trầu rượu, xôi kà, trường-hợp đi chùa, không dùng đồ mặn, các bì đi cầu tự lễ trước bàn thờ thần linh hoặc trước Phật-đài chỉ cầu xin một điều : xin Trời Phật Thần Thánh ban cho một mụn con trai.
Tại chùa Hương, nơi chùa Hang thiết-lập trong động, có nhiều lảng đá nỗi lên, trông hinh như các em bé. Khách chảy hội cầu tự tới
Trang sách 26xoa đầu các em bé đỏ, rủ về với mình. Nhiều tảng đá trông nhẵn thín như đầu trọc của các em bé vì trải nhiều bàn lay của các bà xoa cầu con từ bao đời nay.
Những người đi cầu tự, lúc trở về, phải tự coi như đã có một em bé đi kèm theo. Trong suốt hành-trình từ nơi cầu tự về nhà, những người này, có những bành động như một người mẹ dắt con theo, mua quà bánh, mua đồ chơi, lúc đi đò trả hai xuất tiền đò, lúc ăn cơm có thêm thức ăn dành cho em bé.
Khi về tới cửa, những người này gọi người nhà ra đón chú hay đón cậu. Từ buổi đó, đến bữa ăn phải dọn thêm bát đũa cho chú hoặc cho cậu. Người ta sắm sẵn cả nôi đề chờ ngày thấy tin lành, nghĩa là ngày người đàn-bà thấy những triệu chứng sắp thành mẹ.
Trong những câu chuyện truyền khẩu về cầu lự, người ta thường kể lại rằng những con cầu-tự rất khó nuôi, và thường hay chết yêu khi mới lên năm, lên ha. Đỏ không phải là con của Thần Thánh Phật ban cho, mà là con của lũ mẹ Danh (1) đầu thai vào, vì khi người mẹ đi cầu tự lũ mẹ Danh ở đền chùa nhận với Thần Thánh Phật đề xin cho con minh đi đầu thai, nhưng chỉ sau mấy năm chúng lại bắt về, nên đứa trẻ sinh ra bị chết yều.
Còn nếu đúng con của Thầo Thánh Tiên Phật cho thì đứa trẻ sẽ ở với cha mẹ trọn đời, và suốt đời cha mẹ sẽ luôn luôn chiều chuộng đứa trẻ cho dẫu khi lớn cũng vậy.
Ta thường dùng ba liếng con cầu lự đề chỉ những đứa trẻ nào được cha mẹ nuông chiều.
CÓ TIN MỪNG Người đàn bà sau khi lấy chồng chờ đợi ngày có tin mừng nghĩa là ngày bắt đầu có chửa. Ba tiếng có tin mừng đủ nói hết sự hân-hoan của người ta khi chắc-chắn biết sắp làm mẹ đề báo với người chồng sẽ sắp trở nên cha. (1) Con hầu đầy tớ của các vị Thần Thánh.
Trang sách 27Mặc dầu, có chửa là có tin mừng, nhiều bả vợ trẻ vẫn lấy làm thẹn. thùng và các bà cố giấu càng được lâu càng hay sự có tin mừng của mình bằng cách đánh đai bụng đề giữ cho bụng được nhỏ lâu. Tục này, ngày nay với sự hiểu-biết về khoa sản phụ, các bà mẹ đã đều bỏ hẳn.
Đối với các bà vợ có chửa là có lin mừng, trái lại đối với các cô không chồng mà chửa, thì tin mừng thật là một tai-vạ, vì sẽ bị làng nước bắt tội và sự hứng gió nồm nam, đề chỉ việc ăn vụng bụng chóng no này, xira nay vẫn là một điều xấu trong xã hội Việt-Nam. Các cô chửa hoang thường tìm cách phá thai, gây ra nhiều điều tai-hại cho chính bản thân các cô, cũng như cho đứa trẻ sau này ra đời, một khi sự phá thai không có kết-quả. Việc làm vô-nhân-đạo này xưa cũng như nay vẫn bị phong-tục và luật lệ ngăn cấm.
THAI-GIÁO Việt-Nam là một nước văn hiến tôn-trọng lễ-giáo. Con người muốn được quý trọng phải giữ lễ nghi làm đầu. Lễ nghĩa chi phối đời sống của ta từ nhỏ tới lớn.
Và ngay từ lúc còn là bào-thai trong bụng mẹ, con người cũng đã phải chịu một sự giáo dục qua người mẹ. Đỏ là thai-gláo.
Vấn-đề thai-giáo đối với ta cũng rất quan trọng, một phần vì sức khỏe của người mẹ, một phần vì mọi tư tưởng và hành động của người mẹ trong lúc có thai đều có thể ảnh-hưởng tới bào-thai trong bụng.
