NHÀ CỬAPhần 13 · trang 244–259
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 244NHÀ CỬA trong lúc đầu không ở riêng Lập gia đinh xong, đôi vợ chồng trẻ, ngay, còn ở chung với bố mẹ chồng.
Trong cuộc chung sống này, từ ăn uống đến may mặc, mọi sự tiêu- pha lớn nhỏ của đôi vợ chồng đều do cha mẹ chồng cung-cấp.
Thường thì cặp vợ chồng trẻ này phải nương-nhỏ vào bố mẹ cuồng vì chưa có công ăn việc làn), hoặc có làm lụng cũng là làm công việc của cha mẹ. Bố mẹ là nông-gia, các con trông nom việc đồng-áng, bố mẹ buôn-bán, cô dâu sẽ giữ việc coi hàng.
Thời gian chung sống với bố mẹ chồng lâu chóng tùy từng gia-đình.
Thời gian này coi như thởi-kị lập ăn lập làm của cặp vợ chồng mới.
Sau thời-gian ở chung, bố mẹ chồng mới cho các con ra ở riêng.
Tiếng gọi là ở riêng, nhưng thật sự nhiều cặp vợ chồng vẫn ở chung với bố mẹ và chỉ ăn riêng.
Bắt đầu từ lúc ăn riêng vợ chồng này được bố mẹ chồng dành cho công việc riêng. Nhà nông, bố mẹ chia cho ruộng-nương, nhà buôn, cấp cho vốn liếng đề các con tự gây lấy cơ sở, lập lấy cuộc đời.
Tuy ở chung với bố mẹ, nhưng những cặp vợ chồng này cũng phải nghỉ tới ngôi nhà riêng của mình, dù rằng nhà của cha mẹ sau này sẽ chia cho các con.
" Có một ngôi nhà riêng ", cặp vợ chồng nào cũng nghĩ tới.
Một ngôi nhà với một lấm lòng, là nguyện-vọng của tắt cả những ai xây tổ uyên-trơng.
Nhà cửa liên-quan rất mật thiết với đời sống con người, chỉ những người bị coi là vô-phúc mới không có một ngôi nhà, và những
Trang sách 245người nầy cũng bị liệt vào hạng bất-hạnh như người chết không có nơi chồn.
Ta có câu : sống vô gia-cu, chết vô địa-láng, đề chỉ những người lúc sống kém may mắn không có được ngôi nhà và lúc chết lại không có một ngôi huyệt để yên-nghỉ.
Ta thường bảo những người không có một căn nhà là không có hước đất cắm dùi.
KÉN ĐẤT VÀ CHỌN HƯỚNG Ngôi nhà cần thiết cho bất cứ gia-đinh nào, và khi làm nhà la thường có tục kén đất kén hướng.
Đất đề xây nhà cửa gọi là dương-co.
Thứ nhất dượng-cơ, thứ nhì mồ-mả.
Tực la, rất thận trọng trong còng-việc đề mả chôn người chết, nhưng việc đề mả so với việc xây nhà còn đưng thứ hai. Các cụ thường nói nhất dương thắng thập ảm, nghĩa là một ngôi nhà đúng đất đúng hướng hơn ười ngôi mộ. Nhà thuộc đương, mộ thuộc ân, nhà là dương-cơ, mộ là âm-phần.
Chọn đất làm nhà cũng như chọn bướng nhà tối quan-trọng trong việc xây-cất. Tuy-nhiên trước khi làm nhà, người ta phải xem luổi, đề biết tuổi có hợp với việc xây-cất và luổi có hợp với bướng định xây cất không, nếu không phải đợi năm khác.
Đất phải chọn nơi cao ráo có thể lợi dụng được cái khi của trời đất núi sông, nhưng cùng với nơi đất tốt, hướng nhà phải hợp với lẽ thuận-nghịch của âm-lương.
Lấy vp đàn bà làm nhà hướng nam, đó là một câu ta thưởng nói vi : nhiều khi cũng hướng Nam được la cho là hướng lốt nhất, nhưng còn tùy ilịa-thế ngôi nhà, và cũng lùy cả tuổi của chủ-nhân đứng xây nhà.
