VIỆC CHỒN CẤTPhần 19 · trang 312–325
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 312VIỆC CHỒN CẤT Sác người chốt, dù con cháu có thương-liếc đến đâu cũng không thể đề mãi trong nhà, trước sau việc tống chung cũng cần kết-liểu.
Ở vùng quê, nhiều người giàu-có, nhân khi cha mẹ trăm tuổi, thường làm cỗ bàn to lớn để mởi mọc xóm diễng làng nước, trước là đề trả nợ miệng, nghĩa là mởi lại những người đã mới minh, sau là để cụ thề-hóa lòng hiếu qua những màm cô linh-đinh.
Có người thực lòng vi hiếu làm ma-chay bố mẹ lo-lát, nhưng cũng có kẻ muốn khoe-khoang của củi, muốn tỏ ra minh hiến-thảo đối với cha mẹ đề che đậy sự ăn ở bất nhân lúc cha mẹ còn sống nên bày-vẽ muở bò giết lợn làm ma chay !
Cỗ bàn to-lát tbịnh-soạn, đám lang lống-tiễn cũng hơn người, đủ mọi cuộc tế-lễ.
Ta có câu :
Lúc sống thì chẳng cho ăn Đến khi chỉi xuống làm văn lế ruồi !
Thục cũng có phần nào đúng vậy !
Việc chôn cất cha già mẹ héo cũng phải có nghi-lễ và phải sửa-soạn cho đúng phép đề tránh sự chè-bai của mọi người.
CHỌN ĐẤT ĐẤT HUYỆT Trong việc tang ma, ngôi huyệt rất quan trọng.
Theo quan-niệm về phong thủy của ta, một ngôi đất có thê làm rửn con cháu phát-đạt, nhưng cũng có ngôi đất chỉ đem lại sự lụn-bại cho huyết thống. Đất có ảnh hưởng xâu-xa tới xương cốt người khuất. Có chỗ xương cốt được bảo tồn, và có chỗ xương cốt
Trang sách 313mau bị hư-hại, việc bảo tồn hoặc hư-hại này đều có ảnh-bởng lới con cháu.
Ta thường nói .
Sống về mó về mả, ai sống về cả bát cơm.
Lại có câu :
Làm quan có mả, kẻ cả có dòng.
Qua những câu trên la tháy rằng ta tin về mờ-mả lám. Chinh vì sự tin-tưởng này mà trước khi an-láng ông bà cha mẹ, tang gia bao giò cũng chọn ngôi huyệt rất cùn thận và cũng chính vì vậy, những người khá-giả thường xày sinh-phần để khi nhắm mắt, con cháu đã sẵn có nơi chôn-cất khỏi phái tìm kiếm.
Việc tìn đất thường nhờ các thây địa-lý đảm trách. Ngôi huyệt sẽ được chọn then sự mong nởi của con cháu. Có ngôi đất phát giàu có, có ngôi đất phải quan sang, lại có ngôi phát dã đinh, con cháu đầy đàn, hoặc phát tiếng tăm lưng lẫy về một phương diện gi : văn chương, võ-nghệ v. v...
Phần nhiều con cháu nhờ kén ngôi đất để xương cốt của ông cha xiữ được lâu bền không bị mỗi, mọt hoặc mục ngô hầu tránh những điều có thể làm đau sót lới vong hồn người chết và do đó cũng có hại cá cho con cháu nữa.
Nghề địa-lý tim đất có thể kọi là một nghệ-thuật của người xưa.
Tim đất cản-cử vào hướng gió vi mạch đất, do đó địa lỷ còn gọi là phong thủy vi lim huyệt cần phải cản cứ vào hướng huyệt để đón gió lành và vào long-mạch đề nhận sự mát-mẻ của nước ngắm dưới đất.
Một ngôi huyệt lập trung được đủ mọi yếu tố làm cho đất vượng chẳng khác chi đầu não, hưởng nhận mọi long-mạch chạy tới, có đủ sơn thủy.