Chính bởi vậy, trong lúc mang thai, người đàn bà phải bó-buộc làm nhiều việc xưa nay không làm, và phải riêng nhiều điều xưa nay không cần kiêng.
Mọi người cho rằng sự ăn không ngồi rồi hại cho sức khỏe của người mang thai, và do đó ảnh-hưởng tới cả bào thai. Trong lúc cơ thai người đàn-bà nên hoạt-động chân tay, bằng việc làm. Nhiều gia- đình khá giả, xưa nay người đàn bà không phải làm lụng nhiều, trong lúc có thai cũng phải bày đặt công việc ra để cho chân tay cử-động.
Việc kiêng-cũ, lrong lúc mang thai, rất nhiều.
Trang sách 28Đầu tiên trong sự ẩm thực phải tránh những đồ quá bỏ béo, e cái thai quá lớn khó sinh.
Ngoài ra, theo sự mê-lín trong dân gian phải kiêng :
- ăn cua đề tránh sinh ngang -- ăn trai sò, ốc bến đề tránh con nhiều dãi đớt - ăn thịt thổ để tránh-khỏi sinh con sứt môi - ăn những đồ ăn, hoa quả, bánh trái củng một đám tang hay một đám cưới, để tránh con khỏi bị chứng sài - ăn những quả sinh đôi, đễ tránh sự đẻ song thai - ăn những thịt ôi, hoa quả úa, có bại cho sức khỏe và do đó tới bào thai, v.V...
Trái với sự kiêng ăn những thức kề trên, người đàn bà có thai nên ăn nhiều trứng gà đề sinh con có da dẻ hồng hào.
Những điều kiêng cữ nêu trên, luy có phần do mê-tín, nhưng trong sự mê-tín này, có lẫn cả những phương-pháp vệ sinh rất cần thiết cho người mẹ cũng như cho bào lhai.
Trong vấn đề thai-giáo, người đàn bà có thai còn phải tránh :
- mọi cảnh tượng hãi bùng hay đau-đớn - mọi cử động gian-tà - mọi ngôn-ngữ thô-bỉ - nọi sự nỗi giận - mọi tranh ảnh bất-chính - mọi sự kêu gào đề cho cái thai khỏi lây ảnh-hưởng xấu.
Đồng thời người đàn bà phải :
- nói-năng dịu-dàng - cử-chi kboan-thai - luôn luôn tươi cười - giữ cho tâm hồn ngay thẳng trong sạch
Trang sách 29- treo trong nhà, đề luôn luôn được ngắm, tranh ảnh các vị anh. hùng, các vĩ-nhân, các bà mẹ hiền từ cùng những phong-cảnh cao-nhã thanh-khiết, ngõ-hầu gây một ảnh-hưởng tốt-đẹp cho đứa con mai hậu, Qua mấy điều trên ta thấy rằng, vắn đề thai-giáo rất được chú trọng trong phong-tục.
Ca dao la có câu : Dạy con lừ thủa còn thơ, nhưng thực ra ta vẫn dạy con ngay lừ khi còn ở trong bụng mẹ, qua người mẹ.
SINH TRAI HAY GÁI Phương ngôn có câu : Có hoa mừng hoa, có rụ mừng nụ, có ý nói sinh con nào dù trai hay gái cũng là điều mừng, nhưng cao dao lại có câu :
Con gál là cin người la Và hán tự cũng nói : Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, nghĩa là một trai kê có, mười gái kề không.
Các bà mẹ mang thai, nhất là những người muộn-màng thường cầu mong sinh được con trai, tuy nhiên những người đã có con trai, con gái rồi thì con nào cũng là con, có đủ trai gái đề cho có rếp cá lẻ.
Nhiều người trong lúc có thai đi lễ bái đề cầu xin được đẻ con trai, và trong lúc có thai người nào cũng muốn biết xem mình sẽ sinh trai hay gái :
Các thuật-sĩ và lục quen thường đoán trước một đứa trẻ sẽ sinh ra là trai hay gái : a) - Theo người Tàu thì con trai nằm bên mé trái, con gái bên mé phải người mẹ, nam tả nữ hữu. Vì vậy người ta đoán rằng khi cái thai nằm chếch về mé trái, người mẹ sẽ sinh trai, còn nằm chếch về mé phải, người mẹ sẽ sinh gái. b) - Khi ngưrời mẹ đang đi, người ta gọi giật lại. Nếu người mẹ quay về bên trái sẽ sinh trai, còn quay về bên phải thì sinh gái. c) - Bụng người mẹ dẹp, sinh con trai, bụng tròn sinh con gái.