Trang sách 246Thởng nhà, dương-cơ và tuổi người phải sao cho hợp với lý Tam- lài phối-hợp của người xưa, tức là sự hòa-hợp giữa Trời Đất và Người vậy.
Trong việc chọn đất kén hướng này, cần tránh gúc ao, đao đình hoặc một con đường dâm thẳng vào nhà đề tránh những ảnh-bưởng không luy về phương-diện phong-thủy.
VẬT-LIỆU XÂY-CẤT Đã chọn được nền nhà và đã định được hướng nhà rồi, việc đầu liên cần nghĩ tời là sắm-sửa vật-liệu xây-cất.
Vật-liệu lùy theo lối kiến trúc và cũng lùy theo sự xây cất. Nhà tranh vách đất dùng vật liệu riêng, nhà ngói tưởng gạch dùng vật- liệu riêng Ngoài ra, kiều nhà cũng thay đối tùy địa phương và tùy chủ-nhân. ‹hủ-nhân có địa vị khá trong xã-bội lại có khả-năng tài-chính dồi-đào, lừ tất-nhiên ngôi nhà sẽ khác ngôi nhà của một người tuy cũng có anh vọng nhưng liền của Íl, và do đó khác xa những ngôi nhà của quần chúng.
Ở vùng quê, vật-liệu cất nhà thưởng là tre và gỗ, cũng có đôi khi người la dùng tới gạch ngói. Mái nhà lợp tranh, rơm, rạ bay lá gồi nhiều hơn là lợp ngói. Tường nhà thường là vách đất, đất vữa trộn với rơin rạ trét vào những sườn bằng lrc hay nửa. Nền nhà là đất nện.
Những nhà gạch lợp ngói cỏ nền lát gạch. Trong vài chục năm gằn dây, nhiều nhà làm nền bằng xi-măng, lường vách thường bằng gỗ thay hàng đất trét.
Dù nhà gạch hay nhà đất, iều có cột, cột nhà bằng tre hoặc bằng M1. Người ta thường dùng tre dực làm cột, và gỗ thường là gỗ xoan ir ngoài Bắc và trong Nam là gỗ dầu. Nhiều nơi trong Nam thay tre bùng những cây tràm rất dắn và bền.
Nhà tranh tường vách thường không có móng.
Trang sách 247Cột nhả, nhà tranh cũng như nhà ngói, được kê trên những tảng đá vuông hoặc tròn độ tránh cho chân cột khỏi bị mục hoặc mối. Đôi khi, những tẳng đá thường được thay bằng viên gạch xây trồng lên nhau.
KIẾN-TRÚC NHÀ CỬA Khoa kiến trúc ngày nay, tại các nước Âu-Tây cũng như tại các đô- thị của ta dựa trên các khoa Kỷ-hà-học, Vật-lý-học, Hóa-học và Mỹ-thuật để tạo nên những tiện nghi vật chất và tinh-thần cho con người ; trái lại khoa tạo tác của ta xưa muốn đem lại sự yên-ổn cho tâm-hồn con người nên các kiến trúc sir Viễn đông thời trước thường tim cách lợi- dụng cái khí của trời đất núi sông hoa hợp với con người để hợp theo lỷ Tam-tài phối-hợp như đã nói trên.
Thực vậy, lối kiến trúc nhà cửa phương Đông, lức là có cả Việt-Nam ta không phải chỉ là công-việc cấu-lạo nên một ngôi nhà đề lấy chỗ trủ mưa tránh nắng, dù ngôi nhà chỉ là một ngôi nhà lá vách đất.
Cấu-tạo nên một ngòi nhà, nhưng phải cấu-lạo làm sao để ngôi nhà được nấm trong một khung cảnh thanh-lịch, với cây cỏ dịu-dàng biểu. lộ được sự yêu lĩnh tâm hồn con người. Khung cảnh có khi tạo nên thi- vị đề tăng sự thư-thái cho lâm hồn.
Nhà Việt-Nam xưra có nhiều gian, näm thành dãy, chia ra thành nhà trên, nhà ngang và nhà bếp. Những dãy nhà này vây chung quanh một sân rộng; dãy nhà trên, có nhà thờ tổ-liện ở giữa, nhà ngang và nhả bếp ở hai bên.
