Tài-liệu đọc thêmPhần 12 · trang 210–243

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 210Tài-liệu đọc thêm ÔNG TƠ-HỒNG, VỊ THẦN-LINH CHỦ VỀ HÔN-SỤ Vị thần-linh chủ về hôn sự theo tin-lưởng của dẫn la là ông Tơ- hồng cũng còn gọi là Nguyệt-lão. Nhiều khi Nguyệt lão bị phụ-nữ-hóa biến thành bà Nguyệt.

Nguyệt-lão được hinh-dung trong quảng-đại quần chúng là một ông xià đầu bạc đang xe những sợi chỉ l màu hồng. Hinh-dung này do sự- lích của Vi-Cố đời Đường cấu-tạo nên.

Truyện Vi-Cổ thường được nhắc lại như sau :

Dưới đời nhà Đường có một nho-sinh học bành uyên-bác lên gọi Vi-Cố.

Một ngày kia Vi-Cố dạo chơi dưới trăng, được gặp một ông gia lang giớ từng trang một quyền sách, bên cạnh có chiếc đây đây chi Vi-Cố hỏi, ông già đáp quyền sách đó phi những lứa-đôi của mọi rấp trai gái, còn những sợi to bồng dùng để buộc những cặp này lại víi nhau. Ông già nói thêm : « - Dù cách biệt vì địa vị xã-hội, dù gặp nào phải hưn nhiêu kảó khăn, cuối cùng số mệnh vẫn thắng và kẻ phối-ngẫu với kẻ nào vẫn là do duyên-số ».

Thấy ông già nói vậy, Vi-Cố muốn biết người sau này sẽ sán). duyên với minh là ai. Ông già liền chỉ vào một cô bé hai tuổi, con một mụ hành-khát trong ngôi chợ gần đó và bảo đó là người vợ tương- lai của họ Vi.

Thấy vậy Vi Cố tự nhủ: .- Cô thể như vậy được cháng ? Vợ ta, con một mụ ăn mày !

Trang sách 211e 212 = Sau đó Vi-Cố thuê người giất chết cô bé. Kẻ bung-đồ đã dùng dao đâm vào sọ đứa nhỏ, nhưng nhát đâm không trúng mà chỉ sượt qua lông mày cô bé, gây thương lích tại nơi đây.

Mười bốn năm sau, Vi-Cố thi đỗ, được bổ làm quan và vị Tiết-độ- sử gả con gái cho.

Cô dâu có một vết sẹo nhỏ trên lông mày.

Vi-Cố bỏi vợ, được nàng cho biết khi nàng 2 luổi bị một kẻ hung- đồ dâm bụt. Quan Tiết độ-sứ có chứng-kiến vụ hành-hung này, động lòng trắc-ẩn, nhận nàng làm dưỡng-nữ.

Thì ra, lời ông già xe to đã ứng-nghiệm. Họ Vi đã kết duyên với con mụ hành khất tại chợ nơi xưa.

Sự-tích trên đã gây trong quần chúng sự tin tưởng vào tiền định trong bôn nhân, nghĩa là vợ chồng có duyên số và sợi giây Tơ hồng vô-bình đã xe-kết những cặp vợ chồng với nhau.

Và ông già xe tơ được gọi là Nguyệt-lão vì Vi-Cố đã gập ông la ở dưới trắng, và ông cũng có tên là To-Hồng vì ông xe những sợi chỉ tơ màu hồng.

Tin tưrởng ở ông Tơ-Hồng, trai gái đến tuổi lành-duyên đều cầu khẩn ông giúp cho được duyền may phận dẹp. Trong ca-dao Việt-Nam thường nhắc nhiều tới vị thần-linh chủ về hôn-sự này :

Bắc thang lên tới Trăng già, Chỉ hồng đâu lá, mượn và bốn dây ?

Để ta re-kết đấy, đây, Xe chim loan-phượng với cây ngô-đồng.

Xe tố-nữ với anh-hùng Xe trang thục-nữ bạn cùng thi-nhân...

Trai gái cầu-khẩn ông Tơ Hồng cho được duyên may phận đẹp, nếu tinh-duyên ngang-trái, họ cũng quay trở lại oản than Nguyệt-lão !

Trăng già độc địa làm sao !

Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự-nhiên !

Trang sách 212hoặc :

Ông Tr sao khéo da-doan Xe to saa khéo vó quàng vo siên !

Và cũng đã có những vàn ca-dao châm-biếm về Nguyệt-lão : ông đã vụng xe tạo nên những cặp vợ chồng niên-kỷ chênh-lệch :

Bắc thang lên đến lận trời, Bắt ông Nguyệt-lão đánh mười căng lay, Đánh thôi lạt trối vào đây, Hỏi ông Nguyệt-lão : « Nào dây lo-hồng • * Nào dây xe Bắc, xe Đông • * Nào dây re vợ ve chồng người la 2 & Vụng re, re phải vợ già, • Tôi thì đốt cửa đốt nhà ông lên /»

Còn nhiều, nhiều câu ca-dao về ông Tơ hà Nguyệt, nhưng mấy câu trên cũng đủ nói lên nhiệm vụ nặng-nề của vị thần-linh về hôn-sự lắm rồi l.

Trang sách 213Tài-liệu đọc thêm HÔN LỄ ĐỒNG-BÀO THƯỢNG Gần đây theo quan-niệm mới của một số các nhà nhân-chủng-học, chúng ta đồng lỗ-tiên với người Thượng. Đã tim hiều tục-lệ của chúng ta, lể đâu chúng ta không tìm hiểu những lục-lệ của các đồng-bào Thượng, nhất là những lục-lệ về hôn-nhân. Những lục-lệ này giữ một phần rất quan-trọng trong những phong lục chi-phối đời sống của họ.

Người Thượng tại miền Nam nước Việt ở rải-rác suốt từ Quảng- Trị, Thừa-Thiên tới các tỉnh Nam-Việt : Tây-Ninh, Binh-Dương, Châu- Đốc qua các tỉnh miền Cao-nguyên Trung Việt : Binh-Long, Long-Khánh, Pleiku, Kontum.

ở đây, hôn-lễ của từrng sắc dân Thượng sẽ được lần lượt trinh bày ; lễ lất-nhiên còn nhiều điều thiếu-sót hoặc sơ suất, rất mong được bạn đọc chỉ-dẫn đề bồ-khuyết sau.

NHỮNG SẮC DÂN ĐỒNG BÀO-THƯỢNG Trước khi đi vào hôn-lễ của đồng bảo Thượng, xin nói sơ qua về mọi sắc dân, họ ở đâu, có những bộ-lạc nào.

Đúng ra, các sắc dân người Thượng sống tại miền Nam nước Việt không nhiều, có thể thu gọn vào mười sắc dân chinh : lò Người Teu 20 Người Sédang 30 Người Chầm 4o Người Bahnar 50 Người Djarai Go Người Roglaï

Trang sách 21470 Người Rhadé 80 Người Koho go Người M'Nong 100 Người Stieng Về các đồng-bào người Chàm, ngoài các bộ-lạc ở miền Trung-Việt, còn phải kê đến người Chàm ở Châu Đốc thuộc Nam-Việt.

NGƯỜI TEU Ở miền Thượng du lỉnh Quảng-Trị người Teu có 2 bộ-lạc chính :

Tôi Ô1 và Vân-Kiều. Họ còn ở cả tỉnh Thừa Thiên và lan xuống phía Bắc tỉnh Quảng Nam.

Người kinh gọi họ là người Thương ăn tràu, vì luôn luôn họ nhai tràu trong miệng giống như các bà nhà quê ta.

Người Tôi-ôi ở ven theo ranh giới Việt-Lào : người Vân-Kiều ở sát Trung-châu.

Tuy chia bai bộ lạc khác nhau nhưng phong tạc tập quán họ không khác nhau bao nhiêu.

Hôn Lễ. -- Người Teu Cheo chế độ phụ-hệ nhưng lrai gái rất tự-do trong vấn đề hôn nhân. Người con gái lớo lên được cha mẹ cho phép xiao-thiệp với các bạn trai lục gọi là Di-Sim bay Tăm-Bơm, nghĩa là nằm mric ; tuy vậy mỗi khi có khách lạ tỏi nhà, người thiếu nữ Teu phải khép-nép e-lệ.

Muốn tìm hiểu một cô gái, các chàng trai Teu tới lâu-la trò-chuyện rổi mang biếu một món quà, đò kỷ niệm hoặc tiền. Nếu cô gái nhận quà biếu, chùng trai có thể đưa cô về nhà giới thiệu với cha mẹ. Nếu cha cũng tng ý thi nhờ người mai-mỗi với cha mẹ cô gải tính chuyện Sau lễ ăn-bỏi là lễ xin-cưới ; sính lễ gồm hai hoặc ba con trâu, mấy nồi đồng lớn, mấy thanh-la và các đồ dùng khác.

Trang sách 215Các chàng trai nghèo không lo đủ sính-lễ được cha mẹ cô gái miễn cho lễ ău-hỏi, nhưng phải có đồ sinh-lễ xin cưới đề ra mắt gia-tiên và họ-bàng, không thể miễn được. Chàng trai quá nghèo, sinh-lễ có thể tinh giảm, nhưng ít nhất cũng phải có một con trâu và đồ dùng khác.