Theo sách địa-lý, ngôi huyệt đúng đất gọi là huyệt trường, phải có riền.
ún, hậu trầm, tả long, hữu hỏ, tức là có những mô đất cao thấp trợng-trưng
Trang sách 314cho ản buyệt, ao nước, tay long, tay hồ. Ngoài ra trước huyệt phải có minh-đường thủy-tụ, phía sau phải có long-mạch thu-thúc, phía ngoài phải có bàng-sa triều củng, cốt phải có tu-khí tàng phong.
Những thày địa-lý phân biệt ngôi huyệt tốt xấu theo các mô đất. Ở dây thượng nhất thốn vi sơn, họ nhất thốn v! thủy, nghĩa là đất cao hơn một tắc là núi, thấp hơn một tấc là nước.
Thường lang chủ chọn buyệt ở đặt làng hoạc ở các làng lân cận đề tiện việc tròng nơm mỗ mã về sau.
Huyệt dùng cho việt hưng lâng, nghĩa là chin người mới chết, luy lựa chọn nhưng cũng không kỷ huỡng bàng khi chọn huyệt cál-táng, nghĩa là khi cải-láng. Ngỏi huyệt lúe cải iáng mới là ngôi huyệt vĩnh- viễn.
LỂ CHUSÊN-CỮU VẢ LÉ YÊN-TỔ Trước hôm cất đam có lễ duyềncữu và lễ yết tả. Áo quan được chuyển lới nhà đrờ.
Tại nhà thờ, người trưởng lực thấp lương khấn với lỗ tièn đề báo lin người chết lới yết-tỏ. San đó áo quan lại được khiêng về chỗ cũ.
Chuyền cũn chính có nghĩa là xoay quan lài. Việc rước quan tài tới nhà thở yết-lỏ diện vợi, nên không mấy nhà rước quan thi, chỉ rước lồn bạch, hoặc các nhà có phảm tước của triểu dinh thì rước mũ áo dụi-trào tới nhà thở lổ. Tại những xia đinh không có nhà thở lổ riêng, người tang gia chỉ xoay quan tài đi một vòng rồi lại dặt về chỗ cũ.
DƯA ĐÁM Hôm đưa ma gọi là ngày đưa đóm hoạc ngày phát dần.
đám con cháu đêu lễ người chết cuối Triớe khi da cùng dễ lir biệt. Và đòng thời có lỗ cúng Lêtần đề đám tang đi đường cược thanh thản. Lễ cúng củ tràu rượn, vàng, hương, một đĩa xôi, thiếc thủ lợn hoặc chân giò heo hay con gà.. Cúng Lộ thầu xong, đám từng củ-hành.
Trang sách 315Khách tới viếng (Các con chờ đáp lễ) Tang gia đưa đám
Trang sách 316Đầu tiên quan-tài do các đô tùy, thường lệ là người hàng giáp hàng xã cắt-cử ra, khiêng đặt trên cả đòn. Đây là cỗ đòn chung của hòng xóm hoặc của làng, ai có việc tang đều mượn được. Cỡ đòn hình đìn rồng và đuôi rồng, nên được gọi là din rúng.
Bên ngoài áo quan, có chiếc nhà láng địt lên. Chiếc nhà láng mann hình ngôi nhà hoặc chiấc thuyền bát-nhĩ.
Những đô tùy được cử khiêng ân quan và đòn đám thưởng là 1n. 21 hoặc 36 người, do một người chấp lịnh diền khiển bằng một cây kộnh tre hoặc gỗ. Dây là bai thanh tro hoặc thanh gỗ để người chấp lệnh ki làm hiệu cho các đô tày khiêng đòn được ngay ngắn đúng dịp đều-hùn.
Trong những đám lang lớn, rác độ tây phải lập đòn lừ tối hôm trước đề ngày hôm sau theo đúng hiệu-lộnh của người chấp lệnh.