Đằng sau nhà thưởng là vườn, đàng trước sân là ao ; cổng vào nhà thường đi ở bên, cạnh dãy nhà ngang, phía ngoài sân. Cũng có khi có những cửa mụch đi lối sau, hoặc thông sang những nhà cha mẹ anh . en] bênh cạnh, - ta thường sống quây quần trong đại-gia đinh gần nhan.
Nếu nhà có bụi tre, bụi tre ở góc vườn, hoặc ở bờ ao. Nhà quê, nhiều nhà có bụi tre: bụi tre cung cấp vật-liệu dùng cho nhiều đồ dùng trong nhà.
Trang sách 248Bên bụi tre là đống rơm. Có khi đồng rơm đánh ở sau vườn. Sau vụ gặt, rơm được đánh đống để dành dùng quanh năm, cho trâu bò ăn, dùng lợp nhà, sửa mái nhà dột và dùng đun nấu thay củi.
Làm nhà, trước hết dựng bốn cột cải của gian giữa và đòn nóc, sau đó mới dựng những cột cái và kèo các gian bên. Những hàng cột phụ và cột hiên dựng sau cũng. Những cột kèo này chằng chịt lấy nhau thành một sườn nhà rất vững.
Sườn nhà đã dựng xong. mái mới đặt lèn. Mái nhà có những rui, mè đế giữ ngói hoặc lơm rự, lá lợp trên. Rui mè thường cũng bằng tre, phần nhiều là tre ngâm, nghĩa là cây trẻ đã được ngâm nước một thời. gian khá lân để đủ tránh mọt tối.
Đặt xong mái, đến lợp nhà. Tùy khả năng lai chính của tirng gia- ilinh, mái lợp ngói, tranh, rom, tạ, hoặc lá.
Ngói có nhiều loại, có loại âm dưong, có loại mấu v.v..
Song song với việc đạt mái, lẹp nhà, công việc lưởng vách cũng được xúc tiến. Tường vách chỉ làm ba mặt, còn mặt trước đề trống, vì khí-hậu Việl-Nam nóng-nực.
Ở ba mé tường vách củ thể có cửa sở, nhưng chỉ ở hai bên, không bao giờ tring sau gian chinh giữa củ cửa sở, - dây là nơi kè bàn thờ gia-liên.
Mặt trước thay vi lường vách có kê những lắm dại che nắng đỡ mira.
Những nhà gỗ, tường gạcl, chỗ kê những tấm dại này là những cửa lùa, cửa xếp, môi làn mỏ thi treo mành-mành. Khi cỏ cửa liếp, ban ngày chống cao lên tối bạ xuống. Hoặc nếu có cho bằng dại, tấm dại này ban ngày cũng đẩy sang bèn, tối mới đóng vào.
Gian giữa nhà là nơi liếp khách, có kê một bộ trường kỷ ngay trước bàn thờ, có khi giữa bộ trưởng kỷ và bàn thở có thêm chiếc sập.
Khách khia được chủ nhân liếp ở dây. Những bạn-bè xa-xôi tới thám chủ-nhân được chủ nhân mời sơi cơm uống rượu, đều mời ở ngay chiếc sập này.
Trang sách 249Nhà ít nhất cũng ba gian. Nếu có thêm nữa thì ba gian chính giữa cũng ăn thông nhau. Số gian nhà tại Việt-Nam thường số lẻ : ba gian, năm gian v.v...
Ở hai gian bên cạnh bàn thờ gia-tiên, có khi có kê những bàn thờ khác: bàn thờ Thổ-Công, Thánh-Su, Bà Cô, Ông Mãnh v.v... Trước những bàn thờ này có những bộ phản, nơi người nhà ngồi nghỉ-ngơi trò chuyện, và cũng là nơi ăn uống trong những ngày giỗ chạp.
Nên đề ý là số gian nhà thường lẻ, ba gian hoặc năm gian. Tực ta tin rằng nếu số gian nhà chẵn sẽ có một gian ở không yên. Nhà ba gian hay có thêm hai chái ở hai đầu hồi.
