HÕN NHÃNPhần 9 · trang 151–199

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 151HÕN NHÃN Phương ngôn có câu : nữ thập lam, nam thập lục là có ý nói con gái mười ba tuổi, con trai mười sáu luổi đã bắt đầu có thể biểu được sự đời.

Cản cử theo câu phương ngôn trên, xưa kia tại nước ta việc giá-thủ được cử hành rất sớm, thường con trai 15, 16 tuổi đã được bố mẹ lo kén vợ, và con gái mới 13 luổi cũng được bố mẹ linh lới truyện gả chồng.

Tuy vậy cũng có người, việc lấy vợ thường để rất muộn, nhất là đối với các thư-sinh. Những thư-sinh này họ lo thi đậu trước, lấy vợ sau, và việc lấy vợ, cũng được coi như thi đậu, bởi vậy người xưa mới nói thi đậu là đại đăng khoa, còn lấy vợ là tiểu đăng khoa.

Tục-lệ cưới xin của ta phần lớn bắt chước theo phong tục Tàu và ta cần trọng trong vấn đề giá thú.

Nói tới những tục-lệ về hôn-lễ trước hết xin định nghĩa hai chữ Giá-thú.

GIÁ-THÚ Thân trọng-Huề trong « Học-Luật-lệ An-Nam », nói Giá-thú là một cát lễ mà người đàn bà rời bỏ nhà mình đề về nhà chồng.

Theo lục-lệ xưa, con gái đã lấy chồng phải theo chồng không được về nhà mình. Khi cha mẹ còn sống còn được về thăm một đôi lần, nhưng khi cha mẹ đã khuất núi, người con gái đã lấy chồng không được về ở với anh em trai mình.

Lấy chông gánh vác giang-sơn nhà chồng. Tục ta, cha mẹ chồng được trọng hon cha mẹ minh, khi để tang cha mẹ chồng ý phục cũng sô-gai hơn đề tang cha mẹ đỏ.

Theo Kinh-Lễ, thiên Hôn Lễ, giá-lhú được định nghĩa hơi khác :

Giá thú là một củi lẻ nhân đó người đùn ông lo nối dòng họ nhà mình, gây dựng con cháu.

Trang sách 152Đúng vậy ngưrời đàn ông có lấy vợ mới sinh con cái đề nối dõi lông.

đường, và theo quan niệm Đông-phương sự nối dõi rất quan-trọng, kẻ không con nối dõi là kẻ bất-hiếu.

Vì giá-thú là một cái lễ nên phải có mệnh cha mẹ, có môi-nbân.

Người xưa cho đôi trai gái lự do lấy nhau là đáng chê. Kinh-Thi cười là người trên bộc trong dâu, Kinh-Lễ chè là kè trèo lường dòm vách, còn tại Việt.

Nam chê là op theo coi không phải trong hàng bố-kinh. Chính luật pháp của ta ngày xưa cũng nghiêm cấm sự hòa gian, thông gian.

Vọ chồng là cội dễ của xã-hội, việc giá thú do đó phải theo lễ mới hợp đạo người.

KÉN VỢ, KÉN CHỒNG Nói theo lễ mới hợp đạo người không phải là bảo rắng cứ bai người nào cũng lấy nhau thoo lễ được. Lễ chỉ cử hành sơ khi một cập trai gái đã thuận tinh nhau và đã được đỏi bèn cha mẹ đều tng.

Đi đến sự thuận linh phải có sự kén chọn. Trai đến tuổi kén vợ, gái đến luổi kén chồng ! Nói thi nói vậy, thực ra, ngày xưa, sự kén vợ kén chồng do bố mẹ định đoạt nhiều hơn là chinh do các đương sự.

Như trên đã nói, trai gái Việt Nam thành-hôn rất sớm, đâu đã dủ khôn ngoan để kén lấy người trăm năm nên việc kén chọn phải do bố mẹ.

Lấy vợ kén lồng, lấy ching kẻn giống, các hậc cha iẹ mới đủ hiều biết đề tìm tông tìm giống cho con cái minh. Việc kén chọn xưa không giống ngày nay. Điều chủ trọng đầu tiên là phải môn-đăng bộ đối, nghĩa là gia. thế đòi bên nhà trai nhà gái phải tưong xứng với nhau, và địa vị xã-bội của đôi bên cũng ngang nhau.

Kén vợ cho con người ta kén con òng cháu cha, cũng như kén chồng cho con người chú trọng đến đòng dòi của chàng rề.

Tuy việc cưới xin liên quan lới mình nhưng con hiếu không bao giờ cưỡng mệnh cha mẹ. Con gái cha nẹ đặt đâu nới đấy, nghĩa là gả bán cho ai phải ưng người đó làm chồng, còn con trai cũng vậy, cha mẹ đã kén vợ cho không bao giờ lừ chối.

Trang sách 153Ngoài việc kén con ông cháu cha, khi kén vợ cho con, người la chú- trọng tới đức hạnh của người con gái nhiều hơn nhan-sắc. Ta đã có câu Cát nết đánh chết cái đẹp, và cũng cỏ câu : Sắc đẹp không mài ra ăn được.

Trong việc hôn nhân, tuy chú trọng tới vấn đề môn-đăng hộ-đối, nhưng người ta lại đừng dưng với việc tiền-lài. Giá thú bất luận lài. Và chính các cô gái cũng như các chàng trai cũng không lấy sự giàu nghèo làm tiêu-chuẩn trong vấn-đề hôn-nhân.

Số giàu lấy khó cũng giàu, Số nghèu chín đụn mười trâu cũng nghèo !

Trai gải chỉ chủ-trọng tới sự đẹp đôi vừa lứa :

Đôi la như lúa phơi mầu Đẹp duyên thì lấy tham giàu mà chỉ !

Việc kén chọn tuy do cha mẹ, nhưng cũng nhiều trường hợp cha mẹ để tự ý con vì ép dầu, ép mử, ai nữ ép duyên.

VIỆC GẶP-GỠ GIỮA TRAI GÁI Phong lục Việt-Nam theo phong-tục Trung-Hoa và thấm nhuần đạo-lỷ của Khổng-giáo, then đó nam-nữ hữu-biệt đề tránh những sự đụng chạm, đưa đến trò lrên bộc trong dâu. Tuy nhiên, sự lữu-biệt của nam-nũ cũng không đến nỗi quá khắl khe, vi phong lụn vẫn lạo nên nhiều dịp đề trai gái có thể gặp gỡ được nhau.

Trong gia-đinh, giữa anh em trai chị em gải cũng có sự giữ-gìn, nhưng trong những bội bè đinh đám thì trai gái lại có thề được gặp nhaul.

Tại miền Bắc có những tục hát đối giữa nam và nữ như hát quan-họ, hát ví, hát trổng quân, lại miễn Trung và miền Nam có những buổi hát hò.

Đây là những dịp trai gái gặp nhau, và có thể lim hiều nhau qua câu ca giọng hát. Hiều nhau đề thương yêu nhau, và đề rồi cùng nhau châu- trần kết bạn chử không phải biểu nhau để thành một cặp nhân-tinh, phạm lỗi với lễ giáo.

Trang sách 154Trong những ngày hội làng, bội tổng, ngoài những cặp trai gái đối bát với nhau, còn những cặp trai gải khác cũng nhân ngày bội mà gần- gũi, hiều rõ gia thế nhau, trao đổi cùng nhau một vài câu chuyện trong lúc đi xem hội, xem hát Nhiều làng có lỗ chức những buổi hát chèo, hál tuồng để dân xã và cả thiên-bạ nữa tới mua vui. Ở đây trai gái cũng được gặp gỡ nhau nhưng đôi bên cũng phải gin giữ trong vòng lễ. giáo. Những gái lẳng-lơ, trai dĩ-lính muốn cùng nhau giở trò ong bướm vượt qua lễ-giáo đều bị ọi người khinh rẻ chè cười.

Trai gái gặp-gỡ quen biết nhau trong ngày bội đề đưa tới cuộc nhân- duyên trăm nam, và phong lục cũng chỉ tha thứ trong giới hạn đó.

Những lúc gặp-gỡ này, những kỷ hội hè này là những cơ-hội cho trai kén vợ, gái kén chồng.

Ca dao ta có câu :

Chim khôn đậu nóc nhà quan, Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng !

Trai tim vợ thì kén đức, nhưng cũng có khi kén sắc, còn gái kén chồng thường kén bậc tài-boa :

Lấy chống cho đóng lấm chồng Bõ công trang điềm má hồng răng đen.

Thường trong những cuộc gặp gỡ lụi các đám hội đám hát, con trai bao giờ cũng thả lời ướm hỏi trớc :

Ai đi đâu đứy hời ai, Hay là trúc đã nhớ mai đi tim & Thường những câu hát đều là những câu ca-dao có sẵn, trong đó có thể dùng cho cả đôi bên cùng hát đễ ươm bỏi lẫn nhau :

Al ơi đợi mấy tôi cùng Tôi còn gỡ mối lo lòng chưa ra !

Nhưng cũng có câu dành riêng cho các chàng trai hoặc riêng cho các cô gái :

Thuyền ai lv-lửng hên sông Có lòng đợi khách hay không hữi thuyền p

Trang sách 155Giao vàng bỏ đấy kim nhung, Hỏi người quân lử có dùng hay cháng ?

Đã say, say chốn mỹ-miều Trăm gưom ké cố cũng liểu mà say !

Đã say, say chốn thuyền quyên, Những nơi liền của không thèm ngó qua !

Khi đã gặp gỗ nhau rồi, trai gái thường lấy miếng tràu đề làm đầu cầu chuyện. Họ mời nhau :

Yêu nhau ăn một miếng tràu Goi là nghìa củ về sau mà chào !

Ca-dao của ta nói đến miếng tràu nhiều lắm, vi nhiều khi miếng tràu nên dâu nhà người.

Ra dưôn hái quả cam xanh, Bồ ra làm bốn chiềng anh soi tràu.

Tràu này lêm những vôi tàu, Ở giữa đệm quế, đôi đầu hoa chanh.

Tràu nàu, tràu léc tràu danh, Tràu nhân, tràu nghĩa, tràu tràu la. mình, Tràu này nhuộm thắm duyên la, Đầu xanh cho đến lưổi già không phal.

Sau khi di đôi trai gái đã lìm hiều nhau, cuộc nhân duyên có thể bắt đầu súc tiến !

HÔN LỄ Trình bày về hôn lễ, ông Thân-trọng-Huề có viết :

« Người đàn-ông đàn-bà lấy nhau đầu là sự ngầu nhiên. Truy nguyên-thủy thủa « trước đời thái cố, khi loài người cơn ăn lông mặc lú, ở hang, ở lỗ, chưa có phép-tắc " khì đàn-ông đàn-bà lấy nhau như loài cầm thú, lần-lần mới lập phép tắc đề phân-biệt « với loài cầm thú. Đã lập hôn lễ thì không lễ không thành hôn ...»

Trang sách 156Xưa trong việc giá thú ta có 6 lễ: 1o Lễ nạp-thái tức là lễ đôi bên nhà trai nhà gái trao đổi sự đính- ước. Nhà trai đem tới nhà gái một cho nhạn, với ý-nghĩa là đã chọn có nơi. 20 1 ễ vấn danh tic là lễ hỏi tên hỏi tuổi, ngày sinh tháng đẻ của người con gái. 30 Lễ nạp-cút tức là lễ chấp-nhận sự đính-ước sau khi nhà trai đã so đôi tuổi, và tuổi dôi bên đã hợp nhan. 4o Lễ nạp-lê tức là lễ ăn hỏi. Trong lễ nạp-tệ, nhà trai mang hàng lụa tới nhà gái đề chứng tỏ rằng việc lửa đôi là chắc chắn. 50 Lễ thỉnh kụ tức là lễ xin cưới. 6º Lễ thân nghỉnh tức là lễ cưới. Hôm lễ thân nghinh nhà trai tới rước dâu về.

Đó là sáu lễ của người xưa, theo Chu - Công lục-lễ, nhưng phong-tục đổi dần và về sau, tại Việt Nam ta còn các lễ sau đây : a) Bắn-lin. — Sau khi người con trai đã lìm hiều và đã có ý kén ngirời con gái làm bạn trăm năm, bố mẹ chàng trai nhờ người đưa tin cho bố mẹ cô gái biết xem bố mẹ cô gái có ưng chịu hay không ung chịu thì cho tin lại, Về lục bắn tin này, luật ta xira có nói rằng : , kê rã hai người ấy có • Trước khi đi hỏi, nhà con tra: con gái phải làm hôn-thư, & bệnh-lật gì không, con vợ cả hay con uợ lẽ ».

Ngày nay, lệ lập hôn lhú không còn nữa, đôi bên chỉ nói miệng cho nbau.

Trước đây về hồi tiền chiến, một đôi gia-đình sang-trọng khi cưới xin phỏng theo sách « Văn-Công gia lẻ » làm hôn thiếp bằng giấy hồng-đào, có kê đồ lễ vật, nhưng đây chỉ là trường hợp rất bãn-hữu. b) Cham-ngõ hay xem-mặt. - Cỏ nhiều cập trai gái, đã gặp-gỡ nhau trước rồi mới lấy nhau, nhưng như trên đã nói, việc hôn nhân do cha

Trang sách 157mẹ định, nên có nhiều đôi trai gái không hề biết mặt nhau. Lễ chạm- ngõ đễ châng trai xem mặt cô gái, và cũng là dịp để cô gái thấy rõ người phối-ngẫu tương lai của mình.