Ngày đưa đám, con cháu họ hàng cùng bà con quen biết đều đưa.
Cha mất thì con trai chống gậy tre đi troớc hoặc đi sau áo quan tùy tục-lệ địa phương. Đúng ra thi cha đưn mợ đón, nghĩa là đám lang cha con đi theo sau áo-quân, còn đám tang mẹ con chống gậy đi trướr.
Mẹ chết con trai chống gậy vông.
Gậy tre tượng trung sự cương lực của người cha, còn gậy vông lượng-trưng nết thuần hậu của ngoời mẹ.
Nếu có người con trai nàn đã chết trước di rồi, con người này phải chống gây thay cha, hoặc nếu có người con trai nào ii vắng, nũ kây sẽ dđặt ở dầu đòn.
Người chết không có con trai, việc chống gậy do người ăn thừa-lị! dăm-nhiệm Trong lúc đảm tang đi đường, con gái con dân lán đường khốc-lốc.
Các cháu gái, chị em gái, chị em đâu cũng khỏc-lóc đi theo đảm tang.
Một vài người thân thích đi kèm chỗ linh-cữu gọi là hộ-tang, con những người đi đưa khác gọi là tống-lang.
Tang-gia ban giờ cũng cử người mang tràu nước và điếu thuốc Mi Theo đề mời khách đưa đám.
Trang sách 317NGHI TRƯỢNG ĐI ĐƯỜNG Trong lúc đi đường, đảm tang đợc đàn theo nghi-thức của tục-lệ, có truớc có sau. 1o Đi đầu là hai Phrong tướng bằng giấy, cối tre đan, có bỗn mắt, hình dung dữ-lợn cằm qươm dáo. Dây là hai thần trrởng đuổi là ma trong lúc đi đường. Có khi hai phương tướng này được : thay hằng hai người thật, mặc quần áo có bùa dấu, đeo mặt nạ, tay cầm khi giới đề dẫn đạo đám tang. 20 Sau hai Phương-tưởng là Thế Kù. Đây là một bức hoành bằng vải trắng de hai người khiêng. Hại bên bức hoành có treo đôi đền lồng đề tước và thụy hiệu của người chất. Trên thấ kỳ có viết bốn chữ, thay đổi tùy theo người chết là cha hay mẹ tang chủ. Cha có bốn chữ Hồson vân ám, nghĩa là Núi Hỗ mâu che, còn Mẹ là Di Lĩnh vôn mô, nghĩa Núi Linh mầy mờ. 30 Ai thứ ba là Minh-tinh. Minh-linh treo trên một cành tre hoặc dán trên một trụ giấy, đặt trên bìn thở co người khiêng. 1o Then sau ngay Minh-linh là câu đối, trỏng của con cháu và của hạn bệ khóe viếng người chất. 5o Kế dến môt lưrng án bày giá hưong, độc hình, mâm ngũ quả, có khi thêm đèn nến thình một bộ ngũsợ hoặc thất-sur.
Co Sau hương-án là cáo thực án, tức là các hương án trên có bày đỏ lễ: lợn quay, tôi gà, hánh trái, hoa quả v.v... 70 Phưùng kèn và phường bát âm. 8o Các đồ minh khì gồm biển đan triện, đèn lóng. Biên đan triện bằng gỗ hoặc bằng giấy, trên có viết hai chữ Trung-Tín nếu là đám-tang đàn- ông, hai chữ Trinh Thuận hoặc Trinh-Tiết nếu là đám tang đàn-bà.
Do Linh-xa, có rước hồn hạch. Ngày nay trên linh-xa có đặt ảnh người qua đời. Thời trước thay vì ảnh nếu người có chức tước thì trên inh-xa có quần áo đại-trào. Có khi mũ áo được rước riêng trên một chiếc kiệu.
Trang sách 318100 Cờ công bổ, đên chữ Á và nếu có kiệu rước mũ án đại-trào của người chết, các nghi-trượng sự thần gồm cờ quạt, tàn lọng, đồ lộ- họ, chiêng trống, vũng lọng, và có rả trống lớn.