Trang sách 30d) - Khi đứa trẻ cựa trong bụng, nếu thấy động 1t, sinh con trai, còn thấy động nhiều nặng bụng, sinh con gái. c) - Nằm mơ thấy những giống vật to mạnh như voi, gấu, beo, cọp sinh con trai ; còn t bấy những giống vật mảnh rẻ như rắn, rết sinh con gai. f) - Tín ngỡng của ta cho rằng nam thuộc dương, nữ thuộc âm.
Nên tính theo tuổi chồng, luổi vợ, tháng có thai và tháng sẽ sinh người la đoán con trai hay con gải (xin xem phần Tín-ngưỡng).
Đó là những cách đoản của phương Đông. Từ ngày chung-đụng với các nước Âu Tây ta lại có thêm cách sau đây đề đoản sinh con trai hay gái nữa. 8) Lãy chiếc nhẫn cưới của người mẹ buộc vào một sợi tóc cũng của người mẹ rồi cầm đầu sợi tóc gio lòn ten trên rốn người mẹ. Nếu nhẫn lắc lư đưa từ bên nọ qua bên kia là con trai, còn nếu nhẫn soay tròn là con gái.
Đoàn là một truyện, còn đúng hay sai là truyện khác. Vì vậy nên nhiều khi theo các sự chiêm nghiệm trên, người ta đoán sẽ sinh trai, mà đến khi sinh vẫn là gái, hoặc trải lại đoán sinh gái đến lúc sinh lại sinh trai.
LÂM - BỒN Thường thường một người đàn bà mang thai chín tháng mười ngày thi sinh, nhưng theo ta thì có trường hợp có người mang thai quá thời hạn trên vẫn chưa sinh. Có lẽ :vi người ta tính nhầm tháng thụ thai, hoặc cũng đôi khi vì lý-do bệnh tật sự sinh-sản mới chậm hơn những người bình-thường, trường hợp này gọi là lên tháng.
CHỬA TRÂU Đối với những người mang thai quá thời hạn và lên tháng như vậy Iu Rọi là chữa trâu và ta gán sự chửa trâu cho một lý-do huyền-bí, chỉ ró thể chữa khỏi bằng những phương thuật huyền-ảo.
Trang sách 31Muốn cho người chửa trân sinh sơm, người chồng phải hoặc :
- Tim đến một con trâu, lén cắt đứt sợi giây thừng sỏ mũi con trâu. hoặc :
-- Lấy một chiếc cọc đóng vào chân chiếc cối giã gạo ở trong nhà.
Theo sự lin tưởng của binh-dân ta, một trong hai hành động trên của người chồng sẽ làm cho người vợ mau sinh.
SINH CHẬM Việc sinh-nở để dảng hay khó khăn tùy theo từng người đàn-bà ; có khi chưa đến giờ đến lúc đứa trẻ ra đời, người đàn-bà đã vội vàng muốn đẻ sớm, có khi đứa bẻ ở trong bụng chưa xoay hướng ra kịp.
Đối với ta sự chậm sinh như vậy cũng có những phương thuật chữa mẹo, đề cho đứa trẻ chóng ra đời.
Người chồng phải làm một, hoặc đôi ba, trong những việc sau đây :
- Trèo lên cây cau rồi ôm cây tụt xuống.
- Luồn qua những nấc một chiếc thang dựng đứng.
- Cầm một chiếc đòn gánh đứng giữa cửa nhà lao ra ngoài đường.
- Lấy chiếc lông rim mọc ở khấu đuôi con rím đưa cho vợ.
- Lật đit ông đồ rau ở giữa bếp, nhổ nước bọt vào.
- Lắng lặng sang nhà hàng xóm, tm người đàn-bà nào dễ sinh, ăn cắp chiếc giải rút quần hoặc giải rút váy mang về quấn vào - Cho vợ uống ba ngụm nước ao.
- Cầm cái thắt lưng của mình vắt qua mái nhà (thắt lưng bằng vải xưa vẫn dùng).
SỬA-SOẠN CHO LÚC LÂM-BỒN Người đàn bà có thai, khi sắp tới ngày sinh, thường tự sửa soạn một cách thật chu đáo, nào sắm sẵn nồi đất đễ chôn nhau, nào may lã và quần áo lớt-lòng cho đứa bé. Áo lớt-lỏng được kén may bằng những
Trang sách 32mảnh áo cũ của những người đàn bà đễ nuôi con. Đôi khi, đề lấy khước, người ta đi xin những áo lót-lòng của con các gia đinh đông con. Trước những ngày sinh, người đàn bà có chửa giữ gin trong mọi cử động để tránh mọi sự xây ngã rất lai bại cho lúc lâm bồn.
LÚC LÂM-BỒN • Tục tin rằng có thai nơi đâu phải sinh tại nơi đó.
Phương ngôn có câu sinh dữ từ lành nên ta cho rằng có người đến sinh tại nhà mình là một điềm không hay và người ta rất kiêng-kị.