Có những gia-đinh nhà gài khó-khan, đã chẳng tỉnh-giảm đồ sính- lễ cho chàng rê thì thôi, lại còn cha đòi phần cha, mẹ đòi phần mẹ, cô cậu cũng hạch phần của mioh. Cũng may, trong trường bợp nghèo quá, không đủ lo sính-lễ, những chàng trai có thể xin nợ lại rồi trả sau, trả không hết, con cái sẽ trả thế, hoạc nếu sinh được con gái, ông bà ngoại sẽ hưởng sinh-lễ về cưới xin để trừ nợ chàng rẽ thiếu trước.

Nếu chỉ sinh con trai, phải trối trắng lại để các cụ ngoại sau này, nếu còn sống, sẽ đứng gả chồng cho một đửa chắt ngoại.

Tục cưới xin của dân Teu rất tốn-kém, do đó có tục anh chết đề lại vợ cho em, cha chết đề lại vợ lẽ cho con. Người đàn bà không chịu sự đề lại này, phải hoàn lại những sinh-lễ trước đây của chồng.

Dân Teu có tục đa thê, người giàu có muốn lấy bao nhiêu vợ cũng được, miễn là có đủ đồ sính-lễ.

Có nhiều chàng trai nghèo quá không lấy được vợ, trái lại có những cụ già sẵn tiền có đến chín tười vợ ; các cụ mua sẵn những con gái 9, 10 tuổi để nuôi lớn lên làm vợ.

Theo phong-tục, anh em họ về bên cha không lấy được nhau, còn về bên mẹ lấy nhau không bị ngăn-cấm.

NGƯỜI SÉDANG Người Sédang ở rải-rác lừ miền Nam tỉnh Quảng-Nam suốt mấy tỉnh Binh-Định, Quảng-Ngãi đến Kontum và chia làm nhiều bộ-lạc :

Rongao, Halang, Dié và Sédang chính. ... Bộ-lạc Halang ở phía Nam Kontum, sát với người Bahnar.

- Bộ lạc Rongao ở Tây-Nam Kontum, xiáp ranh với Lào.

Trang sách 216- Bộ-lạc Dié ở vùng Toumorong, Tây-Bắc Kontum.

— Bộ-lạc Sédang chính ở Bắc Kontum, Đông-Bắc Bình-Định và phía Nam Quảng-Ngãi.

Phong-tục của những bộ-lạc này chỉ khác nhau đôi chút, bộ-lạc Sédang có thể tượng-trưng cho hết được.

Hôn-Lễ. - Tục-lệ cưới xin của người Sédang rất khác người Kinh.

Họ không nhất định trai phải hỏi vợ hay gái phải cưới chồng, không theo hẳn chế độ phụ-hệ hay mẫu-hệ.

Trai gải đôi bên thương yêu nhau, bên nào đến hỏi trước cũng được. Sau khi cưới xin, con rẽ phải về ở rẻ 11 nhất 3 năm. Lễ cưới xin cũng tốn-kém tuy không quá nặng bằng sinh-lễ của người Teu.

Thông-dân và phạm gian. - Sự thông-dâm tụi dân Sédang bị tring phạt nặng. Người thông dâm bị phạt trâu bò đề giết thịt cho cả lùng ăn.

Đôi trai-gái nếu lấy nhau chưa đấy năm, mà phạm lội thông-dâm thì cả kẻ thông dâm lẫn người đồng-lõa bị trưng phạt rất nghiêm. Họ bị đuổi ra khỏi làng và không bao giò được đặt chân trở lại đất làng nữa, cho đến khi nào kẻ phạm tội giết một con lợu trộn máu vào gạo, ngồi tại một nơi đề lất cả dân làng di qua, mỗi người bỏ một ít gạo trộn máu lên đầu kẻ phạm tội và nói :

- Tao tha lội cho mày đễ từ sau không tái phạm nữa.

Sau đó kẻ phạm tội mới được trở về làng.

VI sự trừng-phạt khắt khe nên mặc dàu người Sédang có tực trai gái ngủ chung lại nhà làng mà rất ít khi xảy ra những truyện đồi-bại đáng tiếc.

Ly-di. - Người Sédang có tục bỏ vợ. Bỏ vợ, người chồng phải bồi- thường cho vợ một hoặc hai con trâu, sau đó người đàn bà mới có quyền lấy chồng khác, bằng không đành ở vậy, không ai đám lấy.

Một lục dù-man. - Về hôn lễ, trước đây bộ lạc Dié có một tục rất vlã-man :

Trang sách 217Người con trai hỏi vợ, sau khi được nhà gái thỏa-thuận, phải lo đồ lễ, và đồ lễ bắt-huộc phải là một bàn lay của kẻ thù, người lạ mặt hay của một người khác làng ; như vậy để chứng-tỏ người chồng can- đảm có dủ sức-mạnh che-chở cho vợ.

May thay tục này, ngày nay đã mất.

NGƯỜI CHÂM Giữa khu-vực Cao-nguyên và Trung-châu Trung Việt, suốt theo bò biền tư Quảng Ngãi đến Bình-Thuận, ngày nay là giang-sơn của đồng. bào thiều-số người Chàm.

Người Chàm, con cháu người Chiêm-Thành, đã từng có một quá- khứ oanh-liệt và đã từng giao-tranh với người Việt Vam từ đời nhà Lý, qua đời nhà Trần cho đến tận thời Chúa-Nguyễn.

Người Chàm chia làm nhiều chi-phái :

- Người Chàm Cà-Giùng - Người Chàm Đá-V'ách - Người Chàm chính-thống.

Người Chàm Cà-Giòng ở phía bắc tỉnh Quảng-Ngãi, vùng Trà-Bông và Bắc Sơn, giáp-giới với vùng Hậu Đức linh Quảng-Nam và vùng Da-Kley lỉnh Kontum. To lớn, có về hung lợn nhưng chậm-chạp.

Người Chim Đá Vách còn gọi là Chàm Cua ở phía nam Quầng-Ngãi, vùng Ba-Tn, Minh-Long và Nam Sơn-Hà, Trái hẳn với người Cà- Giòng, người Đá-Vách bé nhỏ nhưng lanh-lẹn và tinh-khôn.

Xen vào giữa hai khu-vực của người Đá-Vách và người Cà-Giòng, là khu-vực của người Châm chính thống, ở gần thành thị. Về phương diện hình-thức, người Châm Chính-thống không khác người Đá-Vách mấy và họ hao-hao giống người Việt-Nam. Họ còn được gọi là người Hạ, ở miền núi ven bở-biểu các lỉnh Khánh-Hòa, Ninh-Thuận, Bình-Thuận và Bình-Định.

Trang sách 218Ba giống người Chàm Đá-Vách, Cà-Giòng và Chính-thống ngôn-ngũ hơi khác nhau nhưng phong tục không sai-biệt nhau bao nhiêu. Họ cùng chung một tổ-tiên mà theo một thuyết thi tổ-tiên này đã từ Mã- Lai tới trú-ngụ tại Việt Nam ở vùng Đắm-Môn, Vạn-Ninh và vịnh Cam-Ranh.

Hôn-Lễ. - Hôn-lễ người Chàm tốn-kém và phiền-phức. Có thể trai cưới vợ hoặc vợ hoặc gái cưới chòng như người Sédang.

Khi đôi trai gái đã biết nhau và đã thương yêu nhau, cha mẹ đôi bên nhờ người mai-mối và định ngày cưới.

Sau ngày curới, nếu trai cưri oọ khì cô dầu về nhà chòng, còn trái lại, nếu gál cưới chồng, người con trai phải đi ở rè.

Lễ cưới cử hành to nhỏ tùy sự giàu nghèo của đôi gia đình, nhưng dù to nhỏ cũng có làm cổ mời họ hàng làng nước.

Nhà gái phải làm cỗ mời nhà trai trước ; hôm sau nhà trai sẽ mời lại.

Ngày rớc dâu, chú rễ mặc quần áo sặc sỡ, đầu đội mũ, lay cầm xây có dán giấy hoặc học vải xanh đỏ. Cô dâu cũng ăn vận đặc-biệt hơn ngày thường; cô đeo vòng và đeo rất nhiều bạt cườm ngang hông về phía sau.

Chú rề và cô đâu mỗi người có một chiếc vòng tay. Trước mặt họ- hàng, đôi bên trao vòng lẫn cho nhan, cùng với hai chiếc vòng có hai chiếc bát ăn, tượng trưng cho lời giao-vóc. Sau này, nếu đòi bên không thuận nhau nữa có thể trả lại nhau vòng và bát.

Giữa đám cuới, hai họ sẽ trao cho đôi bên dàu rế mỗi người một miếng trầu ; dôi bên cùng ăn ngay. Môi cả đôi bên đền đỏ là có sự may-mắn trong việc phối ngĩu ; nến chỉ một bên đỏ môi, sẽ có điều không hay cho bêu kia : người đủ môi sẽ át người bạn trám năm của minh.

Lễ cưới xong, hoặc cô dâu về nhà chồng, hoặc chú rế về nhà vợ, tùy theo bên nào cưới hỏi.

Trang sách 219Một vài lục kỳ lạ. - Con gái khi xuất-giá không được bắc rồi lên bếp của nhà chồng minh, cả con rề cũng vậy, không được bắc nồi lên bếp nhà vợ.