Lễ lất nhiên lin đi mối lại phải nhờ ông mai bà mai. Ông bà mai thường nói hay cho cả đôi bên, đôi bên cũng nhân lễ chạm ngõ xác. nhận được lời nói của ông hoặc bà mai.

Trong lễ chụm ngỡ, đôi bôo thường khơi ra những câu chuyện đề tim hiều chú rế cô dâu, nhất là nhà trai. Muốn tim biết cô dâu trong lúc ở nhà mình, nhà trai nhìn cô dâu trong công việc làm, xét cô dâu trong cử chỉ.

Trong nhiều cuộc hôn nhân, việc chạm-ngõ chỉ làm theo lục-lệ, đôi bên hai họ đều lin cả ở ông mai, bà mai.

Giờ đây, lễ chạm-ngũ chỉ còn là một lễ theo hình-thức vì thường khi đôi bên trai gái đã biểu rõ nhau lắm, không cần phải đợi lới ngày chạm-ngũ mới biết được nhau. c) Ăn-giạm hay vấn danh - Lễ này ngày nay không còn, và đã không còn từ lâu, từ trước hồi tiền chiến.

Theo tục lệ, khi ông mai hoặc bà mai đã được nhà gái trả lời ưng thuận hôn-nhân, liền báo tin cho nhà trai biểt. Kế đó, ông hoặc bà mai dẫn mấy dại-diện của nhà trai tới nhà gái với lễ-vật, thường gồm cau tràn, chè rượu. Trong địp nây, nhà trai xin là lộc-mệnh của cô dâu, tức là tờ giấy ghi ngày sinh tháng đẻ. d) Ăn-hỏi hay nạp-lệ. - Sau lễ ăn-giạm rồi, ông hoặc bà mai liên-lạc với nhà gái đề ấn-định ngày lễ ăn hỏi.

Đến ngày ấn-định, ông hoặc bà mai dẫn nhà trai mang lễ vật tới nhà gái.

Nhà gải nhận lễ ăn-hỏi tức là chính thức công-nhận sự gả con gái cho nhà trai, và kê từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái đã nghiễm nhiên (hành cặp vợ chồng chưa cưới.

Lễ ăn-hỏi gồm tràu cau, rượu, chè và bánh trái.

Trang sách 158Những nhà cổ thường dùng bánh cặp nghĩa là gồm hai thứ bánh tượng trưng cho âm và dương. Những cặp bánh thường được dùng trong lễ ăn hỏi là bánh xôi-xê và bánh cốm, bánh cổm tượng- trưng cho đương, bánh xôi-xê lượng trung cho âm, hoặc bánh trưng và hánh đày, hánh trung vuông là âm, bánh dày tròn là dương.

Thường thường cùng kèm với bánh trưng và hánh dày có quả nem.

Bánh cốm, bánh xôi-xê, bánh trung, bánh dày và cả quả nem nữa dùng trong lễ än-hỏi đều được đựng trong bộp giấy màu đỏ hoặc bọc bằng giấy đỏ, màu đỏ chỉ sự vui mừng. Cũng có gia-đinh tbay vì các thứ bánh trên, dùng xôi gác và lợn quay.

Ngày nay đề giản tiện hơn, lại các nơi đô thị thay vì các bánh trái xôi thịt xưa, ngưrời la dùng những loại bánh mứt mới, như bánh bích- quy, bánh quế, mứt sen và có khi cả bánh trung thu nữa. Những gia- đình sang trọng thường kèm theo bánh bích-quy những chai rượu tây nhỏ, nhất là rượu sâm-banh.

Những đồ lễ ăn hỏi của nhà trai mang tới, nhà gải đặt một số lt lên bàn thờ lễ gia-tiên. Khi lễ ăn-hỏi xong, bánh trái, cau, chè, được nhà gải lại quả cho nhà trai ruột số ít, còn nhà gái dùng đề chia cho họ hàng và thân bằng cố-hữu.

Trong việc chia bánh trái, cau, chè, cau phải chia số chẵn, nhưng kiêng chia hai quả, nghĩa là phải chia mỗi nơi từ bốn quả cau, bốn lá tràu không trở lên. Con số chẵn là số dương, trái với số lẻ là số âm dùng trong việc củng lễ.

Việc chia bánh trái, cau, chè, sau lễ ăn bỏi có ý nghĩa nhà gái muốn báo lin cho họ hàng bè bạn biết là con gái minh đã đính-bôn.

Theo lối mới bây giờ, cùng chia với bánh trái, thưởng có kèm thêm tấm thiếp của đôi bên hai họ bảo tin đính bôn của đôi trẻ.

Nếu ngày nghênh-hôn không xa ngày ăn hỏi, trong thiếp có ghi rõ cả hôn lễ sẽ cử hành vào ngày nào. Trong trường hợp này có khi cùng với thiếp báo hỷ lại có cả thiếp mời dự tiệc cưới.

Việc chia đồ lễ ăn hỏi, nhà gái thường nhờ các cô gái trong họ hoặc bạn bè cô gái chia giúp.

Trang sách 159Khi nhà trai dỗn lễ ăn-hỏi lới nhà gái, nhà gái thưởng làm cơm thết.

Sau lễ ăn-hỏi đôi bên kế là giao-kết gắn bí rồi. Tuy vậy ngày xưa các cặp vị bôn phu và vị hôn thê cũng không được phép gặp nhau, trừ trường hợp đặc biệt lắm đôi bên cha mẹ mới cho phép.

Phong tục ngày nay đỏi khác, sau lễ án hỏi là đôi trai gái thường gặp nhau luôn.

Tir lễ ăn-hỏi đến lễ cưới, xưa kia có khi hàng hai ba năm, nhưng ngày nay thời gian đó thưòng rút ngắn, có khi chỉ vài bốn ngày.

Chính ngày xira, các cụ cũng vẫn khuyên "những chàng trai đã hỏi vợ thi cưới ngay để tránh sự bất-trắc của thời gian. Ca dao có câu :

Hãt vợ tbì cưới liền lay.

Chó đề lâu ngày lắm kẽ đèm pha.

Lễ ăn hỏi xong, đôi bên trai gái chờ lễ cưới là xong, nhưng theo tục xưa, có nbiều nhà gái tuy đã nhận lễ ăn-hỏi của nhà trai nhưng cũng không cho cử hành lễ nghênh-hôn sớm, có khi vì cô gái còn nhỏ tuổi quá, có khi vì cha mẹ thương con không muốn con sớm phải về nhà chồng.

SÊU, - Lễ ăn hỏi rong, chàng trai chính thức là rễ chưa cưới và phải có bồn-phận đối với nhà gái. Bồn phận này gồm có sự sêu lết và đôi khi có sự làm rể.

Sêu nghĩa là mùa nào thức ấy chàng trai phải mang đờ lễ tới biếu cha mẹ vợ chưa cưới. Có nơi tục lệ mỗi tháng mỗi sêu, nhưng có nơi việc sêu chỉ thu hẹp trong bốn kỳ:

Tháng ba chàng trai sêu đậu mới với chim ngói.

Tháng năm sêu đưa bấu, ngỗng và gạo nếp.

Tháng tám sêu cốm, hồng.

Tháng mười sêu cam và gạo mới

Trang sách 160TẾT Ngoài vấn đề sêu, còn vấn-đề lết. Trong những dịp Tết Đoan-ngọ, Tết Nguyên-đán chàng trai phải có đồ lễ tới nhà bố mẹ vợ chưa cưới.

Thường tết cũng như sêu, nhà gái chỉ nhận một nửa số đồ lễ chàng trai mang tới.

Nếu chàng trai có cố nằn-ni để cho bố mẹ vợ nhận cả thì bố mẹ vợ vẫn trả lời :

- Thày để đã nhận cả, nhưng thày đẻ gửi về biếu ông bà đằng nhà một nửa.

GIỖ Chàng rề chưa cưới, trong những khi nhà bố mẹ vợ có ky cũng phải có đồ lễ tới đề lễ ông bà gia-tiên.

Thành kính lại tâm, nhưng chính những sự sêu tết, giỗ chạp đã cụ- thề-hóa lòng thương yêu cô gái của chàng trai.

Nhà bố mẹ vợ chưa cưới nhiều khi chẳng thiếu gi, nhưng có con gái lớn gả chồng thi việc sêu tết chỉ là một sự dĩ nhiên của lục lệ.

Ngày nay, các chàng trai sau khi bải vọ thường cưới liền lay, nên việc sêu tết dần dần như không còn mấy nữa.

LÀM RẺ Ở nhiều vùng có tục làm r3. Theo tục này, chàng trai phải tới sống ở nhà bố mẹ vợ chưa cưới một thời-gian dài ngắn lùy theo ý muốn của ông bà nhạc.

Trong thời-gian ở rề chàng trai phải làm việc cho nhà vợ nhi chính làm việc cho mình. Đây là một cách đề bố mẹ vợ xét đoán chàng rẽ, và cũng là một cách tập cho chàng rễ chịu khó để sau này sống riêng với vợ, có đủ tư-cách đối phó với mọi nỗi khó-khăn của cuộc đời.

Những công việc chàng rề làm cho nhà vợ, bố mẹ vợ sẽ xét để sau này giảm bớt sự thách cưới vào dịp nghênh-hôn.

Trang sách 161Có nhiều gia-đình, chàng rề tiếng rằng đi ở rể, nhưng thực ra chàng rề không phải làm gì cả, chỉ ăn học. Nhiều người kén rề nghèo đề nuôi cho thành đạt, như vậy sau này con gải mình sẽ được hưởng lất cả sự thành đạt của chàng rề.

Tuy làm tế nhiều khi rất sung sướng, nhưng thời thường những chàng trai không va ở rế, sợ bị kẻ chê người cười.

Ca dao có nhiều câu chế riễu những chàng trai ở rễ :

Công anh làm rề Dương đài đêm ăn vụng hết hai vại cà.

Một Giếng đâu thì đưa anh ra Kèo anh chết khát vì cà đèm nay.

Lại còn những câu :

Làm rề như chó chut gậm chạn. hoặc :

Ăn trầu không rễ, như rẽ nằm nhà ngoài.

Nếu có những gia-đình thương rể nuôi rể án học, thi trái lại cũng có nhiều gia-đinh bóc-lột sức lao động của chảng rễ, và trong thời-gian làm rễ chàng trai rất khở sở : làm lụng vất vả, án uống thiếu thốn.

Có nhiều trường hợp, chàng trai sau một thời-gian làm rề rất vất. vả, lại bị cha mẹ vợ hối hôn, không chịu gả con gái !

Trong những trường hợp này, nhà gái không những phải hoàn trả nhà trai sự tổn phí về lễ ăn-hỏi và sêu tết mà còn phải trả công những ngày ở rể của chàng trai. Dù sao, có được hoàn tiền tổn phí và tiền công lại thì chàng trai cũng vẫn cí chịu thiệt.

Tục làm rể đang mất dần, chỉ còn lại ở một vài vùng quê xa-xôi.

Vẫn còn có những chàng trai ở nhà vợ, nhưng đây là sống chung bẳn với vợ sau khi đã cưới xin. Chàng rề đã là chủ-nhân ông chính. thức của cô gái, không phải ở trong tinh trạng đợi chờ như những người đi làm rề.

Trang sách 162e) Lẻ thân-nghình. - Lễ này còn gọi là lễ nghênh-hôn vi chính trong lễ này chàng rề phải tới nhà bố mẹ vợ để đón cô dâu. Bởi vậy, lễ thân nghinh la còn gọi là lễ đón dâu.

Sau ngày ăn hỏi, trước ngày đón đâu, nhà trai phải tới đằng nhà gải xin cười Sở dĩ phải xin cưới vì tục xưa hỏi vợ xong, khi đôi trẻ còn quá nhỏ tuổi, lễ cưới không cử hành ngay. Nhà trai muốn làm lễ cưới phải cho nhà gái biết và xin cưới.

Việc xin cưới thờng do môi nhân làm trung-gian nói thẳng với nhà gái, nhưng cũng có khi nhà trai trao thơ cho nhà gái.

Người xưa tránh lễ nghênh hôn lrong thời kỳ có tang, hoặc bên trai hoặc bên gái.

Nhà trai xin cưới, nếu nhà gái thuận thì trả lời cho môi-nhân, nhưng trong sự trả lời này còn có sự thách cưới, nghĩa là nhà gái đòi nhà trai trong lễ đón dâu phải có những đồ lễ gi.

Thách cưới, nhà gái thường đòi : tràu rượu, cau chè, bánh trái, gạo lợn, đồ trang sức, y-phục cô dâu và cả tiền nữa. .

Nhà gái nhiều khi thách-cưới quá nhiều, nhà trai phải xin rút xuống. Nhà gái gio cao đánh sẽ, tuy thách nhiều nhưng khi nhà trai xio rút vẫn ưng-thuận.

Ta có câu : Gả con đâu phải bún trâu và cũng có câu Thương con ngon của đề chứng tỏ rằng tuy nhà gái có thách-cưới nhưng nhà trai xin vẫn được.

Tuy vậy, cũng có cuộc hôn nhân phải lan vỡ vì bố mẹ cô dâu thách- cưới quả nhiều, nhà trai không lo đủ.

May thay, ngày nay cái lệ thách cưới không còn.

Thách-cưới xong, hai họ đã ưng thuận ngày lành tháng lốt đề cử- bành lễ đón dâu.