Đối với các gia đinh thường thì chỉ có phường kèn và phường bát- im nói trên. 11o Sau cò biển là cỗ đón, còn gọi là đại dư, ruoc linh-cữn. 120 Theo sau linh-rữn là con cháu đi tống táng, có bạch-mạc chiếc màu trắng hoặc còn gọi là phương du đề che cho khỏi mưa nắng. 130 Sau cùng, nến người chết đã ii quy, nghĩa là một phật tử, vú long-kiều, còn gọi là cầu bát nhã do các vài dội vừa đi vừa tụng- kinh đề cầu cho vong hồn người khuất được sang Tây Phương cực- lit.
Có khi có một vài nhà sir di sau cùng. Ngày nay người ta đề nhà •ir di lên đầu.
Trong lúc đám lang đi đường có rắc vùng thoi và vàng giấy, lục cho rằng có ma qui niu vào quan lài, phải rắc vàng đề lống khú ching.
Tất cả nghi-trương trên là của một dám lang gia-dinh phong-ltru, dối với những gia đinh thường, có nhiền điều giảm tiện, và thường •hỉ gồm mấy thứ minh-tinh, nhà táng, đên biển sơ sài, nhưng dù sơ- xủi đến đâu, đối với các gia đinh Phật giáo vẫn có các vũi đi tụng kinh niệm Phật hộ phúc và có sư mặc áo cà sa, gõ mỗ đi theo cầu-nguyện.
PHƯỜNG TUỜNG DẪN-ĐƯỜNG TRỊ HUYỆT Tại nhiều đám lảng, đi đầu hết không phải là hai phương tưởng, mà ri mấy tay hát-bội, đóng quần áo như lúc diễn tuồng: đó là Phường trin! dẫn-đường Iri-huyệi.
Thường là năm người, bốn người đóng bốn vai thiên tướng trấn giữ bún góc Đông, Tây, Nam, Bắc và người thử năm đóng vai vị Thần-hổ, Hội mũ đầu cọp
Trang sách 319Thần-hồ và bốn Thiên-tưởng đi đầu đám táng vừa đi vừa có những điệu-bộ nhảy-tiến và miệng ê-a hát. Thần-hỗ và Thiên tướng dẫn đường đám tang đề đuổi trừ ma quỷ. Thần-hổ vờn nhấy ma quỷ phải trốn chạy, còn các Thiên-lưởng, mỗi điệu bộ đều là những bùa phép trấn.
án dọc đường, xua là đuổi ác.
Thần-hỗ và bốn Thiên tưởng khi tới huyệt đọc chủ, dùng điệu-độ vẽ bùa ở ngay huyệt vù chung quanh huyệt.
Khi có phường luổng trị-huyệt, huyệt phải đào lam-cấp, Thần-hỗ nhẩy xuống lòng huyệt, thám thính khắp tứ-phía, có khi gầm thét, trong khi bỗn vị Thiên tướng múa, đọc chủ và đi quanh buyệt.
Sau khi đã về bùa ếm khắp nơi, năm người đóng vai lrị-huyệt này đều vội-vã bỏ ra về.
Lúc ra về họ phải đi mỗi người một đường, và theo con đường khác con đường lúc đi. Tục tin rằng những là ma trùng quỷ bị xua đuổi ở dọc đường cũng như ở ngôi huyệt, căm giận mẫy vai phường tuồng, chúng họp nhau đón đường để trả thù.
Những người phường tuồng, khi về đến nhà cũng vội vã thay quần áo, rửa mặt cho hết nét vẽ để trở lại người thường ngay, tránh sự báo thù của ma quỷ.
NHÀ TRẠM VÀ LỄ ĐỀ CHỦ Khi đi đường, trong những đám tang của những gia-dình phú-quý có nhà trạm đề đình-cữu và làm lễ đề chủ.
