TỪ THỜI TRỨNG-NƯỚC ĐẾN LÚC TRƯỞNG-THÀNHPhần 5 · trang 52–65
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 52TỪ THỜI TRỨNG-NƯỚC ĐẾN LÚC TRƯỞNG-THÀNH Bắt đầu từ lúc đặt tên, đứa trẻ thường được coi như đã qua thời-kỳ lrứng-nước, và từ đó đã có một chính-danh, thay cho cái tên nôm na thằng Tý, cái Tẹo thủa nuỏ, vi như trên đã nói, việc đặt tên chỉ thực. hiện khi đứa trẻ đã lớn, và có khi đã bắt đầu đi học.
LÁ SỐ TỬ-VI Ta đã hiều xưa kia, việc hộ tịch không bị bắt buộc lại Việt-Nam và mởi đứa trẻ không có một giấy khai-sinh.
Không có khai-sinh, nhưng phần nhiều bố mẹ đều lấy cho con một lá số lử-vi, trong đó ngày sinh, giờ đẻ ghi rất rõ-ràng cầo thận, và có thể nói rằng có phần đúng hơn tờ giấy khai-sinh chính thức ngày nay.
Khai-sinh, vì lý-do này, lỷ-do khác, người ta còn tim cách khai-man, trải lại trong lá số tử-vi của đứa trẻ, không ai làm man, và người ta còn • không thật đúng với giò sinh.
Theo tin ngưỡng, là số tử-vi tỏm tắt tất cả số phận của một người, lín hay lúc giở, lúc vinh-quang, lúc khốn đốn, năm tháng nào vận-hạn, nốm tháng nào suôi-sẻ. Mọi việc hay dở, người ta đều chiếu theo ngày kò năm tháng sinh để mà tính, và qua lá số có thề đoán trước vận- Mụng và niên hạn của mỗi người.
Và số tử-vi cần phải thật đúng.
Ngày nay có khai-sinh nhưng nếu so ngày sinh tháng đẻ của nhiều
Trang sách 53người trong khai-sinh với lá số lử vi sẽ có sự khác-biệt, trong khai sinh là ngày man, trong lá số mới là ngày thật.
Những nhà khá-giả, mỗi khi sinh con, nhất là con trai, đều lấy một lá số lử-vi đề tiện theo dồi và sán sóc con cái, đoán trước đề tránh mọi vận hạn, hoặc tìm cách cầu-cúng giải bạn để vận-hạn nhẹ bớt đi.
Đối với những nhà nghèo không có tiền đề lấy cho con là số (1), bố mẹ cũng cố nhớ lấy ngày sinh tháng đẻ của con để trong những trường. hợp con cái ốm đau, trong những dịp con cái thi-cử, người ta có thể cúng vái cầu xin thần thánh phủ-hộ.
VÀO HỌ Đứa trẻ đã được đặt tên xong, bố mẹ làm lễ cáo với gia-tiên đề ghi tên con vào gia-phả.
Kế đó, bố mẹ đứa trẻ mang đồ lễ tới nhà trưởng tộc để ghi tên con vào lộc-bọ, tức là sở họ, trong ghi rõ con cái từng ngành. Có nhiều họ, chỉ ghi tên con trai, con gái bị coi như là nữ nhân ngoại-tộc, sau này nó sẽ theo họ nhà chồng.
Việc ghi tên con vào tộc-bạ, ngurới ta cũng thường kén ngày lốt.
Người trưởng tộc đặt đồ lễ của bố mẹ đứa trẻ lên bàn thờ họ, làm lễ khấn tổ họ, rồi ghi tên đưa trẻ vào trong sổ họ.
Dù giàu nghèo, khi đặt tên con rồi, bố mẹ cũng làm lễ cáo gia-tiên và xin vào họ cho con.
Từ ngày đứa trẻ vào họ nó phải chịu sự đóng góp vào những ngày giỗ, hoặc vào những công việc có ích chung và liên-quan tới cả họ. Lễ tất-nhiên những sự đóng góp đó, do bố mẹ gánh vác. Những xuất đóng góp cho đứa trẻ cho đến năm 18 luổi, là những xuất trẻ con, tức là chỉ phải đóng một nửa hoặc một phần xuất của người lớn. (1) Lấy lá sõ phải trả tiền thầy số.
Trang sách 54Nhiều họ, con gái không phải đóng-góp gi, nhưng với nhiều ?họ khác, gái cũng như trai, việc đóng-góp là việc chung đều phải tham-dự.