Trước ngày cưới vài ngày, nhà gái cho chia tràu cau đề mời họ-hàng bạn-bữu tới dự lễ cưới. Đồng-thời nhà trai cũng gửi thiếp mời thân bằng cố-hữu như nhà gái.

Trang sách 163Đến ngày cưới, bạn bè hai họ bên nào tới mừng bên đó.

Có nồ bò giết lợn làm cỗ.

Những bạn hữn bì con họ hàng tới dự tiệc cưới thường có mang theo đồ mùng. Đồ mừng có thể là một lức trường, một đôi liễn, cau trẻ, các đờ bảo vật hoặc đồ dùng cho có dâu chú rẽ, và cũng có khi là tiền.

Khi bạn-hữu tới ăn cưới, cùng với đồ mừng thường có đốt thên bánh phảo.

Bao nhiêu lời chúc tụng lốt đẹp của mọi người cho cô dâu chủ rễ.

Đúng ngày cưới, khi được giờ hoàng đạo, nhà trai cử-hành lễ đón dâu. Trước khi đi đón đâu chú rể phải lễ gia-tiên nhà minh và phải lễ bố mẹ mình. Lễ gia tiên bốn lễ ruỡi, còn lễ bố mẹ hai lễ ruỡi.

Lễ gia tiên để trình việc thành-hôn của minh với các cụ, còn lễ bố mẹ đề đền ơn sinh thành và công dựng vợ cho minh Một số người trong bọ nhà trai cùng môi-nhân dẫn chú rẽ tới nhà gái, người ta gọi là đưa rề.

Dẫn đầu đám đưa rề là một cụ già nhiền luổi được dân làng kính nê bởi tuổi-lác, bởi lur-cách, và bởi địa-vị xã-hội và nhất là bởi có con đàn cháu đống. Cụ già này đứng vai chủ hôn, cầm hương đi đầu.

Sau cụ là người nhà trai lrong đó có chú rế. Chú rở đi giữa mấy chàng trai phù rễ.

TỤC CHĂNG GIÂY Khi đám cưới gần tới nhà gái, thường nhà trai đổt lên bánh phảo Lúc ấy đường vào nhà gái có những người, nhất là các trẻ co mang giây hồng ra chăng ngang đường. Nhà trai phải cho tiền những người cháng giây để họ buông giây ra.

Trong những đám cưới long trọng có nhiều nhà bày hương án đễ đón đám đưa rế. Đối với những nhà bày lương-án này, nhà trai cũng phải tặng một món tiền xứng, đáng, vi thường khi đã có phương-án; là họ đốt pháo đề mừng tân-lang.

Trang sách 164TỤC ĐÓNG CÔNG Khi đám đưa rề đã vượt qua được mọi lớp chăng giây, tới cổng nhà gái, thường cổng lại bị đóng bởi lũ em cô dâu hoặc người nhà.

Nhà trai lại phải bỏ tiền ra đề cho người mở cổng, gọi là liền mỡ cồng.

Cổng mở rồi, họ nhà trai bước vào cùng với tiếng pháo nỗ pháo của họ nhà trai đốt, pháo của cả họ nhà gái đón mừng họ nhà trai nữa.

THẮP HƯƠNG GIƯỜNG THỜ Họ nhà gái mời nhà trai vào trong nhà.

Nhà trai cho đặt đồ lễ lên giường lhờ.

Lúc này là lúc nhà gái kiềm-điêm lại đồ thách cưới tuy một phần đã đưa từ những hôm trước để tiện nhà gái làm cỡ mời họ hàng.

Đồ lễ đủ, nhà gái cho tháp hương đề chú rề và cô dâu cùng lễ gia-tiên.

Không phải ai cũng có thể thắp nén hương trong ngày lễ cưới này được. Hương phải do bố, anh trai hoặc em trai cô dâu thắp. Nếu là anh trai hay em trai cô dâu thắp hương, nhà trai lại phải lặng một món tiền gọi là tiền thắp hương.

Tất cả những sự khó-khăn nhà trai phải vượt qua lừ lúc chăng giây cho đến khi hương được thắp trên giường thờ, tục lệ đặt ra để chứng tỏ rằng chàng trai không nề hà những sự khó-khăn đề đón cho được cô dâu, và cũng để chứng tỏ sự thiết-tha thương yêu vợ của chú rễ.

LỄ GIA-TIÊN VÀ LỄ MỨNG Chú rễ vào lễ bàn thờ gia tiên nhà vợ bốn lễ rưỡi. Sau đó cô dâu cũng lễ theo.

Lễ gia-tiên xong, hai vợ chồng phải ra lễ mừng bố mẹ vợ.

Trang sách 165Chàng rẽ lễ mừng bố mẹ vợ để tạ ơn công nuôi-nẩng vợ minh, còn cô dâu lễ mừng cũng để tạ ơn cha mẹ đã tác-thành cho mình.

Khi chàng rễ lễ mừng, bố mẹ vợ thường cho tiền hoặc vàng bạc.

Các người phù rề sẽ nhận bộ chú rề.

Có nhiều người có tính khoe khoang thường nhân dịp này cho chàng rề nhà cửa, ruộng nương bằng cách trao cho văn tự hoặc địa-đồ.

Lễ mừng cha mẹ vợ xong, chàng rế được một người trong họ nhà vợ dẫn đi lề mấy nhà thờ chính họ nhà vợ, có mấy chàng phù rề đi theo.

Cũng có nơi, chàng rế phải đi lễ các nhà thờ trước rồi lúc trở về mới lễ mừng bố mẹ vợ.

Những cuộc lễ của chàng rề đã xong, nhà gái mời nhà trai ăn trâu uống nước và hai họ chúc tụng cho cô dâu chú rề những điều tốt lành.

Thường nhà gái làm cỗ mời nhà lrai. Trong bữa cổ này, có lẽ chủ rề vì giữ ý hoặc vi sung-sướng quá nên án uống rất e-dè từ-lốn, và có khi không dám ăn sợ họ nhà vợ chê cười.

Họ nhà trai ngồi lại họ nhà xải cho đến lúc được giờ lốt, giờ hoàng.

đạo, cụ già chủ hôn xin với nhà gái cho rước dâu. Cô dâu lúc đó đã y. phục chỉnh-tề, trang điểm với đủ mọi đồ nữ-trang của mình và sẽ mang về nhà chồng lất cả những đồ mừng cùng những đò dẫn cưới trước, đựng trong những chiếc rương phủ nhiễu điều.

Họ nhà gái có một số người đi theo cò dâu, trong số đó có cả các cò phù đâu. Các cô phù dâu chọn trong những cô chưa lập gia đinh cũng nhir các chàng trai phù-rể đều là trai chua vợ.

Cụ già chủ hôn lại dẫn đầu đám đón dâu. Lại đốt phảo trước khi đàm đưa dâu lèn đường.

Di theo cụ già câm hương là hai họ nhà trai và nhà gái Về việc cầm hương này, người xưa giải thích là đề cúng vị thần chủ về hôn lễ, nhưng cũng có người cho là để dốt vía những kẻ xấu mồm xấu miệng quở quang khi đám cưới đi qua.

Trang sách 166Lễ rước dâu, sách gọi là lễ vu quy, lức là gái về nhà chồng. Đây là một trọng lễ và mọi sự cần-thận đều được chú ý.

Bà mẹ cô dầu, trước khi cà ra đi thường gọi cô vào trong buồng dặn dò thêm mấy điều cần thiết, dủi cho cô một số tiền đề phòng hờ sau này tiêu dùng ở nhà chồng. Bà lại cần thận cài vào là áo cô chín chiếc kim khâu để trừ là trong lúc đi đường và nhiều bà mẹ cần thận lại dặn riêng con về tác-dụng của chín chiếc kim khâu này vào buổi động-phòng hoa-chúc.

Đám đón đâu lúc này cũng như đám đưa rễ lúc trước đi bộ qua đường làng, có khi tir làng nọ sang làng kia, thường đi qua cánh đồng trên những bò ruộng nhỏ. Khi dòng quá xa người ta dùng cáng, hoặc xe song-loan.

Ngày nay ở những nơi có phương liện người la dùng xe xích-lô, hoặc xe hơi, trong cả lúc đưa rề lẫn lúc đón dâu. Tại các đò-thị người la dùng xe hơi. Xe cô dâu chi rễ ngồi được kết hoa trắng theo lối Âu- Mỹ. Các đò lễ của cỏ dâu đem theo đều được chất cả lên xe.

ở Hà-Nội, trước thế-chiến thứ hai, các gia-dinh theo cổ, luy có. dùng xc hơi, nhưng chỉ đùng cho cô đàu chú rễ cùng mọi người trong hai họ ngồi, còn lễ vật và đồ đạc của cô dâu đã có những phu cướl ăn mặc áo the đen dài, quân trắng, đầu chít khăn lượi, ngang lưng thắt lưng hồng, khiêng dong đường. Những dờ lễ đựng trong những chiếc quả son hoặc trên mâm thau, thường có phủ khăn điền. Những choé rợu, mâm lợn quay, cỗ xôi gác thường được lồng vào giá để hai phu cưới khiêng. Lúc đưa rể, những phu cưới khiêng lễ vật, đến lúc đưa đâu• những phu này khiêng và đội đồ đạc của cô dân : chán, màn, quần áo, đôi khi có cả giường, v.v...

Tại nhà trai, người ta chờ đợi đám rước dâu tới.

Một hỏa-lỏ than đốt hồng đặt ở trước ngưỡng cửa đề chờ cô dâu. Cô dâu, khi đi qua ngưỡng cửa sẽ bước lòn chiếc hỏa lò này.

Các cụ bảo rằng khi bước qua chiếc hỏa lỏ như vậy lửa bồng sẽ đốt cháy bết tà ma theo án-ảnh cô dâu và sẽ đốt vía của tất cả những kỉ độc mồm miệng đã quở quang cô ở đọc đường.

Trang sách 167Khi cô dâu tới nhà chồng, bà mẹ chồng xách bình vôi vẫn dùng trong gia-đình lần sang nhà bùng xòm trong chốc lát. Hành dộng này có ý-nghĩa là nội-tướng cũ nhường quyền cho nội-trớng mới. Bà mẹ chồng sau này sẽ nhường quyền quán xuyến gia-đinh cho nàng dâu, và binh vôi tượng-trưng cho căn bản của gia-đinh. Trách nhiệm của cô dâu sẽ nặng-nề vì lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.

Cô dâu vào lễ gia tiên nhà chồng.

Khi cô đâu lễ gia-tiên xong, bà mẹ chồng cũng đã trở lại nhà với bình vôi.

Bấy giờ cô dâu lễ mừng bố mẹ chồng, cũng như chàng rế đã lễ mừng bố mẹ vợ. Nếu ông bà chồng còn sống, phải lễ mừng các cụ trước khi lễ mừng bố mọ chồng.

Ông bà cũng nhir bố mẹ chồng, nhận lễ của cô dâu đều tặng cho cô dâu món quà, thường là tiền hoạc đồ nữ trang.

Các cự thường nói lúc trao quà :

- Ông bà (hoặc thày đẻ) cho cháu (hoặc cho con) chút ít đề làm vốn.

Tại một vài địa-phương sau khi lễ gia tiên, ông bà và bố mẹ chồng cô dâu chú rể cũng lễ mừng cả chú bác cô gì, và những người này đề đáp lễ thường có quà, tặng cho đôi vợ chồng mới.

Lễ mừng ông bà và bố mẹ chồng rồi, mấy người chị em nhà chồng dẫn cô dâu đi lễ các nhà thờ họ nhà chồng đề trình-điện với tổ- tiên. Trong lúc đi lễ này cũng có các cô phù dâu đi theo.

Lễ nhà thn họ xong, cô dâu trở lại nhà chồng để dự lễ tơ-bồng.

LÊ TƠ-HỒNG Lễ lơ-hỏng là lễ Nguyệt-lão, vị thần chủ về hôn-nhân. Nguyệt-lão theo điền líen có từr Vi-Cố đời nhà Đường. Sự tích Vi-Cố xin xem Tài- Liệu đọc thêm.

Bàn thờ Tơ' Hồng thiết lập ở giữa sân, có thắp hương nến.

Trang sách 168Cô dâu và chú rề cùng quỳ trước bàn thờ, chủ rề quỳ trước, cô dâu quỳ sau, đề nghe một vị lúc nho đọc văn tế To-uồng. Trong văn-tế đại- khái nói là chú rề cô dâu ghi ơn Nguyệt-Lãn đã xe lứa-đôi cho hai người và xin Nguyệt -Lão phù-hộ cho đôi trẻ được bách niên giai-lão, đầy tràn hạnh phúc.

Vàn tế Tơ-hồng đã đọc, chú rế và cô dâu lễ mỗi người bốn lễ rưỡi.

Kể đó hai người cùng uổng chung một ly rượu, ly rượu này đã đặt trên bàn thờ Tơ-lồng. Uống chung ly rượu, từ nay hai người là một, sẽ say nhau tới bạc đầu răng long. Sau dó hai nười ăn mỗi người một miếng trầu, têm chung một quả cau và một lá trầu không. Cuộc án trầu này cũng ý nghĩa như cuộc uống chung ly rượu. Ngoài ra, những đồ lễ khác trên bàn thờ Tơ-hồng đều do củ dâu và chú rễ cùng än.

Dưới đây là mẫu văn tế Tơ-Hồng thường được dùng trong đam cưới :

VÄN-TE TO-HỒNG ..... Mỗ vì việc lấy ...•. làm vợ, hiện nay hôn sự đã thành, kính sửa lẻ dáng Đức To-Hồng Nguyệt-lão thiên- tiên.