Ba gian giữa có vách hoặc tường ngăn cách với hai gian bai đầu thường là buồng ngủ hoặc là nơi chứa đồ đạc thóc lúa.
Trước nhà cỏ một mái hiên, có khi chạy suốt cả mấy gian, có khi chỉ đủ cho ba gian nhà chính. Nhiều nhà thay mái hiên bằng một giàn hoa, nhất là hoa thiên lý, vừa thơm vừa mát.
CỔNG NGÕ Nhà phải có cổng ngõ ra vào. Cổng có kiến trúc riêng, và người xưra cũng rất chú-trọng tới việc xây dựng công ngõ, coi cồng ngõ như mặt của ngôi nhà.
Lối làm nhà của ta chịu ảnh hưởng của người Trung-Hoa, khi làm nhà, ta thường lbeo phương pháp của vị lổ-sư nghề thở-ộc xưa là Lỗ Ban. Phương-pháp này có mấy điềm đặc-biệt về cổng ngõ : 1o Ván cửa nhiều kẻ hoặc bị thủng bất lợi : tiền của trong nhà ra đi. Phải sửa-chữa lại cho kin-iláo để tránh sịr bần-hàn. 20 Vách thủng hư, ngói rơi-rót, trong nhà thường không vui. 30 Vách bên phải mỏng, vách bên trái dây, thay đổi chồng vợ, nhà gặp kiện tụng. Bên phải đày, bên trái mỏng con cái sẽ mồ côi bần khổ.
Hai bên vách cổng phải đều nhau.
Trang sách 25040 Cửa ngõ cao hơn nhà chính, đời sau tuyệt lự. Cửa cao hơn vách, người hay có việc buồn.
Qua mấy điểm đặc-biệt về cổng ngõ của phương-pháp Lỗ-Ban, ta thấy vị tổ-sư của nghề thở-mộc đã áp-dụng thuyết tâm-vật đồng-thể của phương Đông.
Công ngồ hir thủng do người bòn trong không đề tâm săn-sóc fiữ-gin, như vậy trộm cướp có thể đòm ngô. Người bèn troog, đây gồm cả cha mẹ lẫn con cái, đều chỉ lo ăn chơi không nghĩ gì đến nhà cửa, như vậy của cải chẳng ra đi thi vào sao được ?
Vách cửa lệch-lạc tức là lầm người không chính, đễ có sự đổi. thay, và dễ sinh tà-ác để phải đi lới chốn tụng-đình.
Cửa cao bơn nhà, con người có tâm kiêu-ngạo, hay khoe-khoang coi thường bên trong. Ăn ở như vậy, ai cù thề sống chung nởi, nạn tuyệt hậu do đó mà rá.
Cửa cao hơn vách là chuộng xa hoa, kièu-sa thường đưa lới hậu- quả đau buồn.
Làm nhà, cần thận nơi nhà chính, đó là điều đã đành, nhưng cũng không nên cầu thả trong việc xây-cất cỏng ngũ. Cổng phải xứng với nhà, cũng như bộ mật xứng với con người.
Nhân nói về cỏng ngõ, dưới đây là mấy nhận sét về cổng ngõ tại Việt-Nam qua các miền Bắc, Trung, Nam.
Ở miền Bắc nhà nào cũng có cổng. Công có khi xây, có khi chỉ là một lấm liếp dựng lên ban ngày và đóng xuống ban đêm gọi là Công- Tán. Có khi cống là bai cánh cửa xây vào lường đề đóng mở cho dễ.
Bên trên cổng có mái lợp ngói.
Miền Trung từ Huế trở ra, nhà cũng có công. Tại Huế, nhiều nhà xây cồng rất đẹp, tuân theo mấy nguyên-lắc của Lỗ-Ban nói trên.
Đi dần lừ Huế vào miền Nam, cổng nhà không còn nữa. Ở miền Nam, nhất là ở dồng quê, nhiều nhà chỉ làm một cái chà gai vững-chãi để đến đêm kéo ngang đủ ngăn ngõ ra vào !
