SAU KHI MỒ YÊN MẢ ĐẸPPhần 20 · trang 326–331
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 326SAU KHI MỒ YÊN MẢ ĐẸP con cháu Việc chôn cất coi như hoàn-tất vào ngày thứ ba sau khi di úp mộ lần cuối cùng. Việc chôn cất xong, nhưng tang lễ chưa xong, vun cháu còn đang đau-đớn. Còn nhiều nghi lễ khác đề con cháu tỏ ling hiếu với cha mẹ.
CÁC TUẦN TỪ SƠ-THẤT TỚI THẤT-THẤT Các gia-đinh Phật-tử, khi cha mẹ chết đã an-táng rồi, cứ bầy ngày lọi có mời tăng ni tới tụng kinh tại nhà, hoạc xin làm lễ tụng kinh tai chùa.
Buỗi tụng kinh sau bầy ngày đầu tiên gọi là So-thất, sau đó là Nhi- nhất cho tới tuần thử bầy gọi là Thất-thất. Tuần cuối cùng này còn gọi là Chung-thất hoặc Tứ-cửu.
Nếu lụng kinh tại chùa, thì trong các ngày tuần từ Sơ-thất đến Thấi thất, hồn bạch hoặc thần chủ được rước lên chùa.
Riêng tuần Chung-thất là tuần sau cùng, con cháu cúng tại nhà có lí lễ, bằng mang lên chùa thì có làm chay đề tụng kinh sám-bối, có khi ba ngày đêm đề vong-hồn người khuất được siêu-sinh tịnh-độ.
LAM CHAY Con cháu sợ cha mẹ bị tội-lỗi nên làm chay có tụng-kinh sảm-hối, nhất là trong trường-hợp người chết bị chết bất thình lình hoặc bất- dác-kỳ-tủ.
Việc làm chay trong tuần Tứ cửu cũng tương tự như đàn chay cúng vâo dịp tết Trung nguyên đề cầu siêu độ cho tổ-tiên.
Trang sách 327Đàn chay gồm : 1o Trên cùng tượng Tam-bảo, hoặc có khi ba bình hương thay thế ; 20 Thứ là tượng Tam-phủ, lượng các vị coi về Trời, Đất và Nước tức là Thiên-phủ, Địa-phủ và Thủy-phủ, hoặc ba bình bương thay-thế ; 30 Ở giữa là tượng đức Thích-Ca và hai bên tả bữu có tượng Thiên quan và Thành hoàng hoặc ha bình hương thay-thế ; 4o Hai bên có thập điện Diêm Vương ; 50 Ở giữa về phía dưới là Địa-ngục ; 60 Dưới cùng là bàn thò Chúng-sinh ; 70 Trước bàn thờ là đàn Mông-Sơn dựng cao lên đề chủ lế làm dấu hiệu siêu-sinh cho hương hồn người chết.
Lễ làm chay nghi thức rất phức tạp Dưới đây là những điềm chinh: a) Lễ Phát đề cầu sự từ-bi bỉ-xả ; b) Lẻ Tam-phủ đề xin xóa-bỏ tội-lỗi ; c) Lễ cầu-vong lức là lễ yêu-cầu vong-hồn người chết nhập vào một con đồng để cho biết ý muốn của vong và cho hiểu đời sống của vong bên kia thế giới ra sao : d) Lễ phá-ngục để mở cửa ngục tha các tội-nhân ; e) Lề giảl-oan cắt đoan, đề sửa chữa lội-lỗi cũ và dứt-bỏ giây oan-nghiệp; 1) Lề phóng-đăng phóng-sinh tức là thả đèn và thá chim lên trời hoặc cá xuống sông. Lễ này đề chuộc lội cho vong ; 8) Lè cúng cháo đề bố thí cháo và thức ăn cho chủng-sinh.
Trong các lễ trên, lẻ phá-nguc rút nguyên-ủy trong kinh nhà Phật.
Bà Mục-Lièn là một biếu-tử gương-mầu. Được Phật độ, ngày rằm tháng 7, bà được phép xuống địa ngục đề cứu mẹ đang chịu tội vi những tội ác đã mắc phải ở trần gian.
Trang sách 328Lễ phá-ngục diễn lại sự tích này. Bà Mục-Liên đi tìm mẹ, nhỏ có vày gậy phép, phá hết ruọi cửa ngục, bà cứu được mẹ.
Lễ làm chay rất lổn kém, chỉ những gia-dinh dư-dật lắm mới có !e này.
TUẦN TỐT-KHỐC Một trăm ngày là luần Tốt.Khốc, nghĩa là kề tir tuần này trở di, con cháu sẽ thôi khóc.
Từ khi an táng cho tới tràm ngày, con cháu ngày 2 bữa phải có uưm canh cúng.
Tuần Tốt-Khốc, cou cháu cúng tế lần chót, và từ nay không phải dâng cơm ngày 2 buổi nữa.
Tuần Tốt-Khốc còn gọi là thần Bách Nhật, và nôm na là tuâu Trăm- ngày.
Nếu người chết còn quàn lại một nơi nào chưa chôn, con cháu không được làm lễ tốt-khốc, và chỉ được cúng ngày hai bữa như thiêu-tịch-diện. Buổi củng trăm ngày cũng là buổi cuối cùng.
Tuần Tối-Khốc có tế lễ và cũng có nghi-tiết như các cuộc tế khác.
VẤN TẾ TỐT KHỐC Ngày tháng thoi đưa, tới luần lối-khốc ;
Cây lặng gió lay, khúc làm sao được, Cha (hoặc mẹ) lừ khuất mặt, lưởng Inh-hôn như ở linh-sàng.