Trôm nghĩ :

Trời đất có âm, có dương ; người đời có chồng, có vợ.

Hoa đào đua nử, nhị lươi cười còn đợi gió đông đưa : lá liễu phấl phơ, ngành rung- múa còn chà lay vin đến.

Duyên trời khéo kèn, bà mối tốt dưa :

Việc nghênh hôn nay đã được giử, lòng thành kinh dâng lên lễ vật.

Cám-ơn ông Từ bà Nguyst, vâng-lệnh Ngọc-Hoàng.

Không hè thiên vị, rất mực công-bằng.

Đem nhân duyên kết-nghĩa vợ dồng, Treo gương ngọc thấu-soi sự thế.

Sực-nhó :

Trang sách 169Mớt ngày nào lin đưa nhạn cá, mà nay đà vui-thú uyên ưưng :

Sắt cắm nên nghĩa đá vàng.

Tư-lóc trọn duyên tần-lấn.

Một nhà trong ấm, ngoài êm, dây xích-thằng re thắm mốt lương duyên ; đôi lứo phận đẹp duyên ưa, nhịp cầu Thước bắc vừa dòng Ngân thùy.

Ba-sinh trọn-vẹn ; loan-phượng thuận hòa Họ ẤI, hp Giáp lá thắm đề thơ ;

Chuyện-trò vui-vẻ, chè rgu say sera !

Nhân nay tiệc hôn đã măn :

Dám mong đức lớn phù-trỉ, rẹn niềm chung-thùy Nhờ đưrc rn sâu nhuần gôt, sóm mông hùng bl.

Gọi là lễ mọn, xín người chứng-tri !

Sau lễ Tơ-hồng, nàà trai mời họ nhà gái ăn cỗ.

Lại những lời chúc lụng vui vẻ.

Tưởng cũng nên nói thêm rằng từ hôm trước, có khi tử mấy ngày trước, khách khứa của hai họ khi lới mừng với lễ vật đều được gia- chủ đón tiếp thết liệc.

Sau bữa cỗ, bọ nhà gái ra về, cô dâu ở lại nhà chồng.

Lệ cổ ngày xra như vậy, nhưng gần đày, việc ăn-tống chỉ còn iại ở chốn quê. Ở tinh thành, nhất là ở các nơi đô thị, việc đón dâu đưa rê đã có nhiều thay đổi.

Nếu ngày xira người ta mởi khách bằng cách chia trầu cau, cũng ăn người mời có thiếp báo hỷ những bạn hữu, thì ngày nay ta dùng thiếp mời đính kèm thiếp báo-hỷ. Và mời ăn, có khi tiệc trà, người ta không mởi rới nhà, mà mời ngay tới hiệu ăn. Nhân trong bữa ăn này, chú rễ cô dâu được dẫn ra chào khách khra bạn bè của hai họ.

Ngày xưa khi khách tới vịị tiệc cưới mới mang đô mừng lới, ngày nay đồ mừng được gởi tới trước.

Vả cả đồ mừng ngày nay cũng khác đồ mừng ngày xưra.

Trang sách 170Xưa người ta thường dùng trướng điều, liễu điều, trà rượn, có vùng lại dùng cả cỗ xôi, quả bánh, thi ngày nay đồ mừng thường là đồ dùng thiết-dụng cho một cặp trai gái mới lập gia-đình : bộ đồ nước, quần áo, đồ dùng trong bếp. Có khi nhiều người chung nhau mừng cả tủ. lạnh, máy may. Có cô cậu mừng bạn cả những sách về bỏn nhân và gia-đình v.v...

Lễ động-phòng. - Lễ động phòng chỉ là một phần của lễ thân-nghinh.

Buổi chiều hôm rước dâu, sau khi khách khứa đã vợi, trong phòng ngủ dành riêng cho lân lang và tân giai nhân, đôi vọ chồng mới cùng nhau làm lễ hợp-cẫn.

Trong phòng đã có sản một mâm rượu, một rơi trầu. Hai vợ chồng cùng nhau uỗng chung một chén rượn, ăn chung mâm cơm và san đỏ ăn mỗi người một miếng trầu do cùng một quả cau, cùng một lá trầu không và cùng một thanh vỏ.

Cũng có nơi không có lê hợp cần này, vì lúc lễ tư hồng, đòi vợ chồng đã uống rượu án trầu rồi, và buởi tối đòi bên chỉ còn truyện đuốc-hoa.

Sau kbi uống rượu, àn trầu xong, vọ chồng cùng nhau ngồi trước ngọn đèn nói chuyện, và sau dó cuộc động phòng boa-chúc. Lúc này vợ chồng mới thật sự biết nhau và nói theo cụ Nguyễn Du : một dóa lrà mi Con ong đù lả tường đi lối về.

Trong buổi động phòng, trước khi uống rượu hợp-cần, cô dâu thường kiểm cách đễ ngồi lên mé đầu giường. Tực tin rằng, như vậy, sau này trong cuộc chung sống, người chồng sẽ không áp dảo được vợ, trái lại còn chịu sịt chỉ-huy của vợ. Nếu cô dâu chỉ ngời ở mé chân giường, suốt đời cô sẽ cam phận phục lòng chồng.

Cũng như ý-nghĩa trên, trong buởi đầu tiên này, cô dâu thường vắt quần áo của mình đẻ lên quần áo của tân lang. 1) Nhi-hỷ hay lứ hỷ.- Lễ này còn gọi là Lại-mặt, vì lrong lỏ này hai vợ chồng mới cưới đưa nhau trở lại nhà bố mẹ vợ.

Trang sách 171Lễ nhị hỹ cử hànk ngày hôm sau lễ thân nghinh. Cũng có nơi, ba ngày sau mới có lễ lại mặt, - trong trường hợp này là lễ tứ-hỷ, Trong ngày nhị hỷ hoặc tư-hị, hai vợ chồng mang lễ vật trở lại nhà bố mẹ vợ đề lễ gia-tiên.

Cô dầu nhân dịp này thám lại bố mẹ và nhận những lời khuyên- nhủ của cha mẹ về bôn-phận làm vợ làm dâu.

Y-PHỤC TRONG NGÀY CƯƠI Ta vẫn thấy các cô gái sắp vu-quy đi sắm áo cưởi, vì trong ngày cưới, cô dâu cũng như chàng rế đều có một y-phục riêng.

Ngày xưa, hôm đó chủ rể đầu đội khăn lượt, mặc quần lụa trắng áo cặp đôi gồn một áo trắng dài trong cùng, ngoài là một chiếc áo đoạn kép lót nhiễu xanh, hồng hoặc vàng, hay là một chiếc áo gấm thường mâu lan. Có những chú rế sang trọng, ngoài chiếc áo đoạn hay chiếc áo gấn lam, còn mặc thèm chiếc áo xa. Áo xa mỏng, qua màu gấm lam ần hiện trông thật vởi. Châu chú rễ đi giây Gia-định nhưng cũng có khi đi giấy kinh thêu. Trong lúc lễ to hồng, lễ gia-liên và lễ mừng bố mẹ mình và bố mẹ vợ, chủ rề khoác ngoài chiếc áo thụng xanh Còn cô đầu, lất nhiên mặc bộ áo cưới của mình. Áo của cô dâu thay đổi tùy theo thành thị hay thòn què.

Ở thôn quê thường là cặp ảo nám thân, trong áo nâu non ngoài áo the lót nhiễu xanh. Đần các có thường vấn chiếc vấn đầu nhung đen.

Các cô mặc yếm lụa cố xẻ, cô thìa hoặc cổ xây, màu mỡ gà hoặc nhuộm thăm màu nâu ngã sang đỏ. Các cô thất chiốc thất hog sồi xe kèm thêm đội giải yếm lua mỡ gà. Các cù vận váy lụa. Chân các cô đi dép cong. Gần đây độ hai chục năm, dùi đép cong được thay bằng đôi đép Nhật-bản.

Trong lúc vu-quy, cô dàn cũng như các cô phù dâu đều mỗi người mang theo cbiếc nón ba-tầm quai thao, dù trời mưa nắng

Trang sách 172Lễ ăn hỏi (Đồ lễ yồm bánh, cau, trì...) Cô dâu chú rể trong y phục cưới

Trang sách 173hay râm mát. Chiếc nón các cô dùng dễ ghé che mặt cho đỡ thẹn khi có ai ngó hoặc nói tới.

Đó là các cô dâu quê.

Còn các cô dâu lỉnh y phục hơi khác. Các cô cũng vẫn đầu khăn nhung có đuôi bà, nhưng rác cô mặc quần thay cho mặc váy, các cô đi guốc phi-mã, hoặc di giày cao gót thay r cho đi dép. Còn áo của các cô cũng là một cặp hai chiếc, chiếc áo trong màu trắng, chiếc áo ngoài cũng là áo gấm, áo đoạn hoặc ảo sa-lanh, màu đen hay màu da đồng.

Trước thế chiến thứ hai, y-phục cười thay đổi nhiều, và cho tới nay y-phục đã thay đổi rồi còn được giữ nguyên hoặc cũng đã hơi đổi khác thên) :

Các chủ rề ăn mặc lễ phục kiểu Tây-phơng nhưng vẫn còn nhiều người giữ quốc phục. Các cô dâu đầu đội khăn vành dây, - tóc các cô đã uốn, - màu vàng hoặc màu đỏ, mặc áo dài kin-tuyến hoặc nhung hay gấm, ống tay rộng, quần trắng. Chân các cô đi giầy cao gót.

Không biết với thời gian bộ y-phục cưới của đôi bên chủ rê và cô dâu còn chịu những sự thay đổi nào nữa. Trong mấy năm gần dây, riêng cô dâu, đã có người đội một vòng hoa trắng thay cho chiếc khán vành dày, và cũng có khi khoác chiếc màng mỏng trên đầu.

CƯỚI CHẠY TANG Cưới chạy tang nghĩa là cưới chạy một đám-tang, tức là đám cưới cử hành trước đám lang.

Nhiều gia dinh có con cái lớn chưa thành gia-thất, trong nhà có ông già bà cả, hoặc có khi chính bố mẹ bất thần nằm xuống, muốn để con trẻ không phải đợi chở mãn tang, người la cử hành lễ cưới trước khi phát-phục, tức là trước khi bắt đầu đám tang.

Có nhiều trường-hợp có những cô gái tới tuổi lành duyên, nhưng chưa có một nơi ước hẹn, bỗng cha già mẹ héo trăm tuổi, trong làng

Trang sách 174có người đã ngắm cô cho con cháu minh, liền nhờ hắn tin, nếu gia- đình cô gái thuận thì cho cưới chạy-tang.

Tiếng rằng cưới chạy tang, nhưng vẫn còn có lễ hỏi và lễ cưới.

Nhà gải cũng chia tràu cau nhir một đám cưới khác trước khi cử- hành đám-lang.

Thường thường đôi trai gái đã có giao-ước, một vài lễ đã cử-hình rồi, như lễ chụm-ngõ, lễ vấn-danh có khi cả lễ ăn-bỏi nữa, chỉ còn chờ ngày cưới thì bất thần một trong đôi bên, hoặc nhà trai, hoặc nhà gái có người trăm tuổi. Đễ cho đôi trẻ khỏi phải đợi chở, hai họ thỏa-thuận cho cưới chạy-tang, củ hành nốt những lễ còn thiếu.

Người chết nằm đó vẫn được coi nhu còn sống. Đám cưới có đủ đưa rế đón dâu, nhưng mọi lễ nghi đều giảm bỏt đi nhiều, chỉ cốt lễ- cưới cho xong để còn cử hành lễ tang.

Chàng rề hoặc cô dâu lễ mừng người chết nằm đó cũng như lễ mừng một người còn sống.

Nếu đám tang ở đằng nhà gái, thi ngày hôm sau, có khi ngay buổi chiều hôm rước dâu, cô dâu và chủ rề đều trở về đằng nhà vợ đề cbịu lang.

Nếu đám tang ở đằng nhà trai, sau khi đón dâu về, cử hành xong lễ cưới, tang lễ bắt đầu luôn.

Trong những đám cưới chạy lang thường không còn lễ tơ-hồng, lễ động phòng, lễ hợp cần và cho cả đến lễ lại mặt cũng không !

Cưới cho đúng lễ nghi, hợp với tục lệ, nhưng việc lang còn đó, cần phải giảm bớt lễ nghi về hôn sự không cần thiết đề kịp nghĩ tới đám tang.

NỘP CHEO Như đã trình bày ở mục sinh con, thủa xưa ta không có hộ-tịch và vấn đề hộ-tịch chỉ là vấn đề cá-nhân, hộ tịch của ai người đó phải lự lo lấy.

Trang sách 175Vi vẫn đề hộ-tịch không được coi lả cần thiết nên ta không lập giấy giá thú khi cưởi, cũng như không lập giấy khai sinh lúc đứa trẻ ra đời.

Nếu đứa trẻ ra đời, bế mẹ thường lấy cho con lá số tử vi thay giấy khai sinh, thì trong việc xin cưới, nếu không có lễ cưới hộ tịch, đám cưới theo lễ nghi phong lục đủ bảo đảm cho ruộc hôn-nbân. Đôi bên đã lấy nhau theo lễ nghĩ, không ai còn phủ nhận được. Theo luật lệ Việt Nam ngày trước, những người dự lễ cưới đủ lmn chứng cho đám cưới của đòi bên nếu sau này có truyện gì lôi thôi xảy đến.

Ngoài lễ cưới theo lễ nghi, còn có lệ nộp cheo.