Ngày nay, trải qua nhiều sự biến đổi, con cái sinh ra trong hạn tám ngày phải khai-sinh tại văn phòng viên chức hộ-tịch. Đã khai sinh là phải đặt tên con để ghi vào sổ nhưng dù đặt tên con đề ghi vào số rồi, nhiều gia-dinh, nhất là những gia-đinh hiếm hoi, về nhà vẫn gọi con theo một :ên xấu-xí, cái Hêm, thằng Cò, để dễ nưôi, và cái tên chính của đứa bé chỉ được dùng tới khi bắt đầu đi học. Tuy vậy, sau khi khai-sinh cho đửa bé, nhiều gia-đinh vẫn giữ tục-lệ làm lễ cáo gia-tiên đề ghi tên con vào gia phả, và mang đồ lễ tới nhà trưởng tộc để xin cho con vào họ.
Đối với những người tha-hương, họ hàng không có ở nơi làm ăn, người ta thường nhờ người khác vào họ giúp tại quê nhà.
VÀO HÀNG NGÕ, HÀNG XÓM, HÀNG GIÁP Một làng xưa chia làm nhiều Giáp, có khi theo họ như ở làng Phù- Đổng, nhưng phần nhiều theo địa lý, mỗi khu thành một Giáp.
Một Giáp lại có nhiều thôn hoặc xóm, và mỗi xóm có khi lại có nhiều ngõ.
Những người cùng ngõ cùng xỏm thường tương trợ lẫn nhau và củng nhau chia vui cũng như sẻ buồn.
ở một Ngô hoặc một Xóm nào, người ta vào hàng Ngõ, hàng Xóm tại đó.
Một đứa trẻ sinh ra, nhưng chỉ riêng con trai, sau khi vào họ cho nó rồi, bố mẹ nó có cơi trầu tới ông trưởng ngõ hoặc trưởng-xóm dễ xin cho con vào hàng ngõ hoặc hàng xóm. Ông trưởng ngõ hoặc trưởng- xóm ghi tên đứa trẻ vào sổ hàng Ngõ hay hàng Xóm. Kể li ngày đó, đứa bé phải chịu phần đóng góp vào hàng Ngỡ hay hàng xóm cũng như được hưởng những quyền lợi của một người trong Ngõ hoặc trong Xóm.
Có nhiều trường-hợp, đã vào hàng Ngõ ở Ngũ mình cho con rồi, bố mẹ đứa trẻ lại vào cả hàng xóm cho nó nữa. Đây là những xóm lớn có nhiều ngõ.
Trang sách 55Vào hàng Ngõ, hàng Xóm xong, bố mẹ lại phải vào cả hàng Giáp cho con. Bố mẹ phải sửa lễ tới ông Thủ chỉ Giáp nhờ ông làm lễ tại miếu Giáp.
Sau đó, ông Thủ-chỉ Giáp ghi tên đứa bé vào sổ hàng Giáp.
Cũng như ở hàng Ngõ và hàng Xóm, khi đã vào hàng Giáp đứa bẻ được hưởng quyền lợi của một người trong Giáp và phải chịu những sự đóng góp vào bàng Giáp.
VÀO LÀNG Sống ở làng, sang ở nước, đã sinh ra ở làng phải vào làng. Có nhiều người cư ngự lại một nơi nào, có thể vào hàng Ngõ, hàng Xóm và cả hàng Giáp ở nơi đó được, nhưng không được nơi đây nhận vào làng, nếu không đủ một vài điều-kiện, nhất là về điều kiện niên-gian cư-trú và tài-sản.
Có làng, như làng Thị-Cầu, Tỉnh Bắc-Ninh, dân biệt-xã eu-Lrú tại làng, muốn nhập tịch dân làng, phải ít nhất có tổ tiên ba đời đẻ tại làng này và đã chịu đóng góp theo những điều lệ phu-phen tạp-dịch trong làng ; lại có làng như làng Hướng-Dương Lỉnh Hà-Lông, muốn nhập tịch dân làng, không cần phải có tổ-tiên cư-ngự tới ba đời, mà chỉ cần có tài-sản ở trong làng, tài-sản đây là ruộng đất.
Vào làng là một diền quan trọng trong cuộc sống nơi đồng quê.
Bởi vậy, mỗi đứa trẻ con trai sinh ra, sau khi đã vào họ, vào hàng Ngõ, hàng Xóm và hàng Giáp, bố mẹ phải xin cho con vào làng. Con gái không cần vào làng, nhưng có nhiều cha mç, khi sinh con, dù trai hay. gái đều có làm lễ cáo đức Thành-Hoàng tại đinh làng.