Trang sách 251Nên chú-ý là ta không bao giờ làm cổng ngô trông thẳng vào gian giữa nhà chính. Cồng thường ở bèn cạnh dãy nhà phụ.
NHỮNG KIỀU NHÀ Nhà ngày nay, ở tỉnh thành so với nhà ngày xưa khác bẳn, nhất là những ngôi nhà gần đây kiến trúc theo kiểu Mỹ.
Tại các vùng quê, cho đến thời liền thế chiến thứ hai, các kiều nhà không thay đỏi mấy, nhiều kiều nhà còn giữ nguyên nếp của những thế-kỷ trước.
Kiều nhà cổ nhất tại Việt-Nam có bốn mái : hai mái chính và hai mái đầu hồi cho hai chái.
Cũng vào loại kiểu cũ, là nhà xây-dựng theo kiểu hai mái bịt đốc không chái.
Hai kiểu nhà trên đã có từ lâu lắm, theo các nhà khảo cổ thì từ thế kỷ thứ ba, thứ tư ở Bắc-Việt.
Trong các ngôi mộ cổ đào được tại Bắc-Ninh, Vĩnh Yên và Thanh- Hóa đều có nưững nhà nhỏ bằng đất nung giống hai kiều trên.
Kiều nhà thay đổi tùy theo địa-phương và cũng tùy địa-vị xã-hội của chỉ-nhân. Tại Bắc-Việt, nhà làm theo kiểu chữ Đinh ba gian hoặc nám gian. Ở Trung Việt, nhà cũng theo kiểu chữ Đinh, lại có nhà Vuông, nhà Rương.
Nhà Vuông tức là ba gian chính thông nhau, hai gian nhà chái cũng thông nhau bằng một ngăn rộng sau bàn thờ chính của những gian giữa.
Nhà Rương lức là nhà ba gian hoặc năm gian không chái, trông tương-tự nhi chiếc rương.
Nhà ở Nam Việt cũng là những nhà ba gian, hoặc năm-gian. Loai nhau nhà đặc-biệt của miền Nam là loại nhà ha bánh /t, bốn mái đều nóc cao mái dốc. Loại nhà bánh ít này, thỉnh-thoảng la còn thấy lòn- tại ở một vài khu Saigon.
Trang sách 252Nhà các quan cất theo kiều chữ công hoặc chữ môn và có gác.
Các nhà dân thời xưa không được làm hai kiều nhà này, cũng không được làm quá to lớn, dựng trên một hệ đôi, lợp mái đôi và làm gác.
Thời thế đỏi thay, nếp sống con người cũng đổi theo. Ngày nay, nhà cửa đền cao rộng, có gác, có cầu thang. Mấy năm gần đây, lại Saigon cũng như các đô thị lớn, nhiều nhà kiểu chung-cư được xây nên và tại khắp nơi đều có các biệt thự khang-trang.
Ai có tiền muốn xây cất nhà cửa ra sao thì xây, không có sự cấm- đoán hay bắt-buộc gì. Dân chủ và tự do bắt đầu ngay tự nơi ản chốn ở.
LỄ CẤT NÓC Bắt chước theo Áu Mỹ, mỗi khi xây cấi nhà cửa, người ta làm lễ đặt viên đá hoặc viện nạch đầu tiên, nhất là khi xây cất những trường sở công-cộng. Thường các vị có chức vụ danh-vọng được vinh-dự mời để đặt viên đá hoặc viên gạch này.
Lễ đặt viên đá đầu tiên xong, nhà cửa mới hắt đầu xây cất Người xưa không thế, không có lễ đặt viên đá đầu tiên, mà trái lại có lễ cất nóc.
Nóc đối với nhà rất quan trọng, không có nóc không thành nhà.
Nóc đối với nhà cũng như người cha đối với gia-đinh ; một khi nóc nhà dột là phải sửa ngay.
Con có cha như nhà có nóc, Con không cha như nồng-nọc không đuôi.
Người cha che-chở cho con cũng như nóc nhà bảo vệ cho ngôi nhà.