Nhà trạm là một căa nhà dựng nên ở quảng giữa đường từ nhà tới mộ. Tường nhà trạm bằng chiếu tre, phủ vải. Nhà lrạm có cắm cò ngũ hành, chăng đèn kết hoa.
Đám táng sẽ ngừng tại đây để mọi người đi đưa đám nghỉ-ngơi giải khát và đề làm lễ Đề-chủ.
Một vị hưu quan hoặc còn tại chức, hoặc một tay đại-khoa được tang-chủ mời đề làm lễ Đề chủ. Một vị khác được mời phụ-lá cho Đề chủ gọi là Phụng-chủ.
Trang sách 320Đề chủ nghĩa là viết cho trọn chữ chủ ‡ đang còn đở-ngang như chữ tam =.
Tại đây trên bàn thờ có tấm bài-vị. Trên bài-vị có dán tờ giấy viết chữ chủ, nhưng chưa xong hẳn mới có ba nét ngang như chữ tam.
Vị đề chủ dùng bút lông viết thêm cái chấm trên đầu và nét số xuống đề chữ tam thành chữ chủ.
Điểm nét chấm trên đầu chữ lam là điềm chủ, và vạch nét số mới thực là đề-chủ.
Có nơi chữ chủ đã viết cả nét số rồi thành chữ vương E và vị đề-chủ chỉ điềm thêm nét chấm trên đầu.
Tang chủ phải có lễ biếu hai vị Đề-chủ và Phụng chủ. Thường lang-chủ kính biếu hai vị tất cả ngôi nhà trạm với những đờ đạc bày bên trong. Đây là nơi ngừng chân của những người đưa đám, nhưng cũng là nơi để vong-hồn người chết vào lạm nghỉ và thường được trang-hoàng lịch-sự với đủ đồ thờ và bàn ghế quý-giá.
Nghi-thức đề chủ như sau :
Hương-án bày ở trước linh-tọa đằng trước bàn đặt thần-chủ, bên trái bàn có đề bút nghiên. Vị đề-chủ đứng phía đông chiếc bàn này. Trên bàn, ngoài bút nghiên còn có lò bương, bàu rượu, chậu nước ngũ-vị, bản văn-tế, bương, nến, bình trà.
Đám tang ngừng lại trước trạm. Hồn-bạch được rước vào linh-tọa trong nhà trạm.
Con cháu và thân nhâo tới trước hương-án.
Một người chấp-sự xướng :
Quán lấy : Đề-chủ đứng ra ;
Thuế cân xuất chủ : Người phụ-thuộc mở hộp thần-chủ đề mộc-chủ ra bàn ;
Đề chủ : Vị đề chủ hoàn-thành chữ chủ ;
Phụng châu chi linh loa : Bưng thần chủ đặt lên ;
Thu hồn-bạch : Cất hồn-bạch đi ;
Trang sách 321Nghệ linh lpo tiền : Tang chủ tiến gần linh tọa ;
Phần hương : Đốt hương cắm vào bình hương ;
Trâm lửu : Rót rượu ;
Hiến tửu: Dâng rượu ;
Hiến soạn : Dâng cỗ lên ;
Giai quỵ : Mọi người quý xuống ;
Độc chúc : Đọc văn lế ;
Phủ-phục : Mọi người lễ ;
Hưng : Đứng lên ;
Bình-thân : Lễ xong đứng ngay người ;
Phục o/ : Lùi về chỗ cũ ;
Điềm trà: Dâng trà;
Cử al : Mọi người khóc;
Cúc cung bái : Tang-chủ lễ ;
Hưng : Đứng lên ;
Bình-thân : Ngay người ;
Al chỉ : Mọi người ngừng khóc ;
Tọ chủ qua nhị bái : Tang-chủ vải đề-chủ hai vái. Đề chủ vài trả lại.
Trong nghi thức tế thần-chủ nàv, không có đốt văn tế, văn-tế dùng dốt lúc phản khốc, lức là tế khi đã chôn cất xong đám-tang trở về nhà.