Cô dâu về nhà chồng, phải đợi mẹ chồng làm lễ đặt rồi trên bếp, con dâu mới bắt đầu nất-nướng được. Chàng rễ đi ở rề cũng vậy, cũng phải đợi mẹ vợ làm lễ đặt nồi như cô dâu về nhà chồng.

Việc cưới xin đã xong, cô dâu chú rê đã về ở nhà nhau, họ đợi mấy ngày sau, chọn ngày tốt, rủ nhau đi suối bắt ốc làm lễ đạt nồi.

Óc bắt được đem về nhà đổ vào nồi, bà mẹ chồng và cô dâu rỗi người cầm một tay, bưug nồi ốc đặt lên bếp, đoạn bà mẹ khấn vải xin thần bếp lir nay cho cô dâu là người nhà được quyền tự do trong bếp. Nếu chàng rề về nhà vợ, bà mẹ vợ cũng làm như vậy.

Kể từ ngày có lễ này, cô dâu chú rề mới được ăn ở với nhau.

Người Chàm có tục tảo-hôn. Những gia-đinh giầu có, có khi cưới vợ cho con tử khi lên 9, 10 tuổi. Trong trường hợp này, người vợ thường hơn tuổi chồng. Gia-đình nhà chồng cưới vợ cho con cốt đề lấy người giúp việc trong nhà.

Ngoạl-tình và loạn-dâm. -. Tội ngoai-lình và loạn-dâm bị người Chàm trứng- phạt gắt-gao.

Người đàn bà có chồng còn ngoại-tinh phải nộp vạ hai con lợn, một con cho chồng và một con cho làng để làm thịt mời bà con làng nước lới ăn và làm-lễ chuộc tội.

Ngoại-tinh với người trong thân lộc, tội nặng hơn, phải nộp hai con trâu, một cho làng, một đề cúng Trời-Đất. Lễ tất-nhiên trâu được đem mở thịt dân làng cùng ăn. Ngoài ra còn phải nộp cho chồng một con lợn và phải làm lễ thế sẽ chừa bỏ ngoại-tình. Lễ thề cử hành ở bên suối : Kẻ ngoại-tình giốt một con gà trắng và nguyện không tái- phạn.

Ngoại sự trừng-phạt trên, gian-phu, dâm phụ còn chịu thêm một hình phạt vật chất về thề-xác nữa :

Trang sách 220Bà con dân làng sẽ họp lại một địa điểm rộng, chia đứng hai bên.

Ở giữa là một máng cho lợn ăn, trong máng có cơm nước trộn lẫn. lộn. Gian-phu, dâm-phụ đứng hai bên máng và phải vục đầu vào ăn như lợn. Hình phạt này có ý rằng tir-cách hai phạm nhân không hơn fì con lợn, họ phải biết sửa-mình tu-tinh lại. Dân làng bà con thay nhau cầm roi quất vào bai nguời, bai người cứ phải vục đầu án cho lết chỗ cơm ở máng. Ăn xong hai người bỏ chạy vào rừng.

Sau hình phạt thổ-xác này, phải nộp vụ như đã định mới được trở về làng sống bình-thường.

Lydf. - Hai vợ chồng nếu xét không còn ăn ở với nhau được, có thề cùng nhau xin ly-dị.

Hai người dắl nhau tới ông Già Làng đại-điện cho Trời Đất đề xin thôi nhau. Dân làng được mời tới chứng kiến. Ông Già Làng sẽ hỏi đôi bên nhiều câu, tim cách dàn-hòa ; dàn-hòa không xong, Ông Già Làng kết-luận :

- Muốn ly-dị phải trả của cho nhau !

Việc trả của tùy theo sự giàu nghèo của người xin ly-hôn.

Vợ bỏ chồng, chồng bằng lòng, vợ phải bồi-thường cho chồng một con trâu và năm, bẩy đồ vật khác. Nghèo thi chia quần chia áo, chia lợn, gà vv...

Chồng xin ly-dị, việc bồi thường chồng phải chịu.

Bồi thường hoặc chia của cho nhau xong, đội bên đắt nhau tới bên bở suối làm lễ giải lời thờ trước sự chứng kiến của hai họ.

Trong lễ giải lời thề này, đôi bên đổi lại cho nhau vòng và bát họ đã trao cho nhau ngày cưới. Giãi lời thề xong, đôi bên kéo nhau về làm cỗ mời dân làng ăn.

Từ đó, đôi bên lại được tự-do định đoạt lấy cuộc đời.

Trang sách 221NGƯỜI CHÂM CHÂU-ĐỐC Nói đến người Chàm, thường ta chỉ nghĩ lới người Chàm ở Trung- Việt, ít người nghĩ lới ở Nam Việt, tại một tỉnh giáp giới Cao-mên cũng có người Chàm, và người Chàm này cũng đồng tổ-tiên với người Châm miền Trung.

Đây là những người Chàm ở mấy quận Khánh-Binh, Châu-Phủ, thuộc lỉnh Châu-Dốc, nhất là ở xã Châu-Giang, nằm bên kia bờ Hậu- giang, đối diện với thị rã Chân Đốc.

Người Chàm ( hâu-Đốc theo Hồi giáo, bởi vậy hôn lễ của họ củ-hành theo nghi-thức Hồi-giảo.

Hôn-lê. - Trai gái Chàm Châu Đốc chỉ được lập gia-đình, khi đã được coi như trưởng thành.

Con trai được coi như trưởng thành khi đã chịu xong lễ cắt do quy- đầu, con gái thì vào luổi dậy thì, lức là 13, 14 tuổi.

Việc hôn nhân của người Châm Châu-Đốc được thành lựu nhờ mai mối, tương tự nhi tục-lệ Việt-Nam.

Một chàng trai đến tuổi trưởng thành. bố mẹ chàng muốn cho chàng thành gia-thất, phải nhờ môi nhân tới gia đình cô gái đã được lựa chọn đề dỏ xét ý-kiến của bỗ mẹ cô ta. Đôi bên cùng thỏa-hiệp, hôn lễ cỏ thể cử-hành được. Hôn-lễ của đồng-bào này cũng phức. tạp và lốn kém lắm.

Lẻ dút khoát lời nót. - Sau sự thỏa thuận của nhà gái, một ngày được ấn định để tử-hành lễ dứt khoút lòt nói, lương-tự như lễ ăn hỏi của ta.

Đúng ngày ấn định, họ hàng nhà trai đến nhà gải với đồ lễ, lổ-chức tại nơi đây một bữa tiệc có nhiều quan khách tới dự để chứng-kiến việc nhà gái bằng lòng gả con cho chà trai và cũng đồng-thời việc ấn- định số tiền cưới gồm 2 khoản: tiền cưới và tiền chợ.

Tiền cưới có tính cách lượng trưng cho lễ gả; tiền chợ là tiền sắm cưới, nhiều khi rất lớn, nhà trai phải đưa trước để nhà gái sửa-soạn Lễ cưới.

Trang sách 222Lễ dứt khoát lời nói cốt đề nhà gái xác-nhận trước quan khách việc gử con cho nhà trai vời môi-nhân.

Trong lễ này, sự hiện điện của môi nhân rất cần-thiết ; bố mẹ chàng trai cò mặt hoặc vắng mặt cũng không sao. Lễ vật trong buổi lễ có thê là nữ trang, quần áo v.v... do môi-nhân trao cho nhà gái.

Sau này, nếu vì một lễ gi, lửa đôi của đôi trẻ không thành, nhà kúi chỉ cần nói với môi-nhân là xong. Lễ vật có thể : được hoàn lại hưặc: không tùy trường hợp.

Từ lễ này tới lễ cưới thời gian không nhất định Suốt thời gian này dòi trai gái không được gập nhau, ngoài những buổi thăm viếng của dôi gia-đinh đề đôi bên trai gái có thể thấy mặt nhau.

Khi gia-đình nhà trai sang thám nhà gái, việc liếp đón do toàn dàn-ông, trái lại khi nhà gái lới thăm nhà trai, việc liếp đón hoàn-toàn do đàn-bà.

Lễ cưới. - Ngày cưới được ấn định với sự ưng-thuận của đôi bên. lĩ cưới cử-bành trong 2 ngày.

Ngày đầu, hai gia-đinh trăng đèn kết hoa, mởi họ-hàng ăn uống.

Trong việc trang hoàng bao giờ nhà trai cũng sơ-sài hơn nhà gái.

Nhà gái chỉ trang-hoàng nhà trong, nơi sẽ dùng làm phòng hoa-chúc dùng theo tục lệ, và gian này chỉ khách đàn-bà mới được vào, khách dùn-ông tiếp ở nhà ngoài.

Cô dâu chủ rễ sửa-soạn ăn mặc theo dúng nghi-thức : y phục của •hú rễ là y-phục đi hành hương của một vị chức sắc trong Hồi-gián, rau y-phục của cô dâu thi rất lòe.loẹt. Ngày hôm nay, lần đầu tiên cô dược Choa son điểm phấn, điều mà thường nhật cô vẫn bị cấm. Trên tâu có cài trăm.

Cả cô dâu và chủ rê dùng lá nhuộm móng tay cho đỏ.

Cô dâu ngồi trên một bộ ngựa do nhà trai đến nhà gái sắp đặt luric. Trên bộ ngựa có trải thảm và bai bên có hai chồng gối thêu hoa.