Nộp cheo lức là nộp cho làng ngưrời con gái tiền hoặc lễ-vật định bởi hương-ước để làng này công nhận là chàng rế đã lấy cô gái đương- sựị. Trai cùng một làng lấy nhau cũng phải nộp cheo theo thể lệ làng.

Lệ nộp-cheo rất quan-trọng đối với tục cưới xin cũ.

Ca dao có câu :

Có cưới mà chẳng ch cheo, Dẩu rằng có giết mười heo cũng hoài Lệ cheo thay đỏi tùy từng làng, có nơi nặng có nơi nhẹ.

Có nơi xira chỉ phải nộp một quan tiền, một chai rượu với tràu rau là đủ, có nơi nộp cheo rất nặng, như tục làng Xuân Ái huyện Võ.

Giàng tỉnh Bắc Ninh, nộp cheo phải có một chiếc mám thau, một cổ xôi con gà, tràn cau chè rượu.

Cũng có làng đặt ra hai lệ cheo, một lệ cho trai làng lấy gái làng rất nhẹ chỉ cần trần cau trình làng là đủ, còn một lệ cho trai thiên- họ lấy gái làng nặng hơn, phải nộp liền.

Khi nộp cheo, lý-trưởng hoặc tiên chỉ làng cấp cho chàng trai một lờ phái-cheo, lức là tờ biên-lai nhận rằng chàng trai đã nộp cheo lrong việc cưới một cô gái làng.

Về sau, mỗi khi cần lấy giấy chứng chỉ hôn-thú, chàng trai phải xuất-trình phái cheo. Lý-trưởng sẽ căn cứ theo phái-cheo cấp giấy chứng nhận hôn thủ cho đương-sự.

Trang sách 176Kè từ khi có bộ-tịch tại Việt Nam, việc cưới xin phải có giấy giá: thú theo luật lệ, nếu không việc hôn-nhân có thể bị tiêu-hủy.

Đối với những đám cưới cử-hành trước khi ban-hành luật-lệ hộ- tịch, phái cheo vẫn có giá trị như một giấy giá-toú.

MỘT VÀI BIỆT LỆ Theo đúng lễ nghi phong lục thì hôn lễ phải cử hành đủ mọi tục-lệ trên, nhưng ở một vài nơi lễ cưới hơi có điều khác và không đủng như những điều trên.

Tại làng Thị-Càu, huyện Võ-Giàng, lỉnh Bắc Ninh, lễ cưới cũng cử-hành đủ theo mọi tục-lệ, nhưng có điều khác là sau khi rước dâu về nhà trai, tế tơ-hồng xong cô dâu chỉ ở lại nhà trai một đêm, và ngay sáng hôm sau cùng với lễ lại-mặt cô dâu trở về nhà minh đề ở luòn lại nhà, mặc cho chủ rề đi về một mình sau lễ lại-mặt. (ũng có trường hợp cô dâu theo luôn ngay những người đưa dâu về nhà mình sau lễ lơ-hồng.

Cô dâu ở nhà mình cho đến Tết. Gần Tết nhà trai cho người mang tràu cau tới xin đón cô dâu về. Lần này cô dâu mới ở hẳn nhà chồng.

Có nhiều xã như làng Vạn- Vân, tỉnh Bắc-Giang, làng Đáp Cầu tỉnh Bắc- Ninh, đưa rề tới nhà gái, chủ rề lễ gia-liên và lễ mừng bố mẹ vợ xong, đám đưa rề trở về, và tới buổi chiều nhà gái sẽ tự đưa cô dâu tới nhà trai.

Tục-lệ mỗi nơi có mỗi khác, nhưng lựu trung những lễ chính là chạm. ngũ, ăn-hỏi và thân-nghênh bao giờ cũng vẫn có.

LỄ CƯỚI NGÀY NAY Hôn lễ, từr ngày hậu-chiến càng giảm bớt đi nhiều. Tiện nay, sau khi nôi trai gái đã quen biết và bằng lòng nhau, nhà trai cũng vẩn phải nhờ người làm mai, và sau đó các lễ sẽ được cử-hành. Cũng c' nhà theo lệ- rỗ, nhưng hiếm lắm. Ngày nay phần đông người ta chỉ giữ có ba lễ:

Chụn ngõ, Ăn-hỏi và Đỏn-dâu.

Với thời gian sau này, lễ cưới có còn được giản-dị-hóa hơn nữa không !

Trang sách 177Ngoài ra, ở các nơi đô-thị, có những đám cưới được cử hành trước viên chức coi về hộ lịch.

Theo lời hỏi của viên chức này cả cô dâu lẫn chú rế đều phải trả lời ưng-thuận lấy nhau, sau đó ký vào sổ giá-thú, có cả cha mẹ đôi bên cùng kỷ.

VIỆC NGUYỆI HOA VỚI SỰ SINH CON NGOẠI HÔN Lễ-nghi Việt-Nam thật hết sức nghiêm khắc đối với vấn-đề nam-nữ gian tình. Nam nữ thụ thụ bất thân, trai gái không được gần nhau một cách quá tự nhiên. Dư-luận không dung tha những cô gái không giữ được ngọc trắng giá trong. Người con gái khôn-ngoan phải tránh đường hoa-nguyệt, và những khi có chàng trai vì cảm mến, mời miếng tràu cũng phải từ chối :

Mẹ em hằng vẫn khuyên răn Làm thân con gói chứ ăn tràu người, Nếu cô gái nào dại-đột theo đường nguyệt-boa, nghe lời đường mật của chàng trai, không chịu theo khuôn phép nam nữ thụ thụ bất thân, cú đi hứng gió nóm Nom đề rồi không chồng mà chửa, xã-bội không tha-thứ.

Những đứa con gái hư chửa hoang thuờng khi bỗ mẹ từ không nhận, và đối với làng nước phải nộp vạ nộp khoán.

Chính vì sự khe-khắt của xã-bội đối với sự chửa-hoang, nên nhiều cô gái chót nhỡ không may ăn vụng chóng no, thường phải bỏ làng ra đi một nơi khác. Bố mẹ cô sẽ tim cách nói dối đề che đậy lỗi của cô, và những gia-đinh giàu có sẽ tìn những chàng rể để gả gán gấp cô đi ! Lẽ lất nhiên những chàng rể này sẽ được hưởng nhiều quyền lợi ! Cơm no hò cưỡi, tiền cưới nhà gái chịu và còn được các thêm tài-sản nữa !

Những đứa con ngoại-hôn, ngày xưa thường không được người mẹ săn-sóc nuôi-nấng. Các bà mẹ gửi chúng ở xa, nhờ một người nào tir- tâm nuôi hộ, hoặc thuê người nuôi. Có nhiều người vi nhân đạo, hoặc cũng có khi vi hiếm con nhận chúng làm con nuôi.

Trang sách 178Sự khe khắt của xã-hội đối với cô gải chửa hoang thường khi thật là tàn-nhẫn. Cô gái hị ruồng rẫy khinh-bỉ, và ca dao đã có câu mỉa- mai các cô :

Không chồng mà chửa mới ngoan.

Có chồng mà chửa thế gian đã thường !

Chính vì sợ mỉa-mai ruồng-rẫy ấy, nên có nhiều cô gái không may, gập phải những chàng trai họ Sở, chơi hoa cho chán rồi quất ngựa truy- phong đề cho các cô trong bụng mang nặng khối tình, các cô thường tim cách hủy cục máu trong bụng nó làm cho các cô ô-nhục xấu bở. Tạc-lệ xưa cũng không dung-tha sự phá-thai. Phá cái hoang thai trong bụng, các cô đã có tội chỉ càng có tội thêm !

Ngày nay luật-pháp truy-tố những người phá thai.

Ngay từ hồi xưa ít ai dám giúp các cô gái phá-thai, vì đây liên-hệ lới cả một mạng người ! Nhiều người tin rằng làm việc phá-thai hại tới âm- đức, nên các bà mụ được các cô gái có chửa nhờ thuê đều từ chối việc làm, vô nhân-đạo này.

Đã có nhiền bà mẹ chửa hoang, khi đẻ vì xấu hổ bóp chốt đứa bé rồi chôn rập chôn vùi ! Thật là tàn-nhẫn !

VẤN ĐỀ ĐA THÊ Ta theo tục Tàu, lại thêm tin ngưỡng của ta lấy việc thở phụng lổ. tiên làm quan trọng, và lrong sự thờ cúng, mỗi khi khẩn khửa cần phải người cùng huyết thống với tỏ-tiên, nên vấn-đề nối-dõi tông đường là một vấn đề to-tát và các cụ cho việc không có kế-tự là lội nặng nhất trong các điều bất-hiếu. Chỉ con trai mới có thể nối dòng huyết-thống được, con gái sau này lớn lên theo họ nhà chồng, sinh con đẻ cái đều lấy họ chồng.

Chính vì sự cần có con để dòng họ được sinh-lờn, những người đàn ông, sau khi lấy vợ một thời-gian, vợ không sinh đẻ hoặc chỉ sinh con một bề, sinh loàn con gái, có quyền cưới thêm vợ lễ, lấy thêm nàng hầu, đề kiếm giọt máu sau này nổi việc thở-phụng lổ-tiên,

Trang sách 179Tục đa-thê của ta bắt nguồn ở đạo thờ tiện-tổ, nhưng dần-đà về sau, ta cũng như người Tàu, nhiều người dù có con trai hay không có con trai cũng vẫn cứ cưới thêm bà bẻ, lấy thèm nàng hầu, và có người có đến nám bầy vợ để thỏa-mãn ý muốn của minh không kề gì đến quyền lợi của các bà vợ nữa.

Đê bênh vực cho mình, các ông thường nói :

Sông ban nhiêu nước cũng vừa Tral bao nhiêu vọ cũng chưa bằng lòng !

Vả cháng các ông lại thường cho rằng :

Cả sông đông chụ Lắm vợ nhiều con chứ có hề hấn tai-hại gì.

Chính luật-pháp xưa cũng dong tủng lục đa-thê và cho phép người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ. Gằn đây cho đến thời hậu-chiến, quyền lẩy nhiều vợ vẫn còn tồn-lại, nhưng bó-buộc phải được người vợ cả ưng-thuận và lập giấy giá thú, người vợ cả phải ký vào đề cho phép.

Ở các vùng quê, có rất nhiều trường-hợp, bà vợ cả vì không có con trai, thân đi cưới vợ lễ cho chồng.

Người vợ lẽ về gần gui chồng, phải kính nế người vợ cả.

Lại có những người vợ lẽ, sau khi lắy chồng làm ăn khấm-khá, xin phép vợ cả cưới vợ ba cho chồng, lẽ lất nhiên người vợ ba về phải chịu tòng-phục bà vợ hai. Có nhiều gia-đinh cứ bà nọ cưới thêm bà kia, khiến ông chồng chỉ việc tọa-hưởng kỳ thành, có khi đến năm sáu vợ.

Việc cưới thêm vợ cho chồng, thường chỉ có ở những gia-đinh khá-giả, nhất là khi người chồng có những chức vụ đàn-anh trong hàng xã hàng tổng.

Những cặp vợ chồng bố cu mẹ đĩ, bận lo sinh-kế nhiều, chỉ sống một chồng một vợ, hoặc nếu có trường-hợp con cái hiếm-hoi, vợ chồng vạn-bất đắc dĩ mới dám tính đến chuyện cưới thêm cô vợ bé đề sinh con nối dõi tông-đường.

Trang sách 180Vả chẳng, lấy chông làm lễ là một điều không cô gái nào muốn. Ai chẳng muốn chồng một vợ một, cơm dẻo canh ngọt với nhau, tội gì chịu phận lễ mọn cho khổ thân.

Ca dao đã có câu :

Lấy chồng làm lẽ khổ thay Đi cấy, đi cầy chị chẳng kê công.

Tối lối chị giữ lấy chồng.

Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài.

Sáng sáng chi gọl bó hai.

Trà giậy nấu cám thái khoai băm bèo !

Làm lễ thực là cực khổ. Có khi chỉ là người ở không công, án cơm nguội, nằm nhà ngoài.

Nhiều cô gái đã hằng nói theo câu lục ngữ : Chết trẻ còn hơn lãy lễ.

Không ai muốn lấy làm lễ, nhưng hoàn cảnh đưa tới, các người đàn ông vẫn được có vọ lẽ, và có khi đến vợ bà, vợ tư, vọ năm, vợ sáu như thường.

Có người vi nghèo khó phải lấy làm lễ. Có người vi chót ăn vụng chóng no phải lấy làm lễ, vả chăng những lời đường mật ong-bướm của những ông có vợ rồi nhiều khi nghe cũng tbật nên quyến rũ, khiến cho cô gái tuy biết rằng khở vẫn cứ đâm đầu vào.

Lại có những góa-phụ, chịu không nổi cảnh cô đơn chiếc bóng, muốn tim nơi nương tựa, nên các bà đành chặc lưỡi, nhắm mắt lấy lẽ một ông già cho xong !

Những cô gái khôn-ngoan không mắc lời đường mật của các ông đã có vợ rồi. Đối với những lời lán-lỉnh của các ông, các cô thường trả lời :

Đã thình gia thất thì thôi, Đèo bòng chỉ nữa, lội trời ai mang !

Đối với các ông, các ông đưa ra quan-niệm :

Năm con nũm dấu Mười op mười thương !

Trang sách 181Các ông bảo tình thương yêu vô bờ bến, thơng yêu bao nhiêu người cũng không hết, càng nhiều vợ nhiều con, tinh thương yêu càng san-sẻ thì lại càng rộng rãi đằm-thắm.