Con khó có lỏng, thờ lúc chết như thờ lúc sống.
NGÀY TIỀU TƯỜNG Lễ Tốt-Khốc xong, việc thờ phụng người khuất từ đây chỉ còn củng trong những ngày tuần-tiết.
Trang sách 329Cho đến một năm sau, đúng ngày người chết qua đời, con chán củng giỗ đầu, còn gọi là lễ liều lường. Đây là giỗ đầu tiên củng người chết.
Tiều tường là điềm lành nhỏ. Người chết sau một năm kề như hương-bồn đã được yên-vị nơi cửu tuyền, những tà ma không dám tới quấy nhiễu, và ở trên trần, sự đau-đớn của con cháu cũng đã nguôi nào.
được phần Trong ngày giỗ đâu lại những gia đình phú-quý có cúng tế và tại các gia-đinh binh-thường chỉ có lễ cúng và con cháu vào lễ trước bàn thờ.
Nhân dịp tiều-tưởng, người ta có đốt mã cho người khuất. (1) Sau khi giỗ đầu rồi, tang phục có thế bỏ bớt sô gai : về phần trai, vải sô khâu trước ngực và sau lưng bỏ đi, mũ bỏ những phụ-bàn bên ngoài ; con về phần gái, quần khỏi đề dài quét đất, áo bỏ vải lurng đi. (2) NGÀY ĐẠI-LƯỜNG Ngày đại tường là ngày giỏ thứ hai của người chếl. Đối với tang-gia đây là một điễu lành vi sau ngày đại tưởng con cái sẽ bỏ tang-phục, còn dối với người khuất cũng là một điều lành, vi sau hai năm sống ở cõi âm bương-hồn người khoất đã rửi được xác thịt bẳn. Và từ đây hàng năm tời ngày giỗ sẽ về thám con cháu.
Ngày đại-tường còn gọi là giỗ hết hay là giố doạn, ý nói việc đề tang sẽ bết sau ngày giố này.
Giỗ cũng cúng theo nghi lễ và cũng có vàn-lể nếu con cháu khá giả tổ chức cuộc tế, bằng không chỉ cúng lễ cũng đủ. (1) Xem tập Tin-Ngưỡng, (2) Xem phăn Tang-chế và Tang-phục.
Trang sách 330Củng giỗ đại-tường xong, con cái đổi áo chàm khăn sô, chặt gậy, mũ ào bỏ cả, chỉ mặc y-phục trắng, tượng-trưng cho màu tang.
Ngày giỗ đại-tưởng con cháu cũng có đốt mã cho người khuất. (1) VĂN TẾ TIỂU VÀ ĐẠITƯỜNG Năm... tháng.... ngày.... Cô lử (hoặc at lử).... cùng cả họ, vì nay đến ngày tiêu (hoặc đạl) lường, kính dâng chay nhạt, mọi lễ cáo chung Hiền Khảo (hoặc Ty.... (chức- lước, họ).... quý công lụ... thụy ... phủ-quân (mẹ thì mô công chính hay trắc thất mỗ quý thị hiệu từ hoặc diệu.... nhụ-nhân) trước linh tọa khóc mà than rằng :
Than ôi ! Chối thung (huyên) tuyết phủ, núi Hỗ (Di) mây che ; làm chỉ sớm độc-địa hãi trời, hơn một ngày không ở, đành lử sinh có mệnh, kém một ngày không đi.
Nhó những lúc một nhà xum họp, cha (mẹ) trước, con sau ;
Bổng vi đâu hai ngà chia phôi, kê còn, người khuất.
Than ôi / Công-đức chưa đện, đau-đớn nhẽ chứa-chan giøt-lệ.
Am-dương xa cách, xót-xo thay bãi rốt ruột lầm / Tính đốt ngón loy, chưa khó hàng lệ, tính ngày vừa ba trăm sáu mốt ngày giỗ đầu diện-lễ. (Hoặc đạl-tường thì đỏi. Tinh đốt ngón lay, đã ba năm hai mươi nhăm tháng. là tiết đạl tường, chưa khô hàng lệ, đã hùy trăm hai mươi mốt ngày. là tuần gió đoạn).
Chay nhạl dông lên, dưới chín suối, cha (mẹ) già chứng-glám. Khóc-than kê-lê, trước linh-sàng con trẻ khấn cầu, cúi xin hàm hưởng.
LỄ TRỪ-PHỤC Theo sách cũ thì đại-tang là ba năm, nhưng tục-lệ chỉ thu lại còn 27 thálig.
Trong tháng thứ 27, con cháu chọn ngày tốt, hợp với mọi sự bài trừ, thường là ngày trục-trù để làm lễ trừ-phục tức là lễ bỏ hết quần áo tang. (1) Xem tập Tín-Ngưỡng.
Trang sách 331Cũng có Mịa-phương làm lễ trừ-phục vàn khoảng một tháng sau ngày giỗ bết.
Sau lễ trử-phục con cải trở lại ăn mặc như thường không còn phải mang tang nữa.
NHỮNG NGÀY CÁT KỴ Tang lễ chính ra sau ngày lễ trừ-phục là hết, và những năm sau tới ngày kỷ niệm ngày người chết qua đời, người ta chỉ còn cúng giỗ và những ngày này gọi là cát ky (Xin xem trong tập 2 về Tin- ngưỡng).
Trong ngày giỗ con cháu làm lễ củng. Tại các gia đình có chức tước hoặc giàu có, con chàu có thể tổ-chức cả những cuộc tế lễ cho long-trong.