Ngài trên bộ ngựa, trông cô như một nữ chúa ngự lrên ngai vàng.

Trang sách 223Tại nhà trai, chủ rề cũng có một chỗ dành riêng trong gian nhà được trang hoàng.

Khi sửa-soạn xong, mọi người tung-hô chủ rế và cô dâu, lùy theo ở nhà trai hay nhà gái.

Các bạn-bề chủ rế bế chú lên cao trước một đĩa trầm nghi-ngút.

Một vị bô-lão đứng ra cầu nguyện để mọi người hòa theo hướng về chú rẽ hoặc cô dâu.

Buổi tối, tại hai nhà đều có khách-khứa tụtập. Tại nhà trai, các tbanh-niên ca-hát, nhưng mọi loại dàn đền bị cấm.

Tại nhà gái, đêm nay là đêm của các cô thiến nữ, Vì đêm nay các cô được họp bàn cùng nhau lới khich-lệ cô dâu, còn hàng ngày các cô thường không rời khỏi nhà. Các cô ngồi vòng theo vách gian phòng trông như bầy liên-nữ. Các bà mẹ nhân dịp này thường ngắm- ngía các cô để kén vợ cho con.

Ngày hôm sau, chinh là ngày lễ cưới, họ hàng bè-bạn nhà trai đưa chú rề tới nhà gái. Di đầu là các bô-lão, rồi đến các thanh-niên cùng trống nhạc. Bố mẹ chàng trai ít khi đi trong đám đưa rễ này.

Một thanh-niên cầm lọng cho cho chủ rễ.

Có hai em bé bưng khay, một khay tiền cưới và một khay trầu cau.

Tại đằng nhà gái, vải trắng được trủi từ cửa vào gian buồng cô dâu đề đón đám rề, chàng rề sẽ theo đường vải trắng đi vào chính- thức gập cô dâu.

Khi đám rễ đã tới rồi, khách-khứa mới an-tọa để chứng-kiến lễ gả.

Người cha -- nếu người cha đã thất-lộc hay vì lý-do gì không làm lấy được đã có người thụ-ủy, - chính-thức vào thông-báo cho cô đâu biết cô đã được gả cho chàng trai.

Trong lễ gả, người chủ-hôn nhà gải ngồi đối điện với chú rề đề nghe các vị chúc sắc đọc những lời khuyên bảo về hôn-hân. Môi-nhân phải có mặt tại lễ này.

Trang sách 224Sau đó, vị chủ-hôn tuyên-bố cô gái đã được song thân cô gả cho chàng trai. Chàng trai đáp lại nhận ngới con gái đó làm vợ. Khách- khứa hoan-hô. rút Chàng rề kế đó được đưa vào phòng cô dâu. Chàng đến bên cái trâm cao nhất trên mái tóc cô rồi ngồi xuống phía tay phải.

Hai người ngồi như vậy trong vài phút cho họ-hàng cùng xem.

Một vị bô-lão đứng ra cầu nguyện cho lứa đòi được hách niên giai- lão. Rồi mọi người ra ngoài.

Chàng rề thay ý-phục rồi cũng ra ngoài tiếp bạn-bè.

Tối đến là lễ hợp cần. Hai vợ chồng ăn một bữa cơm tượng-trưng cùng mâm cùng đĩa.

Phòng cô dâu giữ nguyên sự trang hoàng cho đễn ngày thí ba, ngày họ-hàng đằng trai đến thăm hai vợ chồng mới, mang theo đủ các thú vật dụng cần-thiết cho một gia-đình.

Một bữa tiệc thịnh-soạn được bày ra. Họ-hàng chứng kiến việc chuyền giao các vật-dụng trên.

Kể từ lễ chuyền giao này, theo nguyên tắc, hai vợ chồng mới sẽ sống riêng cuộc sống của gia-đinh mình, nhung trên thực lế nhiều cặp vợ chồng vẫn ở chung với bổ mẹ chồng hoặc bổ mẹ vợ.

Sau đó, đôi vợ chồng mới đi thăm họ-hàng bè-bạn.

Tục đo-thê. - Ngưrời Chàm Châu Đốc có tục đa-thê. Trong gia-đình, ở đây, đàn ông làm chủ, có uy-quyền tuyệt-đối cũng như có nhiệm vụ nặng-nề.

Với quyền luyệt-đổi, người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ, miễn làm sao nuôi đủ thì thôi. Tuy-nbiên, trên thực-tế cũng rất ít gia-đình tay ba hoặc tay tưr. Chỉ những trườnghợp người chồng đi làm ăn xa, đề vợ ở nhà, rồi lấy thêm vợ khác ở nơi làm ăn. Có khí bọ lấy người vợ thứ người Việt-Nam. Người vợ Việt này, kết-hôn với người Chàm phải nbập theo Hồi-giáo.

Trang sách 225Ngoạl-linh. - Phong-tục người Chàm Châu Đốc cấm hẳn sự yêu-đương vụng trộm Yêu nhau phải có cưới xin.

Nếu có trường hợp yêu trộm dấu thằm, dân làng bắt được, người đàn-ông bn buộc phải cưới cô kái kia.

Kẻ ngoại linh bị trừng phạt nặng nề. Gái ngoại-tinh, chồng có quyền bỏ. Người ngoại-tinh dù đàn ông hay đàn bà đều bị khai-trừ khỏi thôn.

ấp. Người đàn-ông còn phải chịu một bình phạt : cưỡi một con bò cái, mắt nhìn về phía sau, bị dẫn đi lừ dầu tới cuổi làng, có một vị chúc sắc rêu-rao.

Lydi. - Người đàn ông có quyền bỏ vợ và người đàn bà cũng có quyền bỏ chồng, quyền hạn của người đàn-ông rộng hơn.

Người chồng có quyền rãy vợ bất cứ lúc nào và bất cứ vì lý-do gì.

Sau này, nếu muốn, lại có thể gọi vợ về chung sống được.

Muốn bỏ vợ, người chồng chỉ cần quyết định bằng lời nói trước ít nhất hai người làm chứng.

Bỏ vợ có ba cấp-bực :

- Cấp thứ nhất nặng nhất.

- Cấp thứ nhì, - Cấp thứ ba.

Tuyên bố bỏ vợ, người chồng phải nói rõ cấp-bực của quyết-định, nếu không quyết định được mặc nhiên coi vào cấp thử nhất.

Sự lái hợp với vợ rất đễ dàng nếu vợ bỏ trước theo hai cấp sau.

Cấp thứ nhất, sự tái hợp khó-khăn hơn. Ở cấp này chỉ có thề tái-hợp khi người vợ cũ đã có chồng khác và cũng lại bị người chồng thứ hai này bỏ rồi. Sự khó-kăn tuy vậy họ vẫn vượt được bằng cách nhờ một người đàn ông khác cưới người vợ cũ của mình đề sau đỏ ba hôm lại tuyên bố ly-dị. Như vậy người chồng cũ lại có thể cùng vợ tái-hợp.

Người chồng bỏ vợ thì dễ-dàng nhưng người vợ chỉ được bỏ chồng trong ba trường hợp sau :

- Người chồng bất-lực,

Trang sách 226- Người chồng không cấp dưỡng cho đủ sống, - Người chồng làm những điều trái với tập-tục thôn-ấp, ngược với Hời giáo mà người vợ đã khuyên-can không được.

Muốn bỏ chồng, mặc dầu người chồng đã ở một trong ba trường. hợp trên, người vợ phải trình với chức-sắc làng và phải nhờ vị này chứng-nhận cho.

NGƯỜI BAHNAR Người Bahnar sống ở miền Đông-Nam Kontum, Tây-Bắc Pleiku và phía Tây Bình Định, gồm tất cả 7 bộ lạc chính và nhiều chi-phái nhỏ. 7 bộ-lạc chính là : 1o Bahnar Krem 20 Bahnar Kondodelh 30 Bahnar Alakong 40 Bahnar Tolotenir 5o Bahnar Ala-Tanang Go Bahnar Bonam 70 Bahnar Chàm.

Năm bộ-lạc đầu ở vùng An-Túc lỉnh Binh-Định. Bộ-lạc Krem cũng ở cả vùng An-Khê với 4 chi-phái khác.

Bộ-lục Bonam ở giữa ranh-giới hai tỉnh Kontum và Pleiku.

Bộ-lạc Chàm cư-ngụ tại tỉnh Bình-Định.

Người Bahnar tuy phân chia làm nhiều bộ-lạc và chi-phái, song phong tục họ đều tương-lự như nhau.

Hôn-lể. - Cũng như người Sédang và người Chàm, người Bahnar không nhất định trai phải cưới vợ hoặc gái phải cưới chồng. Bên nào cuới cũng được.

Trai chưa vợ búi tóc như đàn-bà, trên đầu có mấy chiếc lông công, lông gà hay lông chim, trong những ngày lễ, dề phân-biệt với những

Trang sách 227người đã lập gia-đình. Các chàng trai nào đã có vị-hôn thê hoặc vừra cưới vợ xong, quấn trên đầu một chiếc khăn đỏ.

Khi muốn cưới vợ cho con trai, gia-đình nhà trai nhờ mai-mối tới nhà gái bỏi thắng người con gái, nhược bằng muốn cưới chồng cho con gái, gia đinh nhà gái cũng nhờ mai-mối tới hỏi thẳng người con trai.