Ta cũng vẫn nói để mỉa-mai những gia-đình nào đạo đức kém lừ trên xuống dưới, từ cha đến con :
Nhà dột từ nóc dột xuống Nóc nhà quan-trọng như vậy nên khi xây nhà có lễ cất-nóc, chữ gọi là lễ Thượng-Lương.
Trang sách 253Khi làm lễ cất nóc, chủ nhà nhờ người xem ngày kén giờ, đề sau này khi hoàn-thành ngôi nhà, người ở trong nhà sẽ được mọi sự may. mắn bình-yên.
Trớc lễ cất nóc, sườn nhà đã được dựng, có khi trờng cũng đã được xây rồi.
Đúng ngày giò kén chọn, người la bắc đòn chính của nóc nhà lên đỉnh sườn nhà. Một miếng vải đỏ có đề ngày tháng cử lễ và mấy chữ Khưrng-Thói Công Tại Thử, nghĩa là ông Khơng Thái-Công ở đây, được treo vào chiếc đòn chính này. Miếng vải này đề trừ-khử tà ma. Cũng có nhà thay vì miếng vải đỏ này, người ta dán vào đòn chính một lá bùa bát quái hoặc treo vào đó một quyền lịch Tàu. Công dụng của lá bùa và quyền lịch cũng giống như công dụng của miếng vải đỏ trên.
Người ta lại sửa lễ mời thầy pháp tới cúng, và đồng-thời cũng làm lễ cáo gia-tiên. Lễ xong có đốt pháo. Tiếng pháo biểu-lộ sự vui-mừng, và tiếng pháo cũng đuổi tà ma.
Trong dịp này, chủ-nhân có mời bà con họ-hàng tới ăn uổng.
Lễ cấl-nóc chỉ có khi nào làm ngôi nhà chính, thường gọi là nhà trên, còn các ngôi nhà phu-ít ai làm lễ cất-nóc. Ngày nay, nhiều nhà làm mái bằng không có nóc, có lẽ do đi lễ cất nóc được thay bằng lễ đặt viên gạch đầu tiên ?
CÁCH XẾP ĐẶT TRONG NHÀ Theo sách Lễ ký và Gio-Lê khi làm nhà, ngoài hai việc chính yếu là giữa, chủ nhà còn cần phải để ý chọn hướng và kê bàn thờ gla-ltên å gian việc ngăn riêng chỗ ở của đân ông và đàn bà.
Theo tục la, tại gian nhà thờ, như đã nói ở trên là nơi gia-trưởng tiếp khách hoặc hàng ngày đọc sách uống trà ngâm thơ. Có thể nói nơi đây riêng của gia-trưởng.
Con cháu có khách phải tiếp ở gian bên:
Trang sách 254Nơi này, trir ngày giỗ lết, đàn bà con sái không được hén mảng tới.
Nếu có khách, phải tiếp ỏ buồng dành cho phụ-nữ.
Người xua áp dụng thuyết nam nữ thụ thụ bất thân ngay lại lrong gia- dinh.
Các bà mẹ có thể tiếp khách ở hai gian bên bàn thỏ tổ tiên, nếu ở đây không thiết-lập bàn thờ khác. Nếu ở bai bên này đền củ hàn thờ, người mẹ muốn tiếp khách cũng phải liếp ở gian buồng của mình hoặc lại các căn nhà phụ. Sở dĩ có điều này, chính là vi phụ-nữ không được phép có mặt lại nơi tế lự.
Theo các cụ xưa, nhà chính thường bướng Nam, các buồng con trai ở phía Tây gọi là Tây Phòng, con gái ở phía Đông gọi là Đông Phòng.
Trong trường hợp nhà không làm theo hướng Nam thì phòng các con trai ở bên tay phải gian chính có bàn thờ gọi là Hữu Phòng con gái ở bên tay trái gọi là Tà Phòng.
Nếu nhà đông người, các con cải phải ở những căn nhà phụ, nhưng trai gái vẫn ở riêng.
Về cách xếp-đặt các phòng, tục Việt-Nam không giống tục Trung- Hoa. Người Trung-Hoa đặt phòng con gái ở phía Tây và con trai ở phía Đông.