VĂN-TẾ ĐỀ-CHỦ Trong mọi cuộc lễ lễ của đám tang đều có văn-tế riêng.
Tế đềchủ cũng vậy. Dưới đây là một mẫu văn-tế Đề-chủ trích trong Tho-Mai Gia-lễ:
Cáo vu hiền khảo mỗ (mẹ là Hiền (v)) vị tiền than rằng :
Bóng thỏ mờ xương, chồi thung đượm luyết (mẹ là chồi huyền) ;
Trang sách 322Trời già đóc địa, khôn đem lắc có đền bồi, Giọl lệ chứa chan, cam chịu thần-hôn biếng nhác.
Nay sắp mô yên mả đẹp, cõi trần-hoàn không thấy hình-dung, Mượn mầu son đỏ mực đen, đề thần chủ đề ghi tên hp.
Thôi lừ nay :
Âm dương xa lánh cõi trần, muôn thuử lìm đâu thấy mặt.
Thụy hiệu sẽ về lý-lý, trăm năm chứng giám tấc lòng.
LỄ HẠ-HUYỆT Lễ đề thần-chủ xong, đám tang tại tiếp lục lên đường đi cho tới huyệt.
Tới huyệt tang-gia phải làm lễ cúng Thổ thần đề xin phép được an táng người chết nơi đây. Lễ củng thổ thần cũng giống như lễ củng Lộ-thần, gồm tràu, rượu, vàng, hương và đĩa xôi, thủ lợn hoặc chân giò, con gà...
Củng Thổ-thần cũng như cúng Lộ thần có văn khấn riêng. Muốn cho long-trọng, đôi khi cũng có văn tế.
Cúng Thổ thần xong, áo quan mới được hạ huyệt.
Thầy địa lý phân-kim định-hớng chở giờ hoàng đạo bạ-huyệt. Đảm tang những Phật-tử, sau khi buyệt đã lấp rồi, các bà vãi mỗi người cầm một nắm hương tụng-kinh niệm Phật đi quanh mộ, rồi mỗi người cầm một hòn đất ném vào mộ gọi là dong-nhan.
Theo lục mới ngày nay ảnh bưởng của Âu Tây, đến mộ thường có diễn ván trước khi lấp huyệt. Diễn văn đọc xong rồi, các thân-bằng cố. hữu một người nếm một nắm đất xuống mộ, rồi các người khác ném theo. Sau đó các đô-tùy lấp mộ.
Mộ lấp có thêm mô cao lên, hoặc hình tròn hoặc hình dài.
Hai chiếc biền phù-phất áp hai bên nhà táng lúc đưa đám, được cắm lên giữa đỉnh mộ.
Trang sách 323Cùng trong lúc ấy, chiếc nhà táng được tang-gia đem hỏa thiêu, nhưng thường có người vào cướp lấy lừng mảnh mang về. Tực tin rằng, cướp được mảnh giấy thì khước.
Cũng nên nói thêm về bát cơn bông đặt trên nắp áo quan. Bát cơn này thường người ta cũng tranh nhau cướp cho các trẻ cm ăn đề khỏi sài đẹn đau yếu.
TẾ THÀNH PHẦN Mộ đắp rồi, con chấu vào quỳ lạy làm lễ thành-phần.
Cũng lại có tế với nghi thức như các cuộc tế khác.
Ở đây con cháu phải lễ bốn lễ thay vì hai lễ như ở nhà.
Tế thành-phần xong con cháu ra về.
VĂN-TẾ THÀNH-PHẦN Năm... tháng... cô (hoặc ai) lử vì đá thành phần, kính dâng lễ bạc, cáo cùng Hiên khảo (hoặc tỷ)... phủ quân (hoặc nhụ nhân) trước mô khóc mà than rằng :
Mây che núi Hỗ (hoặc Di) sót-sa thay con lạo đa-đoan ;
Bê thẳm thành cần, ngoo-ngán nhẽ hóa cơ thay-đổi.