Được sự ưng-thuận của cô dâu hoặc chú rề tương-lai rồi, việc cưới xin bắt đầu. Bên nàn hỏi phải chịu đài-thọ phí-tổn, nhưng sẽ có quyền bắt dâu boặc rễ về nhà minh.

Người nào xấu hay già hơn sẽ phải bồi thường cho gia-đinh người kia bằng tiền của.

Vợ hay chồng chết phải đề tang lẫn nhau.

Thời-hạn đề lang lừ một đến ba năm, tùy giàu nghèo, giàu đề tang lâu, nghèo mãn-tang chóng.

Ngoại-lình và loạn dâm. - Sựị ngoại-tình và thông dâm của người Bahnar rất hiếm.

Đàn-bà có chồng còn ngoại-tình phải đền bằng của, lần đầu tiên đền cho chồng và làng nước một con lợn, nếu tái phạm phải đền nhiều hơn, có khi một con trâu. Trâu lợn này được mổ thịt đãi dân làng.

Trong trường hợp ngoại tình nhiều làn, người chồng có quyền ly. dị và gia đinh nhà vợ phải lo vợ khác cho con rề.

NGƯỜI DJARAI Người Djarai gồm ba bộ-lạc :

- Djarai Arup - Djarai Khuăn - Haroi Họ cư-ngụ ở phía Nam Kontum, gần khắp tỉnh Pleiku, miền Bắc Darlac, Tây-Bắc Phú-Yên và Bắc Khánh-Hòa.

Người Haroi lai Djarai và Rhadé.

Phong tục của người Djarai rất phiền phức.

Trang sách 228Hôn lễ. - Người Djarai theo chế-độ mẫu-hệ. Trai gái đến tuổi trởng thành đều đeo đồi hoa tai thô-so nặng-trĩu.

Ở đây câu nam nữ thụ thụ bất thân được tuyệt-đối áp-dụng cho trai Kái thanh-tân.

Tối tối những chàng trai phải cùng nhau ngủ tại nhà làng, còn các cô ái ngủ ở nhà, nhưng ngủ ở dưới bầm có nắp đậy. Ngày nay, nhiều nhà không có hầm nhưng con gái vấn phải ngủ riêng biệt và tuyệt. nhiên không bao giờ được đặt chân tới nhà làng, trư trường hợp đã có chồng rồi bị ly-dị.

Khi đôi trai gái ưng ý muốn lấy nhau, gia đình nhà gái phải đứng lo việc cưới chồng cho con. Họ phải nhờ mai-ối để hỏi chồng cho con. Nhà trai bằng lòng, nhà gái phải lo việc cưới và phải gánh chịu mọi phí-tổn.

Trong liệc cười, gia-chủ phải có một con dê dành cho các trai làng ăn nhậu.

Sau ngày cưới, người chồng phải về ở nhà vợ và phải làm việc cho bố mẹ vợ trong thời-gian ba năm. Hết ba nắm, hai vợ chồng có thể rã ở riêng, dắt nhau về ở nhà chồng hoặc ở lại nhà vợ lùy ý. Nếu người vợ chết, em vợ sẽ thay thế lấy anh rề, sau khi hết tang.

Ly-dj. - Người Djarai có tục ly-dị.

Muốn ly dị, hai vợ chồng phải xin với hội đồng gia-tộc và chủ làng.

Chủ làng sẽ họp ở nhà làng đề phân xử. Chồng xin ly-dị phải trả lại cho vợ đồ hôn-lễ. Nếu ly dị do người vợ khởi-xưởng, người vợ không được đòi bồi thường gì, và người chồng cũng không được gì ngoài việc không phải trả lại phí-tổn cưới xin.

Ngooi-tình và thông-dâm. — Người Djarai trừng phạt tội ngoại-tinh và thông-dâm cũng gần giống như người Chàm Trung Việt nghĩa là bắt nộp vạ lợn bò trâu dè đễ mời dân làng ăn.

Về thể-xác, sự trừng-phạt khe-khắt hơn nhiều : giam-phu, dâm-phụ phải ăn cơm trong máng lợn luôn ba tháng, bị sỉ vả và bị roi quất vào người.

Thực ra, sự ngoại-tình và thông-dâm ít xảy ra ở người Djarai.

Trang sách 229NGƯỜI ROGLAI Người Roglai ở các tỉnh Khánh-Hòa, Ninh-Thuận, Binh-Thuận và Lâm Đồng, từ miền Tày-Nam Diên Khánh (Khánh-Hòa), tới phía Bắc Binh-Thuận và rải rác về phía Nam tỉnh Lâm Đồng.

Người Roglai được cấu-lạo bởi sự pha giống của người Chàm và người Rhadé, có pha lẫn cả giống người Koho. Họ chia làm nhiều chi- phái : Agglai, Tring, Sté, v.v...

Phong-lục của người Roglai chịu ảnh-hưởng phong-tục của ba sắc dân cấu tạo nên họ : Chàm, Kolo và Rhadé.

Hòn-lẻ, - Người Roglai theo chế-độ mẫu-hệ, luy-nhiên nhà gái không cưới chồng mà việc hôn nhân phải do các chàng trai khởi-xướng.

Đế ý tới một cô gái nào, chàng trai có thể đem đồ đạc đến trú-ngu tại ngay nhà cô ta và tự coi như người nhà đề tham dự vào mọi công- việc của gia-đinh này. Cha mç người con gái không phản đối việc chàng trai đến. Ở nhà cô gái, chàng trai sẽ có dịp tiếp-xúc và đàm thoại với cô gái.

Sau một thời-gian chung đụng, chàng trai có thể ngỏ tình với người yêu bằng cách trao một tặng-vật : hoa tai, nhẫn, vòng v.v... Cô gái nhận tặng vật nếu ưng-lhuận chàng la. Nếu cô từ-chối, chàng trai có thê kiên nhẫn ở lại đợi chờ cô động-tâm hoặc cuốn gỏi về nhà mình.

Cô gái đã nhận tặng vật của chàng trai, trinh cho bổ mẹ hay. Cha mẹ cô cho đem rượu đến biếu nhà trai và bàn đến việc hôn nhân.

Khi cả hai gia-đinh đã ưng-thuận, lễ cưới sẽ cử hành, phí-tổn do nhà trai chịu.

Tiệc cưới tố-chíc đơn giản ; nhà giàu có thể mổ trâu bò làm to linh-đinh được.

Sau tiệc cưới, người đàn ông phải về nhà vợ ăn ở chung, làn chung như chế độ mẫu-bệ đã quy-định.

Người Roglai có tục tảo-hôn, nhất là ở vùng Phan-Lý - Chàm. Có những thanh-niên 20 tuổi cưới vợ mới một hai tuổi. Có người cưới

Trang sách 230cả vợ còn ở trong bụng mẹ và khi đi làm thường địu vợ trên lưng.

Họ tin rằng nuôi vợ như vậy là có phúc.

NGƯỜI RHADÉ Người Rhadé sinh-sống tại hầu bốt tỉnh Darlac, ở lan sang phía Nam tỉnh Quảng-Đức, Đông-Nam tỉnh Phước Long ; lại cũng có một số ít ở rải-rác phía Nam tỉnh Phú-Yên và phía Tây-Bắc lỉnh Khánh-Hòa.

Người Rhadé tuy cùng một phong tục nhưng chia ra nhiều bộ-lạc :

- Edekpa, - Krung, - Adham, - Blô - Span, - Bih, - M'dhur - Nong.

Trong các bộ-lạc trên, cỏ bộ-lạc Nong-lai Kolo nên tập tục có ngả theo tập lục của người Kobo, còn những bộ lạc khác vẫn giữ nguyên màu sắc của dòng giống Rbadé.

Phong lục lập quán của người Rhadé, cũng như phần nhiều các sắc dân khác vùng Cao Nguyên Trung Việt, còn mang nặng lính-chất mê-lín, tuy người Rhadé là sắc dân tiến bộ trong các đồng bào Thượng.

Chính sự mô tín này đã khiến đời sống của họ chậm cải hóa và còn nhuốm nhiều màu vị của thời bản-khai.

Hôn-lễ. - Theo chế độ mẫu-hệ, đàn-bà Rhadé phải cưới chồng.

Người con gái đến tuổi trưởng thành, ưng chàng lrai nào, thia cùng bố mẹ để nhờ mai-mối tới nói với nhà trai.

Nhà trai bằng-lòng và chàng trai đồng-ý, hai họ sẽ làm lễ trao vòng, môi bên trao cho bên kia một chiếc vòng-đồng đề đeo cho chủ rề và . cô dâu.

Trang sách 231Trao vòng tựa như lễ ăn-hỏi. Nhà trai bữa đó có làm tiệc mời ông bà mai-mối.

Lê cưới. - Ngày cưới do hai bên cùng thỏa thuận theo sự lựa-chọn của nhà trai. Trước ngày cưới, cô dâu phải về làm dâu bên nhà chồng một thời gian từ ba tháng tới ba năm. Việc làm dâu chấm-dứt theo ngày cưới.

Lễ cưới được tổ-chức trong hai ngày.

Ngày đầu, nhà gái tới nhà trai rước rê dưới sự hưởng dẫn của môi- nhân. Nhà trai làm liệc khoản-đãi.