Tưởng cũng cần nói thêm, bất cử gia - đinh nào, ngoài nhà trên . ngang, nhà bếp. Những gia-đinh giàu cũng có các nhà phụ gồm nhà có còn thêm nhà vựa đề thóc, chuồng trâu, chuồng bò, chuồng gà vịt v.v... xây riêng biệt, cách xa nhà trên.
TRANG - TRÍ Bước chân vào nhà nào, sang hay hèn, là đều nhận thấy ý muốn trang-tri nhà cửa của chủ-nhân qua những chậu cảnh trước cửa, những bức tranh trên tường, những lọ hoa bày bàn, những rèm treo cửa số v.v...
Cách trang-trí nhà cửa xưa nay không giống nhau. Ngày nay ai
Trang sách 255muốn trang-trí trong nhà ngoài cửa ra sao tùy ý và cũng tùy theo khả. năng tài chính của mỗi ngời.
Xira khác, muốn trang-trí nhà cửa phải tùy theo địa vị xã-hội, vua quan có cách thức riêng vù dân chúng có cách-thức riêng. Nhà dân trang hoàng theo lỗi nhà vưa quan sẽ bị tội.
Việc trang trí bắt đầu ngay từ lúc lâm nhà, nghĩa là ngay từ khi đựng cột, bắc lièn. Thợ mộc bắt chỉ, tô điễm thêm những đường cong, đường lượn khi lm cột, kèo, rui hoặc xà nhà, giống như những đường "hỉ ở các nơi dinh chùa.
Lúc xây lường, đối với ngôi nhà gạch, thợ nề cũng xây ngay những đường lượn, những bông hoa lại các cửa sổ, dầu hồi, và tô-điểm bằng những nét vễ mé trởng trong nhà.
Trang hoàng nhà cửa phải cần - thận để khỏi phạm luật Triều-đinh.
Đời nhà Lê, triều-đình cá ban hành nhiều chỉ-dụ về việc trang- hoàng nhà cửa. Riêng đạo dụ năm 1061, nhà vua nghiêm cấm tất cả những người thợ, nữững nhà mỹ thuật khong được sáng-tạo và bán những vật-dụng trên có hình Rồng, Lân, Phượng, do đó việc trang hoàng trong nhà cũng không được điềm bằng bình vẽ những linh-vật này dành riêng cho Vua Chúa.
Dưới triều Nguyễn, trong bộ luật Gia-l.ong, điều 156 có quy-định rằng " tất cả nhà cửa, re cô, quần án và lất cả mọi vật-dụng của quan chức và thường dân phải phân biệt rõ rột. Ai dùng trái phép thì bị tội. Nhà cửa thường-dân không dựng trên một hộ đôi, lợp múi đôi và làm gúc.
Trong nhà không được sơn phết trang hoàng Mọi sự lô-điểm đòn thượng lương, nóc nhà, sườn nhà và trong nhà đều có sắc lệnh quy-định.
Các quan đại-thần nhất, nhị-phẩm trang-hoàng đòn thượng-lương, nóc nhà, sườn nhà bằng hoa lá hoặc đầu thú loại bốn chân như cọp, rùa, sur-tử.
Từ tam phẩm đến ngũ-phẩm chỉ được trang hoàng đề-tài thú-vật bốn chân.
Trang sách 256Từ lục-phầm trở xuống không được phép trang-hoàng gì cả.
Dân gian, lễ tất-nhiên, không ai dám phạm vào những điều cấm, nhưng người ta vẫn trang-hoàng được nhà cửa một cách rất có mỹ- thuật mà không phạm luật Triều-đinh.
Người ta dùng chữ đề trang-hoàng : chữ Thọ, chữ Phúc, chũ Hỷ thường được dùng tới luôn. Ngoài ra, lại có đề tài bát-bửu, tượng-trưng cho sự bát tử cũng được dùng nhiều : cái quạt, thanh gươm, giỏ hoa, bầu rượu, cái phách, cây và cành tre, cái sáo và hoa sen.
Từ vua đến dân, tùy theo địa vị, các đề tài trang hoàng xưa gồm :
Tứ linh : Long, Ly, Quy, Phụng.
Tứ-hữu hoặc tứ thời : Mai, Lan, Cúc, Trúc hoặc Tùng, Cúc, Trúc, Mai.