Muốn vào làng, bố mẹ đứa trẻ phải có tràu cau sửa lễ tại đình làng, rồi lại có trà lá riêng cho ông Tiên-chỉ hoặc lỷ-trưởng đề ghi vào sổ làng Việc vào làng chi cốt ghi tên trong sổ làng đề được hưởng quyền lợi của dân làng và cũng để chịu gánh vác những phận sự trong làng.
Tại nhiều nơi, trong những kỳ lế-lễ, tất cả mọi dân làng đều được dự chia phần, và lẽ tất-nhiên là phải chịu phần đóng góp. Nhiều làng, con
Trang sách 56trẻ tuy đã ghi trong sở làng, nhưng đúng 18 luôi mới thực sự hưởng quyền-lợi và chịu phận sự của một trai làng.
GIÁO-NHI Sách Tam-Tự-Kinh có câu : Dưỡng bất giáo, phụ chỉ quá, nghĩa là nuôi con mà chẳng dạy là lỗi tại người cha.
Việc dạy con cũng quan trọng như việc nuôi con, và dạy con phải bắt đầu ngay bằng sự thai-giáo, nghĩa là dạy trẻ ngay từ lúc còn ở trong bụng mẹ.
Đứa trẻ, kề từ khi có thể hiểu biết, là cha mẹ đã săn sóc tới đề nó tập giữ lính thành. Dạy con lừ thủa còn thơ, con còn bé, đầu óc còn trong trắng. cần phải cho con lập những điều hay, làm những điều lốt. Nhân chi sr, tnh bản thiện, người mới sinh ra lính vốn lốt, bố mẹ phải rán dạy con để giữ lấy linh tốt đó. Tục ngữ có câu Bé không vin cả gảy ngành, có ý vi đứa trẻ như một cành non, phải uốn nắn từ lúc nhỏ, kẻo khi lớn lên, như một cành cây già, uốn nắn sẽ gày.
Trong vấn đề giáo-nhi, người mẹ giữ một địa vị rất cần thiết.
Người cha vì nghiêm khắc, thiếu sự mềm dẻo của người mẹ có thề làm cho đứa trẻ sợ hãi, cho nên sự dạy dỗ của người mẹ trong lúc dửa trẻ còn non dại, rất hợp với tinh thần ngày-thơ của trẻ. Trách vụ của người mẹ trong việc này rất nặng-nề. Nếu con hu là lại mẹ, cho nên người mẹ phải đề mắt tới con từng ly từng tý. Dạy ăn, dạy nói, day gói, day mở.
Người mẹ bao giờ cũng thương con, nhiều khi hóa nhu-nhược đối với con. Bởi vậy, người cha đối với con thường nghiêm-khắc đề ngăn. cản con trong những khi người mẹ vi nhu-nhược đề cho con quả hư- hỏng. Ta gọi người cha là nghiêm phụ hoặc nghiêm đường, chính vì vậy.
Trong lúc dạy-dỗ sẵn-sóc con, người mẹ thường hay cho con đi theo mình trong những khi đi lễ bái đình chúa, đi bội đi hè, cùng như khi đi ăn giỗ, ăn chạp tại nhà ông bà cô bác trưởng chi họ hoặc trưởng-tộc.
Trang sách 57Những khi đi lễ, con gái thường theo mẹ nhiều hơn, con trai chi đi theo mẹ cho đến tuổi đi học, nghĩa la độ lên sáu lên bảy. 'Trái lại con gái càng lớn càng được mẹ cho đi theo, nhất là trong những khi đi lễ. Người mẹ muốn nhân những dịp này giảng-giải cho con biết về sự lễ-bái tín. ngưỡng, cũng nhi nhân những địp giỏ chạp lại nhà trưởng chi họ, nói cho con hay sự liên lạc của gia-đình với những người trong họ.
Lễ tất-nhiên, dần dần lớn lên, đửa bé hiểu biết mọi đều cần-thiết về họ hàng, về lễ bái qua cha mẹ.
Những điều gi mẹ không dạy bảo đã có cha.
Đứa bé bao giờ cũng sợ cha hơn sợ mẹ, có những điều mẹ bảo không nghe, cha bảo thì đứa bé tuân theo răm rắp. Kỷ-luật trong gia- đình nhờ có người cha mà nghiềm-minh.
Nếu con không vàng lời, người cha thường dùng roi vọt và già đòn, bao giờ cũng non nhé, với chiếc roi đánh đau, đứa con hư phải vào khuôn phép.
Chiếc roi, đối với đứa trẻ tượng-trưng cho uy-lín của người cha, tuy nhiều khi sự nghiêm-khắc của người cha thường làm cho đứa trẻ trở nên nhút-nhát.