Hôm sau, nhà trai kéo sang nhà gái. Lại cổ-bàn, có ngả trâu, giết hò, mỗ gà lợn đê mời làng nước bè-bạn dự và chứng-kiến cho lễ thành. hôn của đôi trẻ.

Hôm nay, nhà gái trao lễ hồi-môn cho nhà trai.

Họ-hàng khuyên nhủ đôi vợ chồng ăn ở với nhau cho hòa-thuận trung-thành.

Cưới xong chú rể ở lại nhà vợ, làm việc cho gia-đình nhà vợ và xa dần nhà mình.

Có nhiều trường-hợp lự-do kếthôn : trai gải lấy nhau trước rồi nới báo cho cha mẹ biết đề điều-chỉnh sau.

Người Rhadé không có tục tảo-hôn. Con gái ít nhất 16 tuổi, trai 20 mới lập gia-đình.

Trong trường-hợp nhà trai chỉ có một con, nhà trai có thể xin cùng nhà gái cho cô dâu ở gửi dâu. Con dâu sẽ được coi như con đẻ và thừa- hưởng gia lài nhà chồng.

Ly-dj.- Người Rhadé cũng có tục ly-dị, Một trong hai người phối ngẫu có thể xin ly-dị trong những trường- hợp sau :

- Bất-lực, - Phản-bội.

- Can án hay phạm lỗi nạng với tập quán cỏ ảnh bưởng đến đời sống lứa-dôi.

Trang sách 232Trong việc ly-dị, người chồng thường phải chịu sự thiệt-thòi.

Người chồng xin ly-dị với người vợ có ngoại-tinh, tuy lỗi về người vợ, người chồng vẫn phải bồi-thường cho những đứa con. Nếu muốn lấy vợ khác, ngoài việc bồi thường cho các con còn phải trả của hồi- môn và phí-tổn ngày cưới cho nhà gải. Người chồng cũng lại mất bết quyền lợi về của cải đôi vợ chồng đã kiếm được trong thời-kỳ chung sống với nhau.

Vợ chết hoặc chồng chết. - Người vợ chết, người chồng, sau tang-lễ, phải trở về nhà minh và phải trả lại những đứa con côi cho họ-hàng nhà vợ. Người chồng chỉ được quyền ở lại nhà vợ nếu được gia đình người vợ kiếm vợ khác cho, hoặc đã già nua không tiện về với gia- đình mình.

Sau một thời-gian tang-chế, người chồng có thể lấy vợ khái được, Trường hợp người chồng chết, người vợ góa được quyền giữ lại những đứa con mà cũng được quyền lấy chồng khác, không bị bó-buộc Ki với nhà chồng cổ.

NGƯỜI KOHO Người Kobo là một sắc dàn rất đông ở rải-rác khắp các tỉnh Quảng- Dức, Lâm-Đồng, Tuyên Đức, Binh-Tuy và Long-Khánh.

Về nguồn gốc người Koho, nhiều nhà nhân chủng học trong số đó rú các ông Gilbert Bocher và Jacques Boumes cho rằng người Koho là một sắc dân pha giống người Chàm, người Anh-Đô-Si-A, người Mã-Lai và cả người Mên nữa.

Người Koho chia làm nhiều bộ lạc xếp thành hai hạng: 10 Những bộ lạc chịu nhiều ảnh hưởng của người Chàm : .. CHURU ử Quảng Dức, quận bôn-Dương .. NOANG và SRÉ ở Tuyên-Đức

Trang sách 23320 Những bộ-lạc khác không mấy chịu ảnh-bưởng của người Chàm :

- MAA - CÍL hay CHỈNH - TOA - QUEYON - LAT - NOP - KODIONG - NAM Nhiều phong tục của người Koho hơi giống phong tục của người Roglai.

Bộ-lạc quan-trọng nhất của người Koho là bộ lạc NAM ở lừ vùng Xuân-Lộc, tỉnh Long-Khánh tới quận Đức-Trọng tỉnh Tuyên Đức.

Kế đó là bộ-lạc Maa, một bộ-lạc khỏe-mạnh hiếu-chiến và về phương diện phong lục có thế là bộ-lạc điển hình của người Kollo.

Hôn lễ. - Người Koho theo chế độ mẫu bệ ; việc cưới xin có nhiều tục-lệ tốn-kém, phiền phúc và kỳ-lạ.

Khi một thiếu nữ ưng-ý một cậu trai nào, nàng thưa cùng cha mẹ nhờ mai-mối đánh liếng với nhà lrai. Kế đó, cô nàng lim cớ qua lại cửa nhà chàng trai đề chùng la có dịp biết cô.

Người con trai ở đây cũng e-lệ thẹn thùng như các cô gái Việt-Nam khi có chàng trai muốn bỏ miếng tràu !

Mỗi gia-đình Kobo có con trai lớn cũng mong có người dạm-hỏi, giống như các gia-đinh Việt-Nam muốn gả chồng cho các cò gải lớn.

Bố mẹ muốn gả chàng trai, lòng chàng tuy ưng thuận nhưng chàng còn giả-bộ từ chối để nhà gái phải thưa đi nói lại mới xung.

Người con trai tuy bằng-lòng nhưng việc quyết-định vẫn chưa xong, phải cần có ý-kiến của người con trưởng. Người con trưởng có

Trang sách 234đi xa cũng phải tìm cách lấy cho được sự đồng-ỷ, bằng không dù hai vợ chồng người em đã thành bôn rồi, mấy năm sau người anh cả trở về vẫn có quyền bắt vạ và đánh đòn cả đôi.

Được sự đồng-ý của người con trưởng, nhà trai mời báo tin cho nhà gải.

Lê cưới. - Nhà gái được tin làm lễ trao tín vật như lễ ăn-hỏi của ta.

Ngày đem lín uật sang nhà trai, nhà gái mang cả đồ lễ tới làm cổ ăn uống trước mặt họ-hàng. Cha mẹ cô gái lấy hột cườm chia cho lất cả trẻ con người lớn trong nhà đề làm chứng cho buỗi lễ. Cô dâu, chú rề tỗi người đco một chuổi vòng vào cổ và đeo vào tay nột chiếc nhẫn bạc.

Ít lâu sau, có khi vài bôm, có khi vài tháng, nhà gái sang rước rề.

Chàng rê được họ bàng nhà trai tặng mang về nhà vợ, đồ đạc, trâu bò, lúa giống, v.v... để làm của hồi-môn. Lại có cỗ bàn ăn uống.

Ăn uống ở bên nhà trai xong, về bòn nhà gái lại cỗ bàn nữa. Lại ngả trâu bò, giết gà lợn.

Nửa đêm hôm đó, họ làm l nhập phùng cho chàng trai. Cả họ đưa chủ rề vào phòng rồi cùng trở ra, đề chú rề ở lại cùng với cô dâu tận hưởng đêm tân-hôn.

Nếu đôi trai gái lấy nhau không được sự đồng-ý của cha mẹ, nhà gải phải nộp vạ cho nhà trai một con lợn để mở thịt mời làng.

Làm việc trả ơn. - Sau đêm lân-hôn độ mươi ngày, hai vợ chồng cùng dắt nhau về nhà chồng ở vài tháng. Người vợ làm việc cho nhà chồng gọi là đề trả ơn.

Mấy tháng làm việc trả ơn xong, đôi vợ chồng lại trở về nhà vợ rüi chờ độ một năm sau, bọ lại trở lại nhà chồng, mang theo quà biếu bố mẹ chồng, - quà biếu chính là hoa-lợi của những tặng-vật, ngày cưới. Biếu quả cũng có ý tö lòng biết ơn.

Lydị. - Người Koho có tục ly-đị, vợ hay chồng khửi-xướng đều được. Người khởi xưởng xin ly-dị, nếu có lý-do chính đảng được phép ly-dị, nhưng phải bồi thường cho người kia từ một đến bảy con trâu.

Trang sách 235Không có lý-do chính-đáng cũng xin ly-dị được, nhưng người khởi- xướng phải bồi-thường cho người kia 15 con trâu.

Ngoai-lình và thông-dâm. - Ngoại-tinh và thông dâm bị người Kobo trừng-phạt rất nặng.

Cách đây độ khoảng 20 năm, kể quyến rũ chồng hay vợ người thờng bị giết chết quäng xác xuống suối tuy dân làng đã có lệ nộp vạ.

Vợ hay chồng ngoại tình bị bắt quả tang, gian-phu lẫn dâm-phụ phải chung nhau lo-liệu nộp vạ cho chồng hoặc vợ 14 con trâu và cho làng một con, con này làng mỗ ra ăn uống với nhau. Nếu nạn nhân lức là người bị vợ hoặc chồng lừa, đòi ly dị thì kẻ phối-ngẫu phạm pháp, nếu là đàn ông chỉ phải trả vạ một nửa, còn nếu là đàn bà vẫn phải nộp đủ 15 con trâu nhi lệ định.

Loạn-dâm, cả hai phạm-nhân đều bị bỏ rọ trôi sông một quầng mới được vớt lên, bị mọi người đánh dập, sau dó mới được đưa tới vị tộc-trưởng xét xử.

NGƯỜI M'NONG Sống ở biên giới Mên. Việt, người M'Nong là một sắc dân sống cả trên đất Mên lẫn đất Việt. Tại Việt-Nam, hộ lạc M'Nong ở trên địa-Lạt các tỉnh Đà-Lạt, Quảng-Đức, Lân Đồng và Plươc-Long. Tại Cao-mên, họ sống trên tỉnh Haut Chlong và mang tên là P'Nong.