Tam-đa : Phúc, Lộc, Thọ được tượng trưng bằng con Rơi, con Hươu và cây Tùng. và các đề tài khác : Cọp, Sư-Tử, Mây, Nước, Lửa v.v...
Đề-tài thảo-mộc cũng được dùng tới với hoa, lá, cây quả. Mỗi loại cây có tính cách tượng-trung riêng.
Cây trúc tượng-trưng cho người quân tử, sự tiết-độ khôn-ngoan.
Cây tùng tượng-trưng cho sự trường thọ.
Hoa cúc tượng-trưng cho hạnh-phúc.
Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết v.v...
Độ đem lại vẻ linh-hoạt cho sự trang-hoàng, những cây cảnh được bào-chuốt sửa-chữa, trạm trổ cho biến thành những giống vật :
Trúc tùng thành rồng Mai thành phượng Hoa sen thành con rùa Hoa cúc thành con kỳ-lân v.v...
Trang sách 257Cả đến những chữ Phúc, Lộc, Thọ cũng được gọt rũa biến thành hình mặt rồng, đầu phượng.
Việc trang hoàng nơi nhà thờ, ròn có những bức hoành phi, những đôi câu đối.
Trước nhà chính nhiều nhà có hòn non bộ đặt trong bề cạn đề chủ- nhân ông thưởng ngoạn cho thư-thái tâm hồn. Ở đây là lất cả cái gì nhẹ-nhàng, 'êm-ái, thanh-cánh và dịu-dàng: chiếc bễ cạn xinh xinh, hòn non bộ gọn-gàng với những cây, những cảnh, những am nhỏ, những chiếc cầu v.v...
Ngày nay, ở các đô thị cũng như ở thôn quê, nhiều nhà giâu có vẫn còn dùng bề cạn và những hòn non-bộ để trang-trí trước nhà.
Việc trang-trí nhà cửa của ta xưa trong ngụ rất nhiều ý-nghĩa vừa về tôn-giáo, vừa về đạo-đức. Thực ra đây cũng là một n hệ thuật mà tất cả các nghệ-thuật phương Đông bao giờ cũng có tính cách tượng- trưng.
Đọc một đôi câu đối ta phải suy-nghĩ, thì khi ta thấy một cảnh chùa trên hòn non-bộ la phải nghĩ đến sự thư-thái tâm-hồn của những người sống nơi am thanh cảnh vắng, ta phải tưởng lượng ra liếng chuông chùa văng vẳng, ra cảnh chiều hôm hảng lảng, ta phải nhớ lại tiếng tụng kinh gõ mã đều đều của các vị hòa thượng ở một ngôi chùa nơi thâm sơn cùng cốc...
LỄ ĂN MỪNG NHÀ MỚI Có nơi gọi lễ này là lễ ăn Tân gla.
Ngôi nhà một khi đã hoàn thành, chủ nhân sẽ chọn ngày lành tháng tốt dọn tới.
Có nhà mới là điều đáng mừng. Dọn tới nhà mới chủ-nhân phải làm lễ khánh thành ngôi nhà.
Lại mở lịch xem ngày, rồi cáo gia-tiên, làm cẫ mời bà con bè-bạn.
Trang sách 258Lễ ăn mừng tân-gia thường long-trọng hơn lễ cất-nóc, tuy phương diện lín-ngưỡng, ý nghĩa lễ cất-nóc thiêng-liêng hơn.
Trong dịp ăn mừng tân-gia, chủ nhân được bạn-bè mang lễ vật tới mừng. Có những bức thêu, có những bức đại tự, có những đôi câu đối, có chè cau hoặc các tranh ảnh đề trang-hoàng nhà cửa.
Lúc làm lễ cáo gia-tiên, có đốt pháo để được thật vui-vẻ tưng-bừng.
Sống ở nhà, chết ở mồ, con người ta ai cũng muốn có ngôi nhà của mình. Nhà cửa là vấn đề rất cần thiết của con người.
Trang sách 259Cách thức xếp đặt một ngôi nhà ba gian tại vùng quê miền Nam.