Ở những gia-đinh không may người cha mất sớm, người anh cả sẽ thay người cha để trông nom dạy dỗ các em. Ở đây là quyền huynh thế phu.
Tỏm lại, trong việc giáo-nhi, người mẹ nắm phần quan-trọng với sự dịu-dàng, với tình âu-yếm mẫu-tử, nhưng sự nghiêm khắc của người cha cũng rất cần đề gin-giữ người con khỏi hư-hỏng.
CHỌN BẠN CHO CON Người xưa trong lúc giáo-nhi rất thận-trọng. Người mẹ, những khi dắt con đi theo minh, ngoài việc dạy cho con biết về tín-ngưỡng lễ-giáo và cho con hiều sự liên-lạc trong gia-tộc, lại còn có ý đễ cho con đánh bạc chơi với các trẻ khác cùng theo mẹ đi lễ bái, hoặc cùng đi đến một nơi giỗ-chạp.
Trang sách 58Cha mẹ thường chọn bạn cho con, ngăn cản con không được giao du chơi bởi với những đứa trẻ thiếu giáo-dục, và khuyên con nên gần những bạn-hữu có lễ-phép, chịu khó học-hành.
Ta có càu gần mực thì đen, gần đèn thì rạng, đía trẻ chơi với bạn tốt sề trở nên tốt, chơi với bạn xấu sẽ bành xắu.
Ngoài việc kén bạn cho con, các cụ còn kén cả láng giồng, như truyện bà mẹ thầy Mạnh-Tử đã dọn nhà mấy lần để tìn láng-giềng tốt, tránh cho con mọi ảnh-bưởng xấu-xa.
Vấn-đề giáo-nhi của ta xưa thật cần-thận, và đứa trẻ thường lớn lên trong vòng lễ-độ, rọi việc đều luân theo cha mẹ. Đi dâu đứa trẻ phải xiu phép, lúc trở về phải trình-diện. Gọi, con phải dạ, bảo, con phải vâng.
Ca dao có câu :
Bào vông gọi da con ol.
Vâng lời sau trước con thời chứ quên, Công cha nghĩa mẹ khôn đền, Vào thưa ra gửi mớt nên con người.
Đứa trẻ không vâng lởi cha mẹ là đứa trẻ hư, tương-lai của nó sẽ không tốt đẹp vì Cá không ăn muối cá ươn, con căi cha mç trăm đường con hư.
Săn-sóc con, bố mẹ không để cho con lêu-lổng, không đề cho con được lự ý làm gi kể cả việc chọn bạn-bữu. Kể ra việc giảo lục như vậy, bay thì có hay, nhưng thưởng làm cho đứa trẻ bóa nhút-nhát và không có sáng-kiến.
VIỆC GIÁO-NHI NGÀY NAY Mọi việc ở đời đều biển chuyển, việc giáo nhi ngày nay tuy vẫn giữ theo nếp sống xưa nhưng không khỏi có sự thay đỏi.
Khi đứa trẻ còn quá nhỏ bé, lẽ tất nhiên sự sắn-sóc con cải, người mẹ chủ ý nhiều hơn.
Trang sách 59ở thôn quê trong công việc giáo-nhi, người mẹ vẫn còn nắm vai quan trọng, còn người cha, vì bận nhiều công việc bên ngoài, nên chỉ trông nom đến con trong những trường hợp con không vâng lời mẹ.
Ta phải nhận thêm rằng, với đời sống vật-chất khó khăn gây nên bởi sựị cạnh-tranh của đời sống mới nhiều khi cả bố lẫn mẹ đều bận việc đồng-áng, việc trông nom con cái đành phó cho đứa lớn coi đứa bé, và sự dạy dỗ cũng bê trễ. Tại nhiều gia-đinh, may mắn còn ông bà thì việc săn-sóc cháu nhỏ bà đảm nhiệm, kề luôn cả việc răn dạy nữa. Tại các nơi đô thị, việc giáo-nhi ngày nay khác hẳn ngày xưa. Đàn ông lo việc ngoài, vì kể mưu-sinh đã đành, nhiều gia-đinh đàn bà cũng đi kiếm ăn, buồn bán hoặc làm việc trong công sở. Con cái mướn người nuôi, chỉ chiều chiều bố mẹ mới đễ mắt lới được.
Khi con được độ ba tuổi, những gia-đinh dư dật gửi con vào các trường mẫu gián, những gia-đinh lao động thì cứ phó mặc con ở nhà, đứa lớn trông đứa bé, hoạc eủ khi gửi hàng xóm.