Bộ-lạc M'Nong ở Việt-Nam chia làm nhiều chi-phái :

- Chi-phái M'NONG R'LAM ở chân những giãy núi vùng Lac tỉnh Đarlac và phía Tây-nam tỉnh Quảng-Đức.

-- Chi-phái M'NONG CÁT ở trên đỉnh các núi cao, mé trên chi-phải M'Nong R'lam.

- Chi-phái BU-ĐÔNG, gạn dạ, hiếu-chiến ở vùng Ba-biên giới, dọc từ Djong-Dram tới Dakmil. ~ Chi-phái DI-BRI cũng ở vùng trên.

- Chi-phái M'NONG-BÒNG ở trên đồi vùng Ba-biên-giới.

- Chi-phái BUNOR cũng ở vùng trên.

Trang sách 236Phong-lục của người M'Nong cỏ nhiều điềm lương tự với người Rhadé và nguời Kolo.

Hôn lê. - Hôn-lễ người M'Nong giống hôn-lễ nguời Rladé với điểm đặc biệt là khi người vợ hay người chồng chết lhi người em vợ hay em chồng có quyền cai quản gia-đình đó.

NGƯỜI STIÊNG Người Stiêng là một sắc dân thuần-nhất hơn tất cả các sắc dân người Thượng miền Nam. Họ không chia làm nhiều bộ-lạc nhỏ. Họ sống theo ranh-giới Mên Việt từ Tây-nam Quảng-Đức tới Bình-Long, Tây Ninh và ở rải-rác tại cả các tỉnh Biên Hòa và Binh-Dương. Họ gần người Việt hơn các sắc dân kia. Ở Biên-Hòa và Bình-Dương họ chinh là người Thổ và người Tà-Nain.

Người Stiêng cùng dòng-dãi với những thở-dân sơn-cước Cao-mên và phong tục của họ cũng giống nhau.

Hôn-lẻ. - Người Stiêng theo chế độ phụ hộ, người đàn-ông cai quản gia-đinh và các chàng trai có quyền kén vợ.

Việc cưới xin bắt đầu bằng mai-mối. Khi đôi gia-đinh cùng đồng- ý, mỗi bên đều cử nhân chứng dự lễ cưới.

Lễ buộc chỉ cổ lay, - Hai người nhân chứng được đôi bên chọn phải là những người hiều về tục-lệ hôn-nhân, lại biết niệm kinh đề mời các vị thần đến chứng-kiến trong lúc làm lễ Buộc chỉ cỏ lay cho đủi bên trai gái. Sợi giây buộc ở cổ lay đòi bên có giá-trị thiêng liêng buộc đôi bên vào với nhau. Các vị thần chứng giám lễ này sẽ phù-hộ cho đôi bên được hạnh-phúc.

Lễ buộc chỉ cổ tay cử-hành trước hai họ, hai vị nhân chứng vừa niệm kinh vừa buộc chỉ cho đôi trẻ.

Lễ cưới. - Sau đó là lễ cưới. Nhà trai mới thân-bằng hai họ tới dự-lễ ăn uống. Nhà gái cũng đáp lễ làm cỗ mời lại.

Việc cưới xin sau hai bữa đại-tiệc của hai bên có thể coi là xong, và cô dâu về nhà chồng.

Trang sách 237Cưới vợ, chàng trai phải nộp sính-lễ rất nặng. Theo cổ tục sinh-lễ gồm :

- 1 người nô-lệ, - 1 vò Srung - 1 thanh đao cồ, giá-trị bằng một con trâu - 1 lưỡi lao cổ, xiá-trị bằng một con trâu - 1 vò Djiri, giá lrị bằng một con trâu - 1 chiếc vảy mền. trâu - 1 cái chiêng, giá-trị bằng một con - 10 chiếc tô lớn - 20 chiếc tô nhỏ - 1 tô bằng đồng - 1 chuỗi vòng cườm lớn.

- chiếc vòng bằng thau - 1 cuộn chỉ.

Nếu nghèo quá, chàng trai không nộp được sinh-lễ, chàng phải đến ở gửi rê nhà vợ.

Người Stiêng có thể cưới một người nô-lệ làm vợ được và cũng phải nộp sinh-lễ như trên. Ngoài ra còn phải nộp ba con lợn, một con để cúng thần rừng, một con cúng thần làng, một con dành cho những người chứng và một bò đề mổ thịt mời làng nước.

Sính-lễ rất nặng, nhưng chàng rẽ có thể xin nộp dài hạn trong một này, sính-lễ vẫn chưa nộp thời-gian do nhà gái định. Qua lhời-gian xong, hai vợ chồng phải về ở nhà bố mẹ vợ.

Người Stiêng có tục đa thê, nhưng muốn cưới vợ lễ phải có sự đồng-ý của vợ cả. Nếu vợ cả không đồng-ý, có thể xin ly-dị và trả lại đồ sinh-lễ và phí-tổn trong ngày cưới.

Ly-di. - Người Stiêng có tục ly-dị.

Đôi vợ chồng bất-hòa có thể xin ly-dị. Khi ly-dị họ mời hai nhân- chứng cũ và họ hàng đôi bên tới chứng kiến rồi tuyên-bố bỏ nhau.

Trang sách 238Người chồng xin ly-dị được vợ bằng lòng phải đền cho vợ một con lợn và một vò ruợu. Khi người vợ đi lấy chồng khác, người nhà gái phải trả cho nhà trai một nửa đồ sinh-lễ đã nộp trước.

Đã có con rồi, người chồng còn xin ly-dị, các con sẽ theo mẹ và người chồng cũ phải bồi thường cho người chồng mới một món tiền ngang với giá mua một người nô-lệ, tiền này gọi là liền trả trinh-tiết.

Người chồng bỏ vợ đi lấy vợ khác phải bồi-thường cho vợ và người vợ không phải trả lại của.

Nếu người vợ xin ly-dị, gia đinh phải trả lại đồ sính-lễ và các con sễ theo cha.

Ngoạl-tình và thông dâm. - Tội ngoại-lình và thông-dâm bị trừng-phạt.

Người chồng ngoại-tình bị vợ bắt được quả tang, người vợ có quyền bắt vạ một con gà, nhưng không được xin ly-dị.

Người vợ ngoại tình bị chồng bát được, gian-phu phải nộp vạ tiền vàn khoảng 2.000$, một con lợn và một vỏ rượu, nếu sự gian-dâm xảy ra ở trong rừng. Nếu việc gian dâm xảy ra ở trong nhà người chồng, xian-phu sẽ bị phạt 4 con trâu và nộp làng một con lợn đề mỗ thịt.

Kề từ ngày ngoại-tình, người vợ bị người chồng coi như nô-lệ, nếu lái-phạm sẽ bị ly-dị và phải trả của.

Kẻ phạm-gian bị phạt nếu không có tiền để nộp sẽ phải làm nô-lệ cho gia-đinh người hưởng phạt suốt đời.

Người góa-phụ - Chồng chết, người vợ có thế lấy chồng khác được.

Nếu người chồng chưa nộp đủ sính-lễ, góa-phụ được tự do tái-giá. Sính- lễ, nếu đã nộp đủ, người vợ bắt buộc phải lấy em chồng, có khi làm lẽ. Không chịu, góa-phụ phải trả của lại.

MẤY TỤC LẠ VỀ HÔN NHÂN CỦA MỘT SỐ ĐỒNG-BÀO THƯỢNG MIỀN BẮC Lẽ ra bài này chấm dứt ở đây, nhưng nhân nói tới hôn-lễ đồng- bào Thượng miền Nam, xin nhắc qua đòi ba tục-lệ đặc biệt của một vài sắc dân thiêu-số miền Bắc trong việc cưới xin.

Trang sách 239Đây chỉ là một vài tục-lạ chử không nói tới tất cả hôn-lễ của đồng bào Thượng miễn Bắc.

PHIÊN CHỢ CƯỚI Cười xin phải có mai-mối dạm hỏi, con người ta phải đâu một món hàng mang ra chợ bán mà lại có có phiên chọ cưới.

Ấy thể mà có phiên chợ cưới, phiên chợ cuời không phải ở xớ xa-lạ nào, chính ở ngay trên đất nước Việt-Nam chúng ta.

Phiên chợ cưới hàng năm họp vào ngày 25 tháng chạp âm lịch tại xã Tam-Lộng, huyện Bình-Xuyên, tỉnh Vĩnh Yên, cách Tây-hắc Hà-Nội hơn năm chục cây số.

Đây là phiên chợ đặc-biệt của đồng-bào người Mản suốt mấy tỉnh Vĩnh-Yên, Phủ-Thọ, Tuyên Quang và Thái-Nguyên. Chợ họp trên một khu đất rộng, thường ngày vẫn là nơi họp chợ của xã Tam-Lộng, ngay lối vào trong làng, giữa cánh đồng, bên một con sông đào nhỏ.

Ngày phiên chợ - Ngày phiên chợ các nam-nữ thanh-niên Mán mấy lỉnh trên kéo tới rất đông-đản ; có cả ông già bà cả đi theo trước là đề chứng-kiến lời giao-ước của lứa đôi niên-thiếu, sau là đề hồi tưởng lại cái thủa đương thi của mình cũng đã trơi như hoa, đẹp như tranh vẽ và cũng đã kết mối lương duyên sau một phiên chợ cưới.