Chinh người đàn bà có thai bao giờ cũng biết vậy, nên trong ngày sắp sinh không dán đi đâu xa, e bất thần chuyền bụng khó tìm được nơi lâm-bồn. lục kiêng này, ngày nay tuy vẫn còn nhưng đã bớt.
Mỗi lần sinh người la phải mời bà mọ, những bà cụ già chuyên-môn trông việc đỡ đẻ theo những cách thức cổ truyền. Có nhiền trường hợp các sản-phụ đã bị uổng-mạng cả mẹ lẫn con vi sự lầm-lỗ và thiếu học. thức của các bà mụ.
Ngày nay, với khoa-học tiến-bộ, mỗi lần sinh-nở người đàn-bà đều tới các nhà hộ sinh ; nếu gặp trường-hợp khó-khăn đã có sẵn bác-sỹ.
Đối với bà mụ quê xưa, khi sản phụ khó sinh, các bà cho ăn trứng fà sống đề tăng sức dặn và cho ăn cháo vừng để việc đẻ được dễ dàng.
Sau khi đứa trẻ đã sinh, các bà mụ thường cắt nhau bằng mảnb sành, bay cật nứa. Sự cầu thả này đã khiến nhiều em bé sơ-sinh bị chết oan về bệnh sài uốn ván. Các bà cũng vắt chanh vào mắt đứa trẻ đê cho sáng và moi móc lỗ mũi, lỗ miệng đứa trẻ đề khỏi nhớt-dãi.
Nhau của đưa trẻ được đặt vào chiếc nồi đất đậy kín rồi đem chôn.
Chính vi sự chôn nhau này mà cỏ thành ngữ nơi chôn nhau cắt rốn đề chỉ sinh quán của mỗi người.
Nhau phải chôn thật sâu kẻo đứa trẻ hay buỗn nôn, lại phải tránh xiợl nước mái biên đề đứa trẻ khỏi toét mắt và chốc đầu.
Trang sách 33ĐỒ PHONG-LONG Như trên đã nói, sinh đữ lử lành, cho nên mọi người cho rằng trong những ngày đầu tiên người sản-phụ mới sinh thường mang những sự không may cho người khác gọi là phong-long.
Sau khi sinh đầy cữ, người sản phụ đi đồ phong-long, cũng có nơi gọi là đồ cung-long, bằng cách mua bán một thứ gì.
Đồng tiền người sản-phụ trả cho nhà hàng, mang theo cả phong. long, nghĩa là cả những sự không may-mắn.
Nếu giữa đường, ta gặp một sản-phụ chưa đỏ phong-long, ta sẽ chạm phong-long và tự mang lấy những sự không may. Muốn tránh sự chạm phong-long, ta cũng phải đổ phong-long như sản phụ, nghĩa là phải mua bán một thứ gì để tống-khứ sự không may đi.
Người bị chạm phong-long hoặc người bị sảo-phụ đổ phong-long cho, làm cái gì thường hay đổ vỡ, đi học bài không thuộc, đi thi thi trượt, buôn-hán bị ế hàng trong suốt ngày hôn đó.
SỰ KIÊNG-KHEM SAU KHI LÂM BỒN Theo Tây phương, sản-phụ trong lúc sinh đã tổn hao sức khỏe cần phải lấm-bỗ đề mau hồi sức, trái lại theo Đông Phương ngày xưa, sau khi sinh, người đàn bà phải kiêng-khem rất nhiều.
Tục ngữ có câu : Muốn ăn miếng ngon, chồng con trả người.
Ăn cái gì cũng là độc. Các sản phụ Việt-Nam do đó, trước đây chỉ ăn cơm với muối rang hoặc với nước mắm chưng.
Nền đông-y cũng dạy rằng khi mới sinh người đàn bà dễ tắc bệnh nên phải kiêng đồ đặc, nhưng lại phải cần uống thuốc bộ đề bỏ sức-khỏe.
Lại phải kiêng giỏ lùa, phải xoa mình bằng củ nghệ có tinh chất làm cho có thể mau hời phục.
Buồng sản phụ phải đốt lửa. Người tạ thường dùng một bếp lộ
Trang sách 34than, do đó người đẻ gọi là nằm bếp. Đề tránh sự nhiễm-độc trong buồng, người ta đốt lá sơn.
Sinh con là một điều hệ-trọng. Sự sinh-đẻ này chứng tỏ người đàn. bà không phải là hiểm-hoi, và gia-đình nhà chồng cũng chưa là tuyệt- tựị, nếu sinh được con trai.
Nhưng sinh con là một truyện, sinh con rồi còn phải nuòi con.
Nuôi con cũng quan-trọng không kém gì sinh con.