THÁI-ĐỘ CÁC BÀ VỢ CẢ Ca dao la có câu :

Ớt nào là ớt chẳng cay, Gái nào là gát chẳng hay ghen chồng !

Có chồng, có đời nào ai chịu đề chồng đem san-sẻ tinh yêu cho người khác, nên thường khi các bà vẫn ghen, nhưng nền luân-lý A-Đông khe- khắt, ghen chồng cũng là có tội, nên sự ghen-tuông của các bà ngấm ngầm, và nhiều khi vì ghen tuông không có kết quả, càc bà đành phải giữ một thái-độ quân tỉ để cho chồng phục và các cô vợ bé cũng phải kính-nễ.

Sự thật mọi người đàn ông có giáo dục biết trọng lễ nghi phong-tục không bao giờ say mê những vợ bé, bê trễ với người vợ cả.

Tuy rằng thương yêu những vợ bé, có khi say mê thật, nhưng bao giờ người vợ cả cũng là cột trụ trong đám vợ con, nên người chồng dù năm thiếp bảy thê cũng không sao-nhãng ngưrời vợ cả. Đây là người vợ của cha mẹ cưới cho, đối với nàng, chàng cở bổn-phận làm chồng Và những người vợ cả cũng biểu rằng :

Dù chàng năm thiếp bảy thê Thì chàng cũng chẳng bỏ gái số này đâu.

Chính vi vậy mà người vợ cả không ghen lại tỏ ra quảng-đại bao- dong đối với vợ lẽ. Có dong kè dưới mới là lượng trên.

Vả chăng sự ghen tuông, nền luân-lý của ta rất chê cười, vi xấu chàng hỗ ai. Ghen tuông lắm chỉ làm điếc lai bàng xóm, xưa nay cỏ ai khen bao giờ.

Trong những năm gần đây, đã có xảy ra nhiều vụ cả lễ ghen-tuông. nhưng nếu so ra thì những vụ đó cũng không nhiều.

Trang sách 182Có điều đáng mừng là ít lâu nay lại các nơi đô thị, chế-độ đa-thê không còn mấy, ngoài ra luật-pháp cũng đã dọn đường đề chấm dứt chế.

độ này.

Chấm-dứt chế-độ đa-thê rất hay, nhưng luật-pháp cũng phải nghĩ sao cho những đứa con ngoại hôn khỏi bị cảnh không cha không mẹ và bị xã-hội bạc đãi.

Trước đây, luy chửa hoang bị phong lục khinh-rẻ, nhưng có nhiều trường-hợp các cô gái dan-díu với những chàng trai có vợ, đành nhắm mắi ưog cảnh đắp chăn đơo àn cơm nguội đề cho đứa con khỏi là con hoang, khỏi là đứa con không cha không mẹ.

NÀNG HẦU Đây chỉ là một hình thức của chế độ nô-lệ thời xưa còn lại, theo phong-tục của người Trung-Hoa truyền sang ta.

Ngày xưa lại các gia-đinh sang-trọng có nuôi những nô-lý : dây là những cô gái, bố mẹ nguèo đem bán cho nhà giàu làm đầy tớ, hoặc là vợ và con gái các phạm nhân trọng tội bị triều đinh bắt phân phối cho các quan trong triều. Những nô-ly này là đầy lớ chung thân của những gia đinh nuôi bọ.

Các chủ nhân hoàn-toàn có quyền trên họ, có thể nhường hoặc bán lại họ cho một gia-dinh khác.

Theo luật-lệ, các nô-tỳ định chống lại chủ nhân phải tội chết, trái lại, các chủ-nhân có đánh chết nô-lý chỉ phải phạt trượng.

May thay chế độ này đã mất từ lâu, nhưng tàn-tích của nó vẫn còn lại dưới hình-thức nàng-hầu.

Nàng-hầu là những cô gái con nhà nghèo được các ông nhà giàu, tuy đã có vợ cả vợ lẽ đủ rồi, mua về đồ hầu-hạ các ông. Đấy cũng chỉ là một cách lấy thêm vợ lẽ, người vợ lẽ này mang danh là nàng-hầu và quyền-hạn không được đủ như quyền hạn một người vợ lẽ.

Trang sách 183Lấy vợ lễ lbì phải nộp cheo, còn mua nàng hầu thì không cần một lễ-nghi gì, nàng-hầu cũng vi như một món hàng, mua bản xong là xong !

Người vợ lễ sinh con, đứa con đó là con mình, được gọi mẹ là mẹ, trái lại khi nàng hầu sinh con thì đứa con đó là con người vợ cả, và đứa con này chỉ được gọi người mẹ chính của mình bằng , cô, còn tiếng mẹ dành để kêu người vợ cả.

Trong nhiều gia-đinh, chính người chồng không muốn mua nàng- hầu làm chi, nhưng các bà vợ, vi keo-kiệt không muốn mượn người làm, nên mua hầu cho chồng để nàng hầu phải làm công việc của người đầy tớ, không khác chi nô-tý thời xưa, chỉ khác một điều là đôi khi được ông chồng già hỏi tỏi và do sự hỏi tới này có thể có con được.

Nhiều người giàu, có đến năm hảy nàng-hầu, và các nàng-hầu phải chịu cảnh làm lụng đầu lắt mặt tối, rất ít khi được ông chồng già vời thăm.

Ngày nay, chuyện mua bầu có lẽ không còn nữa vi luật-pháp không dung-túng việc vô nhân đạo này, nhưng vẫn có chuyện lấy chồng làm lễ, có khi vi hoàn cảnh, có khi vi cô gái thực sự thương yêu người đàn.

óng đã có vợ rồi.

Những người vợ lễ này thường bị vợ cả và các con chồng gọi là nàng-hầu. Danh-từ nàng hầu ngày nay gần như đồng nghĩa với vợ lẽ !

TẢO HÔN Nhịr trên đã nói, ở nước là, người la dựng vợ gả chồng cho con rất sớm, nhiều khi ngay lừ lúc đứa trẻ còn ở trong bào thai.

Một đôi bạn bè quen biết nhau, hai bà vợ cùng boài thai, thế là đôi bèn đính ước với nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái sẽ cho đôi trẻ lấy nhau. Như thế, hai đứa trẻ mới sinh ra đã là đôi người hửa hòn, rồi khi lớn lên, chẳng cần gặp gỡ, cứ đến luổi là hôn-lễ cử- hành đề đôi bên lấy nhau. Thường hôn-lỗ cử-hành rất sớm, ngay từ khi đôi trẻ mới mười lăm mười sáu tuổi.

Trang sách 184Đôi bên lấy nhau vợ chồng đồng tuổi, không có sự chênh lệch g người đàn bà không phải chịu thiệt thòi gì, nhất là về vắn đề yêu-đương.

Trái lại, có nhiều đám cưới, chú rề mới độ chín mười luổi mà cô dâu thi 16, 17. Đây cũng là những trường hợp lảo-hôn, nhưng chỉ đối với chàng rễ, còn đối với cô dâu lấy chồng khi 16, 17 tuổi tức là đing lúc cơ thể đã đủ nảy nở.

Tại san có những đám cưới chênh lệch vậy ? Vì nhà trai giàu có cần người làm, cưới con dâu về để làm thay đầy tớ. Gia-dĩ, cha mẹ cô dâu lại nghèo, rủ con thi được món tiễn thách-cưới, nên luy biết rằng gả con như vậy, con sẽ không được hưởng ngay lạc-thú gia-đinh, nhưng bố mẹ cũng cứ gã.

Rất nhiều trường hợp về nhà chöng, vợ tối tối phải đưa chồng đi rửa chân rồi bế chồng đi ngủ.

Những đám cưới chồng bé vợ lớn thường bị người la chè cười, mà cô dâu là nạn-nhân khổ sở nhất, luy bản tâm cô không bao giò muốn lấy một anh chồng bẻ lỉli, đề chịu tiếng chê bai của những chàng trai làng trên xã dưới :

Em tham giàu, em lấy thằng bé ti-li, Làng trên xã dưới thiếu gì trai to !

Em đem thân cho thằng bé nó glày-vò, Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng.

Mang danh là gái có chồng, Chín đềm trực liết nằm không cả mười, Nói ra sự chị em cười Má hồng bỏ quá thiệt đời xuân ranh...

Lấy chồng, ai chẳng muốn lấy chồng phải tuổi để còn nhỏ cậy, trông vào sị chỉ-chử. Lấy anh chồng nhỏ tỉ-ti còn trông mong nỗi gì.

Hơn nữa, khi đôi vợ chồng đi ra đường, còn người ngoài nhin vào !

Lấy chồng phải đâu chỉ đề sống mãi ở trong nhà :

Chông lớn vụ bé nới xinh em.

Chồng bé vợ lớn ra lình chị

Trang sách 185Ngày nay, may thay luật-pháp đã ấn định rõ-ràng luổi kết-bôn của đôi bên trai gái, dưới tuổi ấn định bởi pháp luật, dù trai hay gái cũng chưa được kết-hôn.

Với luồng gió mới Âu Tây thổi tới, quan-niệm hôn nhân khác hẳn xưa, đòi bên trước khi lấy nhau thường lim hiều nhau, như vậy tất nhiên phải tới một tuổi biều-biết rồi, do đó lục tảo-hôn tự-nhiên không còn nữa.

ÉP DUYÊN Phương-ngôn Việt-Nam có câu : Ép dầu ép mỡ ai nỡ, ép duyền, chứng tỏ rằng trong việc hôn-nhân nên để cho đôi trẻ lựt lựa chọn lửa đôi, không nên có sự ép-uổng.

Phơng-ngôn tuy nói vậy, nhưng sự thật, trên thực-tế, sự ép duyên vẫn thường xảy ra.

Bố mẹ ép duyên con là muốn cho con sung-sưởng, nhất khi con con gái, bố mẹ thường nhằm kén chồng cho con vào những nơi con có thề sở cậy được, còn con trai bố mẹ cũng nhằm kén con dâu sau này có thể thành người vợ đảm, người dâu hiền. Sự ép duyên ở đây đo hảo ý của bỗ mẹ đối với con.

Cũng có nhiều trường-hợp bố mẹ ép duyên con không phải vì hạnh- phúc của con, chính vì sự ích-kỷ của bố mẹ. Kén vợ cho con cáo cụ muốn kén nơi môn đăng bộ đối, kén con nhà danh-giá có thế lực đề bố mẹ nhờ cậy, không kế chi đến sự ưng thuận của con trai, không kể chi đến con dâu có thể hợp với con trai được không ?

Như trên đã có trình-bày, nhiều gia-đinh ép con It tuổi lấy vợ nhiều tuổi để về nhà có người làm-lụng thay cho đầy lớ.

Đối với con gái cũng vậy, bố mẹ gán ghép con muốn gả con cho nơi xứng dâu-gia, muốn gả con vào nhà giàu-có. Có khi bố mẹ gử con đề trù nợ, hoặc để nhà cậy nhà trai một việc gi.

Nhiều cô gải đã từng bị bố mẹ gả làm lẽ để trư một món tiền, hoặc bị gả cho một ông già đề bố mẹ được hrởng một món lợi.

Trang sách 186Ép duyên thực là một tệ-lực, ai cũng biết, liếc rằng ngày nay tại các vùng quê vẫn còn, nên thỉnh-thoảng trên mặt báo lại đáng tin một cô dâu tự-ải trong tiệc cưới !

Ước-ao rằng trong một thời gian không xa nữa, cải lệ-tục tai-hại nây sẽ không còn lồn lại ở nước ta !

TRÁO-HÔN Tráo-hôn lirc là đánh tráo người này vào người khác trong việc cưới xin.

Nhiều gia-đinh có con trai hoặc gái vì xấu-xa hay lật-nguyền không thề cưới vợ hoặc gả chồng được, liền nhờ mai-mối khéo-léo để đến khi cưới thì trảo-hòn.

Muốn như vậy, trong những khi xem mặt, dù con trai hay cen gái, đều dùng người khác thay cho các đương-sự, ngay cả khi đưa rê đón dâu.

Đối với những chàng trai thì dễ, vi lúc động phòng đèn nến tắt hết, chú rể chính thức sẽ vào hoa đuốc với cô dâu. Xira kia, đôi bên vợ chồng đâu có quen biết nhau lừ lúc trước, nên trong đêm động. phòng cô dâu không thể nào nhận biết được thật giả, và sáng ngày hôm sau, ván đã đóng thuyền, cô dâu chỉ đành cam phận !

Tráo hôn đối với những cô dâu hơi kbó hơn, nhưng khi nhà gái đã muốn và nhỏ bà mai, bà mai sẽ nói thắng với cha mẹ chú rễ, để đánh tráo cô dâu sau lễ tơ hồng. Thường trong việc tráo bôn, lễ rước dâu cử hành muộn, và lúc lễ tơ hồng xong, vài cô phù dâu đưa cô dâu vào phòng, rồi một trong các cô phù dâu biến thành cô dâu chính thức ở lại động phòng cùng chú rề.

Tráo hôn cũng nhi ép duyên dều là tệ tục, đã là tệ-tục ắt khó tửn tại được !

Trang sách 187TRỞ HÔ.N Việc cưới xin xưa phải do mệnh cha mẹ, nếu cha mẹ không bằng lòng, việc lấy nhau không có giá trị, vi cha mẹ có quyền trở-hôn.