Trai gái dắt nhau tới đày, thường lử những cặp trai gái có khi đã biết nhau, đã thương yêu nhau lừ trước, bôm nay đi chợ đề cha mẹ chứng-kiến cho sự yêu-đương và tác-thành cho họ. Cũng có những chàng trai tới đây đễ tim ý-trung-nhân, cũng có những cô nàng tới đây đề kén người đôi lía.

Họ từ Quan-Chu (Thái-Nguyên) lại, họ tự Sơn Dương (Tuyên-Quang) tới, họ ở Đoan-Hùng (Phú-Thọ) về, có khi họ ở ngay Tam Lộng hoặc những làng kế cận như Hạ-nậu, Dị-nậu, Sơn-đinh, Lục-liễu, tỉnh Vĩnh.

Yên ra.

Họ sắm-sửa về đây từ mấy hôm trước và luôn trong mấy ngày họ tấp-nập bận-rộn lo hành lý đê đi họp chợ.

Trang sách 240Người già, người trẻ đến chợ đều quần áo lịch sự, chỉnh tề. Họ mặc bộ quần áo đẹp nhất, đội chiếc khăn mới nhất, đi đôi hài-sảo gọn gàng nhất. Các cô sơu-nữ, người Mán hầu-bết ở vùng rừng núi, khoác chiếc yếm sặc-sỡ nhất, và ró bao nhiêu đồ trang-sức lộng lẫy nhất hôm nay, các cô phải đen cho bết : vòng cổ, hoa tai, vòng tay và cả vòng chân nữa. Các chàng trai cũng mặc loàn quần áo đẹp, mặt họ tươi cười hớn hở lòng họ hân-hoan.

Những cuộc gâp gỡ. - Họ gập gỡ nhau ở chợ. Họ đứng tún-lụm trên nền chợ, xen lẫn vào các người bán hàng, họ đứng túm-tụn bên bò ruộng, ven bò sông, dưới một vài xốc cây bên chợ: Đây một cặp trai gái đang nỉ-non tinh-tự, kia một chàng trai khẩn khoản biếu một sơn-nữ một món quà kỷ-niệm.

Mặc cho gió bấc cuối năm căm căm rét, mặc cho mưa phùn giá- lạnh lấm lấm rơi, họ vẫn đứng ngay giữa trời. Hôm nay họ cùng nhau ôn lại những buổi gập gỡ từ trước, hôm nay có ông già bà củ chứng.. kiến lời giao-ước đinh-ninh của họ. Lòng họ rộn ràng lửa yêu đương, họ sợ chi rét buối ngoài lười. Bầu trời đông đối với họ không 3m- đạm, cây cỏ đang đâm trồi nấy lộc như chào mừng họ.

Gập nhau đây, họ nhắc lại những lời êm-dịn đã nói với nhau từ trước, hoặc những cập mới quen biết, bọ ngỏ nỗi riềm cùng nhau. Họ sửa-soạn đón một mùa xuân tưng bừng ở hên ngoài và êm-địu ở trong lòng Chợ làn. - Phiên chợ họp từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiền thì tàn, làn theo những người bán hàng về chợ.

Sau những lời giao ước, những cặp trai gái dắt nhau vào các quán chợ ăn uống, trước khi cùng nhau từ - giã. trai gải dắt nhau tới phiên chợ đề định-đoạt Một nam một lần, cuộc hôn nhân của đời mình.

Ở chợ ra về, gái cũng như trai, lùng sung-sướng, mặt hởn hở vừa đi vừa vui-vẻ truyện chò.

Trang sách 241Cặp trai gái này, thành vợ thành chồng, cufi xin then tục-lệ ở trong bản, trong thôn, sang năm sẽ có những , cặp trai gái khác dắt nhau đi chợ cưới Tam-Lộng.

Chợ cưới xong, mùa xuân cũng sắp đến, một mùa xuân thật êm-ấm cho những lứa đôi hẹn hò.

Phiên chợ tàn, cuộc hôn nhân của họ mới chỉ bắt đầu.

Phiên chợ cưới hàng nám vẫn có cho tới thời tiền chiến, nhưng từ đó tới nay, ai còn biết chợ có họp nữa hay không ?

PHIÊN CHỢ LƯỢN Nếu ở Tam-Lộng có phiên chợ cưới của đồng-bào Mán, thì tại các tỉnh Cao-Bằng, Lạng-Sơn, Bắc Kạn có những phiên chợ lượn đề các nam nữ thanh-niên đồng bào người Thổ cùng gập-gỡ hát lượn với nhau Hát. lượn là lối hát trao-tinh yêu-đương của các đồng bào người Thổ, bắt đầu cho những cuộc bôn-nhân về sau.

Khác phiên chợ cưới họp trong năm, các phiên chợ Lượn họp ngoài Giệng. Hầu hết các chợ tại mấy tỉnh trên đều có những phiên chợ Lượn.

Dưới đây liệt-kê mấy phiên chợ mà nhiều người Kinh biết tới và thường rủ nhau đi chơi chợ cùng đồng-bào Thổ :

- Chợ Kỳ-Lừa bên kia sông Kỳ-Cùng, giáp tỉnh Lạng-Sơn họp vào ngày mồng 9 tháng Giêng.

- Chợ Đồng-Đăng họp vào ngày mồng 4 tháng Giêng.

- Chợ Đồng-Mỏ thuộc châu Ôn, Lạng-Sơn, họp vào ngày mồng 4 tháng Giêng.

- Chợ Nước-Hai, thuộc phủ Hoa-An, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày mồng 8 tháng Giêng.

- Chợ Phục-Hòa, thuộc phủ Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày 15 tháng Giêng.

- Chợ Cánh-Linh, thuộc phủ Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày 16 tháng Giêng.

Trang sách 242- Chợ Quảng-Nguyên, thuộc châu Quảng-Nguyên, tỉnh Cao-Bằng họp vào ngày mồng 2 tháng 2.

Và còn nhiều chợ khác nữa.

Ngày phiên chợ Lượn, trai gái các Lán, các Bản kéo nhau tới gặp kỡ nhau để cùng bát những câu ân-ái. Nhiều đôi lửa nên duyên do những buổi hát Lượn này.

Những phiên chợ Lượn lại chính là những ngày uội Xuân của các địa phương. Tuy gọi là phiên chợ, nhưng đã ai buôn bán gi, họ còn đang nghĩ lới thưởng Xuân.

Chỉ ca lại hát, nam xướng nữ đối, suốt lừ sáng lới chiều và trên đường về các Bản, họ vẫn tiếp-tục cùng nhau ca-bát những lời ái-ân cho tới khi ai về nhà nấy.

Ngoài hát Lượn là cái thú riêng của thanl-niên nam-uữ, còn có Ném Còn, đốt nhiều trò vui khác trong ngày phiên chợ như pháo, V.V...

TỤC CƯỚP VỢ Đồng-bào người Mèo, thuộc châu Hoàng-Xu-Phi, tỉnh Hà-Giang có lục cướp vợ.

Người con trai thấy người con gái mình ưng-ý về nhà thưa với bố mẹ. Bố mẹ liền triệu-tập họ-hàng, tuyền lựa những trai-tráng khỏe- mạnh, đến nhà cô gái ăn cướp lấy cô mang về. Lẽ tất nhiên trước khi tới cớp, nhà lrai cũng đã báo cho nhà gái biết, nên việc ăn cướp thường chỉ xảy ra một cách tượng-trưng, trừ trường hợp nhà gái không thuận gả con cho nhà trai. Trong trường-hợp này nhà gái phải chống giữ, bằng đề nhà trai cướp được, cô gái bỏ buộc phải làm vọ chàng trai.

Các chàng trai chỉ được cướp những gái chưa chồng. Rủi cướp phải gái có chồng rồi, chàng trai phải trả lại cho chồng người ta, nếu không khi tới quan, quan cũng bắt hoàn lại.

Trang sách 243Cướp vợ như vậy cũng có khi gặp sự chống cự mãnh liệt, và đã nhiều đám, trước sự cương-quyết chống giữ của nhà gái, nhà trai đành chịu thối-lui.

Cướp được vợ rồi, chùng trai có toàn quyền đõi với vợ.

Tết đến, chàng trai phải đắt vợ về trình-diện với nhạc gia. Ván đã đóng thuyền, nhạc-gia lúc đó phải mừng vì có thêm rề mới.

KẾT-LUẬN Phong-tục thay đổi lừng địa-phương, có điều hay cũng có điều dở.

Về hôn-lễ đồng bào Thượng, đành rằng lại một vài sắc dân có nhiều điều phiền phức lốn-kém, nhưng nếu đem so với lục-lệ cười xin của ta theo lục-lễ của Chu-Công và theo Thọ-Mai Gia-lễ, có lẽ sự phiền phức cũng không phải là nhiều.

Lễ nghĩa cốt đề cho người ta tin mà theo. Gắn-bó với nhau phải tuân lễ nghĩa. phải theo phong-lục. Biết đâu trong sự phiền phức của tục-lệ lại chẳng có những điều hay.

T. A.

Nhật-báo Cách-Mệnh Quốc-Cla Số 1538. 1539 và 1540 ngày 3,4,6 tháng 8-1963