Than ôi !
Kém một ngày không đi, muôn năm giấc mộng, để âm dương chía rẽ đôi đường.
Hơn một ngày không ở, ba thước đào sâu, biết bao giờ cha con lại gặp.
Mừng thay sống trọn thác loàn, nay đã mồ yên mả đẹp, luy còn chôn đất đỏ cỏ vàng, cũng bởi giời cho trọn hiếu, gọi là nén hương đài rượu, trước mà xin hãy thấu tình- Lúc ra về thần-chủ hoặc hồn bạch được rước lên xe. Một người trong hiểu chủ dẫn trước linh-xa trông về nhà mà khóc, còn những người khác theo sau.
LỄ KHẢN KHỐC Linh-xa về tới nhà, một người chấp sự đến bên quỳ xin rước thằn. chủ hoặc hồn bạch vàn linh-tọa, các hộ-lễ rước vào, rồi làm lễ Phản-
Trang sách 324khốc. Trong lế Phản khốc này, bản chúc đọc lúc tế Đề-chủ được đem lúa đi.
Có nhà không làm lễ Phản-khốc, con cháu vào lễ tạ bốn lễ yên. !!. Xong rửa chân tay sạch-sẽ đợi làm lễ ngu-tế.
VĂN-TẾ PHẢN-KHỐC Than ôi ! Thân phụ (hoặc mẫu) đi đâu bỏ nơi trần thế.
Mở yên mỏ đẹp, di hài đã tìm được chốn đất lành !
Sống khôn chết thiêng, bài oj xin rước về nơi lý-lý, Hôm mai thăm viếng, chốn lừ-đường đâu dám trẻ lòng.
Công đức cao dầy, trên linh-loa chứng cho bạc lễ.
TÊ TỔ Trước khi làm lễ tế-ngu, con cháu phải vào lễ Tổ đề cáo-yết tổ-tiên. 'Tế cáo yết này nghi thức theo như các cuộc tế khác và thường , ũng có văn-tế.
TẾ-NGU Ngu nghĩa là yên. Mục-dích Tế Ngu cốt đề cho hồn phách người chết ưực yêu ôn nơi bên kia thế-giới.
Ngay hôm đưa ma trở về có một tuần Ngu-tế gọi là So Ngu.
Ngày hôm sau cũng lại tế Ngu gọi là Tát Ngu, và ngày thử ba cũng có 1í Ngu gọi là Tam-Ngu.
Ngoài ba tuần Ngu-tế này, đến những bữa ăn, các con cháu cũng có là cúng cơm dâng cho người khuất.
Ngu-lế đủ ba tuần thường chỉ cỏ ở những gia-đinh phủ-quý, tại nững gia-đình kém dư-dật trong ba ngày chỉ có họ-hàng bạn hữu tới phing-viếng.
Ở nhà quê, khi có Ngu-tế thưởng có ban tư-văn hàng giáp tới trợ-tế.
Lù tất-nhiên có ăn-uống lốn kém.
Trang sách 325ẤP MỘ Trong ba ngày sau khi mới chôn, ỗi buổi chiều con cái đem cơi tràu đến chỗ mả khóc-lóc gọi là ấp mộ, đem hơi nóng của tình thân gia- đinh làm cho mộ đỡ lạnh-lùng.
Đến ngày thử ba, con cháu đắp sửa lại ngôi mộ cho tốt đẹp hoặc làm nhà mờ.
Có mời phù-thủy yễm-bùa trử ma quỷ.
Ngày thứ ba này, vùng quê gọi là Ba ngày có làm cổ bàn mời bà con thân-thuộc.
Kề từ ngày thứ thứ tư trở đi, con cái khỏi phải ra thăm mộ trử những ngày tuần rằm mồng một.
Ở nhà, hai buổi cúng cơm cho đến tuần Chung-Thất.