Nếu cha mẹ đã chết rồi, các bậc tôn trưởng thay quyền cha mẹ cũng có thể trở-hòn, tức là ngăn trở đám cưới.

Cưới vợ lễ, nếu vợ cả không bằng lòng, vợ cả có quyền trở-bôn.

Ngoài các người trên, người thủ bạ giữ sổ hôn thú trong làng, kế lừ khi có lập sở này cũng có quyền trở bôn, khi biết một trong hai người phối ngẫu đã củ kết duyên một lần với người khác.

Vấn đề trở bôn của cha mẹ ngày nay chỉ có hiệu lực khi con cái chưa đến tuổi trưởng thành. Đã trưởng thành rồi, con cái có quyền tự do kết hôn.

Ngoài ra các đệ tam nhân cũng có quyền trở-hôn nhưng phải khiếu nại trong thời gian luật định kế tì ngày giấy báo kết-hôn được niêm yết tại nơi công-sở bởi viên chức phụ-trách về giả-thú.

HÔN-NHÁ Y VÔ-HIỆU-LỰC Việc cưới xin theo tục-lệ bao giờ cũng có hiệu-lực, tuy nhiên có chín trường hợp sau đây, bôn lễ mặc dầu đã cử-hành vẫn cứ vô-hiệu lực. 10 Mạo hôn, lức là trảo bôn ; 20 Đem vợ, đem nàng hầu cầm cho người ta làm vợ, làm nàng hầu, hoặc dem vợ, đem nàng bầu giả làm chị em gả cho người khác ; 30 Đem vợ lẽ làm vợ cả, hoặc có vợ cả rồi lại cưới vợ cả nữa ;

Ao Cir tang giá thú, nghĩa là lưong lúc có đại-tang cử hành hôn lễ; 50 Ba . con họ-hàng lấy nhau ;

Go Quan thú bộ dân, nghĩa là làm chức vụ ở một nơi nào dùng quyền hành ép uổng người dân nơi đỏ phải lấy mình; 70 Lấy đàn bà có tội đi trốn ;

Trang sách 18880 Thày lu lấy vợ ; 90 Một người đàn bà lấy hai chồng.

Kề từ khi có luật hộ lịch của người Pháp đặt ra lại Việt-Nam, mỗi cuộc hôn nhân đều phải lập giấy giá thú. Không củ giá thú, hôn nhân có' thề bị coi nhi vô hiệu quả.

LY - DỊ người chồng có rất Tục ta trọng nam khinh nữ. Trong gia đình nhiều quyền, người vợ không có quyền gi.

Ngày xưa đàn bà không cỏ quyền bỏ chồng, trái lại đàn ông có quyền bỏ vợ, người xưa không gọi là bỏ mà gọi là đuổi.

Có bày điều người đàn bà có thể bị chồng đuổi gọi là thất xuất: 1o Không con, 20 Dâm dật, 30 Không thở cha mẹ chồng, 40 Đa-ngôn, 50 Trộm cắp, Go Ghen-luông, 70 Có ác-tật.

Đàn bà lấy chồng cần phải có con đề nối dõi tông đường, không có con, người chồng có quyền lấy vợ khác. Chính vi việc cầu-mong có con này mà đã có nhiều đàn-bà phải đi thả-cỏ nghĩa là ăn nằm với người khác đề lấy con, vi ăn nằm với chồng không thụ-thai. Nếu đi thả cỏ bị chồng hắt được ắt mang tội dâm-dật.

Dâm-dật lẽ tất nhiên là một nết-hưr, cũng như không thờ phụng bố mẹ chồng là bất-biếu.

Đa-ngôn thì lắm điều, chua-ngoa làm cho chồng khó chịu. Trộm cắp gian phi cùng ghen-tuông làm xấu tới chồng.

Trang sách 189Người có ác-tật thực ra đáng thương, nhưng có thể truyền tật-bệnh của minh cho chồng được, cho nên đáng thương mà khó dung vậy !

Ngoài bầy điều trên khiến người chồng có thể đuổi vợ, người xưa cũng nghĩ tới sự bênh vực người đàn bà, nên có đặt ra ba điều mà người chồng không đợc đuởi vợ. Ba điều đó gọi là tam bất khả-xuất 10 Đàn bà đã từng chịu tang 3 năm ở nhà chồng, nghĩa là chịu qua một đại-tang ; 20 Trước nghèo sau giàu ; 30 Nếu từ giã nhà chồng về nhà mình không có nơi nương-tựa.

Ba điều Tam khả-bất-xuất đã được người xưa giải-thích :

- Đàn bà đã chịu tang một đại-tang tức là đã giúp chồng trong việc bảo hiếu rồi, như vậy là có công với chồng, chồng không có quyền phụ- bạc.

- Lúc lấy nhau nghèo, về sau giàu tức là có sự giúp đỡ của vợ, người chồng không thế vì giàu mà đổi vợ, bỏ vợ như vậy là phụ công vợ.

- Còn điều thí ba, khi chưa lấy chồng, người vợ có nơi nương- dựa, rồi trong thời gian lấy chồng, bố mẹ chết hết, họ hàng không còn ai, người chồng bỏ vợ như vậy là bất-nghĩa.

Đạo vợ chồng nghĩa nặng tình thâm, tực ta tuy trọng nam khinh nữ, nhưng nền giáo-dục cở truyền của ta đã khiến cho người đàn ông phải giữ liêm sỉ thương yêu vợ trong vòng đạo đức, và người dàn bà nếu gặp người chồng không biết điều cũng nhẫn nại chịu đựng. Chính vì vậy việc bỏ chồng rất hiếm.

Ngày nay luật-lệ đã thay đổi, phong-lục cũng thay đổi theo. Nam rữ bình-đẳng, nếu trai có quyền bỏ vợ thì gái cũng có quyền bỏ chồng, nhưng đôi bên muốn bỏ nhau phải có lý do, hoặc phải có lội- lỗi quy-định bởi pháp-luật.

Pháp luật bao giỏ cũng bảo-vệ gia-đinh, nên luật-lệ về ly-dị cũng rất tỉ-mỉ, cốt cản trở càng nhiều càng hay sự tan vỡ của một gia- đình.

Trang sách 190NGOẠI-TÌNH VÀ GIAN-DÂM Điều thứ hai trong thất xuất là dâm dật. Phong-tục ta rất khắt khe về phương diện này ; người con gái chưa chồng gian-dâm bị bố mẹ tử, làng nước phạt vạ vì làm điếm nhục gia phong, phạm tới thuần phong mỹ tục. Kẻ có chồng gian dâm tội càng nặng hơn, không những luật xira nghiêm phạt, ngay đến cả dư-luận cũng không tha. Nhiều thiếu- phụ có chồng vẫn còn đi ngang về lắt lấy cớ chùng ăn chả thì vợ ăn nem, lội lỗi vi khéo bưng-bít không bị pháp-luật trừng-trị, nhưng vẫn bị dư- luận chê bai. Có biết bao nhiêu cân ca dao mai-mỉa những kẻ có chồng mà vẫn ngoại-dâm :

Có chồng càng dễ chơi ngang.

Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con af d Cô kia đôi nón ba râm Chồng cô dl vắng cô nằm với ai ?

Cô đẻ thằng bé con trai, Chồng về chồng hỏi : - Con ai thế này ?

- Con tôi đi kiếm về đây, Có cho nó gọi bằng thầy thì cho !

Luật pháp trừng phạt những kẻ có chồng ngoại-dâm rất nặng, chồng có quyền đánh đập, đuổi bỏ, nếu chẳng may trong sự đánh đập có quá lay, người vọ bị thiệt-mạng, người chồng cũng chỉ bị tội rất nhẹ. Trước khi đuổi bỏ, người chồng có thể bêu-diếu người vợ làm cho nhục-nhã, khiến cho người vợ phải tủi hỗ mà tự xử lấy mình.

Gọt gáy bôi vôt. - Đây là một hình-phạt đối với người vợ ngoại-dâm.

Người đàn bà dân dật bị chồng bắt được quả-tang ân-ái với trai, có khi chỉ chuyện-trò lẳng-lo với trai, có thể bị chồng trừng-phạt bằng cách Gọt gáy bôt oôi.

Đôi gian phu dâm phụ bị người chồng bắt trói, riêng người vợ bị

Trang sách 191Bọt hết tóc nơi gáy, có khi gọt trọc bẳn đầu, rồi dẫn đi suốt đầu làng cuối ngũ để bêu diếu sỉ nhục. Chỗ gáy người vợ bị gọt tóc, người chồng lấy vôi bôi trắng xóa. Trong khi hị dẫn đi khắp làng, trẻ con chạy theo nhòm ngó, hò rro và người lớn ai trông thấy cũng phí nhỏ rẻ khinh. Khi người đàn bà chỉ bị gọt trọc riêng nơi gáy, chùm lóc đằng trước người chồng đem bắt sõa ra phía mặt đề làng nước trông rõ nơi gáy bị bôi vôi.

Đôi gian phu dâm phụ bị dẫn đi khắp hang cùng ngỡ hêm trong làng, sau đó người chồng mới đem trình hương chức đề giải quan trị tội thông dâm theo luật pháp. Có khi người chồng quá lửc giận vì ghen tuông, đem cả cặp thông gian đóng cọc phơi nắng hàng ngày sau khi đã dẫn đi khắp làng, rồi mới trình với bội đồng làng.

Hình phạt tuy tàn nhẫn nhưng người làng không ai can thiệp kể cả thân nhân của gian phu dâm phụ. Ai thấy cũng cho là đáng lội !

Mọi người có khi dùng ngay cặp gian phu dâm phụ đó để khuyến cáo những kẻ trai lơ khác.

Năm 1990, vào khoảng nhị-bán-niên, nếu ai có ở Hà-Nội ắt còn nhớ truyện một phụ-nữ ngoại-dâm ở quận Nhất bị chồng bắt được, trình Cầm, rồi cho đeo vào cổ hai chiếc thùng sắt tây dẫn đi các phố, vừa đi vừa có người gũ vào hai chiếc thùng cho kêu đề dân hàng phố đổ ra xem.

Người đàn bà ngoại dâm này lại có đeo trước ngực một lấm biền có đề hai câu sau :

Có chồng mà lại theo giai, Ông Cầm bắt được đeo hat cái thùng !

Đọc tới đây, có lẽ có người sẽ hỏi tại sao có những hinh-phạt tàn. nhẫn và vô-nhân đạo như vậy lại được luật-pháp chấp thuận ? .Đúng ! Hình-phạt tàn nhẫn và vô-nhân đạo thật, nhưng nếu bạn ba con vẫn chưa đọc thử nghĩ tới gần đây có những thiếu phụ năm hết lòng chồng, bỏ chồng, bỏ con theo trai, thậm chí lại có người rước trai về giết chồng, hoặc có bà bị chồng bắt gặp nói chuyện với

Trang sách 192trai, chồng chất vắn trai, nồi-xung lấy dao đâm chồng, chắc các bạn đọc sẽ nghĩ khác ! Có lễ sự trừng-phạt ngày nay đối với gian-phu dâm- phụ thật là quá nhẹ !

Bè chuối trồi sông. - Đây cũng là một hình phạt dùng đề trừng-trị người đàn bà có chồng còn ngoại-dâm.

Người chồng bắt được vợ thông-dâm với trai đem trinh nhà chức- trách sở lại, nhà chức trách sở-tại trinh lên quan, quan theo luật xét- sử. Người đàn-bà thông-gian có thể bị kết tội Bè chuối trôi sông. Thi-hành hình-phạt này, người ta làm một chiếc bè bằng thân những cây chuối.

Người đàn-bà tội lỗi bị cột lên bè chuối và bè chuối được thả trôi theo dòng sông.

Người đàn-bà sẽ chịu chết trên bè chuối. Bè chuối có dạt vào làng nào, sẽ bị dân địa-pbương đầy ra. Thấy người đàn bà trên bè chuối, dân chúng đã biết đó là một kẻ phạm tội phản chồng, và tội này, đổi với lễ giáo Đông-phương không ai lha-thứ. Ngoài ra, theo lời các cự nói lại thi người ta tin rằng nếu xã nào đề cho người đàn bà bị bè chuối trôi sông như vậy dạt vào và cứu sống người này, dân xã đỏ sẽ gặp nhiều sự không may nhất là cho các đàn-bà con gái. Cứu sống một dâm-nữ, dâm-thần sẽ lới ngự-trị lại địa phương, phụ-nữ địa phương sẽ trở thành dâm-ô, con gái chửa hoang, đàn bà sẽ lộn chồng. Do sự tin tưởng ấy cộng vào sự khắc-nghiệt của luân lỷ ta đối với đàn bà có chồng ngoại dâm, nên kẻ bị bè chuối trôi sông không bao giờ được cứu thoát.

Ai từ tâm tới đâu cũng không dám cứu vớt những người đàn bà đáng- thương này. Có thề họ thấy dạt vào bờ còn sống, họ cho chút thức ăn, rồi họ lại đầy bè ra sông.

Cách đây hơn bốn chục năm, vào khoảng năm 1917, 1918, trên sông Đảy bãy còn một vụ bè chuối trôi sông. Theo lời các cụ chứng-kiến vụ bè chuối trôi sông này thuật lại, sự việc xảy ra như sau :

Tại phủ Lý-Nhâc, tỉnh Hà-Nam, cách Hà-Nội 50 cây số về phía Nam, ở ngay bờ sông Đáy, có một người đàn bà có chồng ngoại-dâm bị chồng bắt được và bị kết án Bè chuối trôt sông.

Trang sách 193Chính gia-đinh nhà chồng đương-sự đã thi-bành bản-án của quan Phủ Lý-Nhân trước sự biện-diện của người thay mặt quan Phủ.

Người đàn bà được đặt ngồi trên bè chuối, ăn vận chỉnh tề với đủ khâm- tư trang, - người bị trôi sông được coi như người chết, khi liệm, nên có đủ đồ dùng của mình, người chết được con cháu mặc cho quần áo chỉnh tề trước khi liệm và trong áo quan có xếp một số cũng các đồ dùng thờng xuyên của người này, thì người bị trôi sông có những đồ dùng tương-tự.

Người đàn-bà ngồi trên bè chuối, hai chân bị néo chặt vào bẹ một cách khiến cho người này không sao tự gỡ lấy được. Trên bè chuối có một mâm cơm, một ấm nước, một âu tràu với đủ bát chén đũa. Lại có cắm một tấm biền kế rõ lý-lịch và tội trạng của phạm-nhân.

Người nhà kể đáng thương có cho mời thày tự tới cúng lễ cho đương-sự, cầu cho đương sự được chết yên ổn.

Tới giờ ấn định bè chuối được đầy ra giữa sông mặc sự kêu-van khóc-lóc của phạm nhân. Bè chuối trôi đi, những người chứng-kiến trên bò nhin theo, người nhà thân thuộc của đương sự buồn rầu đứng nhìn cho tới khi bè chuối trôi khuất. Có điều đáng thương là trước khi bè chuối bị đầy ra giữa sông, đương-sự xin gập mặt chồng đề vĩnh-biệt và vái lậy chồng...

Kề ra trừng-phạt như vậy thật là độc-ác, nhưng nếu so sự trừng. phạt này với các bình-phạt vo glày, ngựa xé vẫn dùng đề trừng-phạt những kẻ có chồng phạm gian, có lẽ tội Bè chuối trôi sông cũng chưa là quá nặng.

Loân lý của ta khắc nghiệt, luật-pháp của ta nghiêm-ngặt, phong- tục của ta khe-khắt đối với tội ngoại-gian, nhưng chính sự khắc-nghiệt nghiêm ngặt và khe-khắt ấy đã giữ được cho xã-bội thời trước không xảy ra những vụ đàn-bà thông-dâm rồi lại giết chồng như ngày này !

Trang sách 194GÁI GÓA VỚI TỘI PHẠM-GIAN Theo lễ-nghi Việt-Nam có đạo tam-tòng, và muốn giữ vẹn đạo tam-tòng, người đàn-bà khi chồng chết phải ở vậy thờ chồng nuôi con, dù còn ít tuổi. Triều đình xưa thường tặng-phong cho các mẹ góa, chăm chỉ thờ chồng nuôi con đề khuyến khích việc ở vậy của các góa- phụ. Các bà này được vua ban cho bốn chữ Tiết hạnh khả phong. Các bà được mọi người nế trọng và được nêu làm gương cho tất cả các cô gái góa-chồng.

Trái lại, những góa phụ tái-giá bị ngưrời đời chê cười, họ-hàng dè. bỉu. Những góa-phụ phạm tội thông-đâm càng bị xã-hội khinh rẻ hơn.

Họ bị làng nước phạt vạ, bị nhà chồng trục xuất và bị truắt bết mọi quyền hành đổi với các con.

Tình cảnh những người góa bụa không được đi tái-giá thật đáng thương. Tích xưa đã có truyện người đàn bà gnạt mỗ chồng cho mau khô đề tái-giá, vì trước khi chết người chồng đã trối-trăng cho phép người vợ đi bước nữa khi đất mộ được khô. Kế lại truyện này, người xưa đã kết luận :

Thương thay cho gái quạt mó !

Dư-luận đối với các góa-phụ muốn vội vàng tái-giá rất khe-khắt.

Đã có những câu ca-dao chế riễu những hạng người này :

Giàu thì thịt cá cơm canh, Khó thì lưng dưa đĩa muối cúng anh tôt đi lấy chồng.

Tôi khóc rằng : Ới cát anh chồng cũ oi !

Có thiêng thì anh trở dậy ăn rôi nghe kèn.

Anh đã về nghề-nghiệp ấy, xin anh đừng ghen.

Đô cho người khác cầm quyền thê-nh!.

Một lay tôi thắp hương, một lay tôi åm ông thần vì (1), Xin ông phù-hộ đề tôi đi lấy chồng ! (1) Bài-vj.

Trang sách 195Ới thằng cu lớn, ti thằng cu bé, hãi con bé tí tị tì #.

Con ăn cơm, con ở với ông, con ở với bà, Cha mẹ di bước nữa kiếm vài chút em.

Cha con mất đi, mẹ hãy còn thèm, Mẹ xem quả bói hãy còn đàn em trong bụng này !

Ới thằng cu lớn, con ra gọi chú vào đây, Đề mẹ trao trả cái nghiệp này mẹ cho.

Chứ dầu ngày sau mẹ thác đi, con lế mẹ ba bò.

Cũng không bằng thủa sống con cho mẹ đi lấy chồng.

Con al, con chju nghe không ?

KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NGOẠI-QUỐC Trong vấn-đề hôn nhân, người Việt-Nam thường phối-ngẫu với nhau. Trước con mắt mọi người, sự kết-hôn với ngoại-nhân là điều không đẹp, nhất là đổi với đàn-bà.

Đàn ông có thể lấy vợ ngoại-quốc, tuy có điều dị-nghị, nhưng thực người lấy vợ ra không khe-khắt. Trường hợp này cũng rất ít, một số Trung-Hoa thi chẳng bao lâu người vợ sẽ đồng-hóa với chồng và biến thành nguời Việt, một số ít lấy vợ người Pháp dưới thời Pháp thuộc, nhưng những người này sau khi kết-hôn, được nước Pháp cho nhập quốc-tịch Pháp, bọ không còn là người Việt nữa. Đối với họ, những sự chê-bai mất gốc hầu như vô-nghĩa.

Đàn bà Việt Nam lấy chồng ngoại quốc phải chịu nhiều điều chỉ trích dù người chồng đó là bạng người sang trọng có danh-vọng.

Ta có câu : Lấy chó trong làng hơn lấy người sang thiên-họ. Câu này chứng- tỏ các cô gái Việt muốn kết duyên với người đồng xã hơn với trai thiên-hạ, nói chi đến lấy Ngoại-nhân.

Những danh-từ vợ Tây, vợ Tàu, và ngày nay thêm vợ Mỹ đều có nghĩa mỉa-mai khinh-bỉ. Thậm chí những người này thường gọi là lũ Me.

Trang sách 196Me vì kết-duyên với Tây, Tàu, và cả Mỹ nữa, rồi ra họ về nước họ, không chồng các cô lại nguyên phận không chồng. Đã có những câu ca chế riễu các Me :

Lãy Tây chẳng được mấy ngày, Nói về nước nó, bên đây không chồng !

Tiếc thay 1 Hồng ngâm cho chuột vọc Tiếc thay / Mình ngọc đê ngâu vầy / Tiếc thay cho cô em, đối má đỏ hây hây, Người mình chủng lấy, đi lấy ngay thắng Tàu.

Lời ái-ân, nào có biết rửa câu, Ôm pho lượng gỗ, thêm rầu lòng xuân !

Can chi mà đầy đoa tấm thân } Dầu rằng nó yêu nó quý Cũng mang liếng làm thân gói giang-hồ Gánh vàng đi đỏ sông Ngô !

Lấy Tây, lấy Tàu, tuy vậy họ còn có nước da trắng, hoặc họ còn đồng giống da vàng với người Việt minh, có nhiều Me không lấy Tây, lấy Tàu lại rước một ông chồng đen nhọm đen thui. Lẽ tất-niên những me này không thoát được sự nhạo-báng dẻ-bỉu của đồng-bào.

Thi-sĩ Tản-Đàn đã có bài Hát Xãm rất được phổ-biến về những cặp chồng đen vợ Việt này :

Nước trong xanh lo-lửng con cá vàng.

Cây ngô, cành bích con chim phượng hoàng ró đậu cao.

Anh tiếc cho em phận gái má đào.

Tham đồng bạc trắng mới gán mình vào cái Chú Tây đen.

Spi lo-hồng ai khéo xe-duyên, Treo tranh Tố nữ đứng bên anh tượng đồng / Chi em ol, ba bầy đường chồng...

Trang sách 197Miệng đời mai-mia, bạn bè khinh-khí, nhưng nhiều người vẫn bị bắt-buộc lấy chồng ngoại-quốc vì hoàn cảnh, nhất là vì vấn đề tài. chính.

N'ay bây giờ, tư-tưởng đã liến nhiều, việc kết-bôn với ngoại nhân cũng vẫn chưa được đón nhận bằng con mắt thiện cảm của đồng-bào, nhất là đối với các cô các bà. Việc phối ngẫu với người ngoại quốc dù ngay trong giới sang-trọng, dù lễ cưới cử-hành có linh-đinh, nếu có được tha-thứ trong một vài tầng lớp xã-hội, thi vẫn không là một điều mong-mỏi của các thiếu-nữ cũng như của phụ-huynh các cô. Có nhiều cô sánh-duyên với ngoại nhân trong quý-lộc vẫn bị cha-mẹ ruồng-bỏ, làng nước coi thường và anh chị em lấy làm tủi hổ.

Rồi ra, không biết với sự chung đụng ngày một nhiều, thành kiến khinh bỉ các Me một ngày kia có giảm đi cháng ?

ĐẠO VỢ NGHĨA CHỒNG Để kết thúc chương này, tôi lưởng cũng nên có mấy dòng nói về đạo vợ nghĩa chồng từ xưa tới nay.

Theo người xưa, đạo vợ chồng lấy hai chữ hòa thuận làm đầu. Ta có câu : Thuận vp, thuận chồng lát bè Đông cũng cạn. Vợ chồng hòa thuận với nhau thì gia đình có hạnh phúc, và gập khi có sự gi khó-khán cả hai người cùng chung-lưng đấu-cật cùng lo, sự khó-khăn dù thế nào cũng giải- quyết được.

Đổi với vợ, người chồng phải giữ nghĩa, còn vợ đối với chồng cần giữ tiết làm đầu.

Ngoài ra hai vợ chồng lại mỗi người có nghĩa-vụ riêng.

NGHĨA-VỤ CỦA NGƯỜI VỢ Lấy chủng gánh vúc giang-sơn nhà chông !

Lấy chồng người đàn-bả phải lo-lắng về hếl mọi việc nhà chồng, trên đổi với cha mẹ chồng, dưới đối với chồng. Người vợ phải phụng.

Trang sách 198dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải tần tảo nuôi chồng, và đến khi có con phai nuôi con. Lại còn những công việc nhà chồng như giỗ-tết, khao vọng, ma-chay. Người vợ vì vậy được gọi là nội-tướng tức là vị- tướng ở trong nhà, phải quán xuyến mọi việc gia-đình.

Muốn là nội-tướng giỏi-giang, người vợ phải có đủ tứ đức, lam-tòng.

TỨ ĐỨC Tứ đức là công, dung, ngôn, hạnh.

Công là sự khéo-léo chân tay, khéo léo trong việc vá may thêu dệt khéo léo trong việc bếp nước bảnh trái, nhiều khi còn phải kế cả khéo- léo về buôn bán, về đàn nhạc, về họa và thơ.

Dung là dáng-dấp chính-đính hòa nhã. Người đàn bà phải dịu-dàng khoan-thai, và bản thân minh phải chải chuốt cho gọn-gàng sạch-sẽ.

Ngôn là lời nói. Nói-năng phải êm ái, phải khoan-hòa chớ nên quát- tháo, phải mềm-mỏng nhưng cũng đừng li-nhí không ai nghe rõ, nghĩa là phải rành-mạch gọn gàng mà không cấm cẳn, đừng lả-lơi cười cợt.

Hạnh là nết-na. Trên phải kính, dưới phải nhường. Ở trong nhà chiều chồng thương con, lấy điều hiền bậu mà đối với anh em họ-hàng.

Ra ngoài thì nhu-ni chín chắn, không hợm-hĩnh, không xa-hoa đàng- điếm.

TAM TÒNG Tam tòng là ba điều người đàn bà phải theo : ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, khi chồng chết phải theo con.

Đã lấy chồng người đàn đà chỉ biết có chồng, và chẳng may nửa đường đứt gánh thì chỉ biết có con, không đi bước nữa.

Nghĩa vụ trên của người vợ xem ra quá nặng-nề, nên luân-lỷ ngày nay đã đỡ sự khắt-khe hơn trước nhất là trong đạo tam-tòng. Người đàn bả góa bây giờ có tái-giá cũng chỉ là một sự thường, và theo lễ nhân đạo, những góa-phụ trẻ luổi không còn bị bó-buộc phải sống trong cảnh góa-bụa nuôi con mãi mãi. Người đàn bà góa có thể đi theo tiếng gọi của tình yêu !

Trang sách 199NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI CHỒNG Người chồng cũng có những nghĩa-vụ đối với vợ, như vợ có nghĩa. vự đối với chồng.

Người chồng phải ăn ở cho đứng-đắn, biết thương-yêu vợ, biết quý-trọng vợ. Lại phải làm sao có tài-trí đề che-chở cho vợ, dê vợ con trông cậy vào mình.

Vợ chồng phải đồng-tâm hiệp-lực đề giường- mối gia-đinh bền vững.

Người chồng bê-tha chơi-bời là thiếu bổn phận với gia-đình, không làm tròn nghĩa vụ của mình.