Tại một vài khu eó những nhà giữ trẻ, mất tiền hoặc làm phúc, nhưng số nhà này chẳng được bao nhiêu và cũng không rộng-rãi, nên số trẻ nhận được cũng chỉ có hạn, chỉ những người ở gần hoặc tiện đường qua lại mới gửi trẻ trước khi đi làm, và lĩnh lại chúng khi chiều về.
Nhiều gia-đinh còn bà nội hoặc bà ngoại thì bà trông cháu. Những đứa trẻ này được sung sướng về linh-thần hơn vì bao giờ bà cũng thương cháu, và chiều chuộng cháu. Ta đã có câu cháu hư lại bà, chính là có ý nói bà thường nuông chiều cháu nên cháu sinh hư nũng-nịu bà.
VIỆC HỌC-HÀNH Đứa trẻ được dạy bảo bởi cha mẹ ở nhà cho đến một thời-kỳ nào, trong việc dạy bảo này, đôi khi xồm cả việc dạy cho đứa trẻ biết đọc biết viết, nhưng việc bọc hành của đứa nhỏ thường được cha mẹ giao. phó cho các ông thầy.
Đứa trẻ lớn, thời-kỳ giáo-nhi đã qua, không thể để cho chơi-bời lêu-
Trang sách 60lồng hư thân mất nết, phải cho nó đi học, ăn mày cửa thánh kiểm dăm ba chữ đề đọc thông văn-tịr.
Tuổi đi học ở nước ta xưa kia không nhất định là tuổi nào, nhưng thường đứa bẻ độ sáu bảy tuổi bố mẹ mới bắt đầu cho đi học.
Dưới tuổi này, chúng ròn chưa biết gi, ngoài việc ăn và chơi. Nhiều đửa mặc quần bỏng đít nếu không cởi chuồng.
Kè từ ngày bắt đầu đi học, chùng được kề là đã khôn lớn, được mặc quần kín dũng.
Việc đi học bắt đầu một quãng đời mới của đủa trẻ, và buổi học đầu-tiên, gọi là buởi học khai-lầm rất quan trọng theo quan-niệm của ta xua.
Thường ra con trai mới được bố mẹ cho đi học chữ, con gái cần học ăn bọc làm, nên khi đã hơi lớn là phải bát đầu giúp đỡ cha mẹ trong những công việc nhỏ. Chỉ những gia đinh khá-giá lắm mới cho con gái đi học, nhung sau buổi học về, buo giử con gái cũng phải lo giúp đỡ cha mẹ trong việc nhà.
Sự học thời xưa thực ra không lỗn gi. Chỉ cần một quyễn sách, một cái bút và một thoi mực là đủ, và những thức đó chẳng đáng giá bao nhiêu.
Tiền học cũng không đáng kể. Học khai-làm không có trường của nhà nước, nhưng tại làng xã nào cũng có một vài ông đồ dạy trẻ. Tiền học không phải trả, ma bàng nám hố mẹ dứa trẻ chỉ cần mang biếu thầy đồ vào những dịp ngày lễ ngày Tết khi thúng gạo, khi cân mứt v.v...
Những gia-đình giàu-có khá giả đón thầy đồ dạy học cho con, nhưng nhân thể, ông nhận những đứa trẻ khác trong làng tới học. Việc chi-phí về ông đồ, chủ nhà đã đón âng đồ gánh vác hết, còn các trò khác cũng chỉ biếu ông đờ một năm vài lần là đủ.
Học trò thưởng học sách viết, sách in rất đắt, ông đồ nào cũng có một tủ sách, các học trò chép lại bài học qua những sách của ông đồ.
Con nhà giàu đôi khi cũng mua sách in dùng.
Trang sách 61LỄ KHAI-TÂM Buổi học đầu liên đánh dấu quãng đời mới của đứa trẻ, rất được chú- trọng. Cho con đi học người la kén ngày, sửa lễ, và tấm rửa cạo đầu (1) sạch-sẽ cho đửa liẻ, lim lễ cáo gia-tiên cho đứa bé đi học. Sau khi cha đứa nhỏ khấn lễ tại bàn thỏ, chính đưa bẻ cũng phải lễ bốn lễ ba vài.
Ý-nghĩa của lễ này là có ý để đứa bé xin tổ tiên phù-bộ cho được thông-minh sáng láng học-hành lấn tới giỏi-giang.
Sau khi lễ ở nhà rồi, người cha ăn mặc chỉnh-tề dẫn đứa bé cũng ăn mặc quần áo mới tới nhà ông đồ xin nhập môn, có người nhà đội mâm đồ lễ gồm trà rượu, cau tràu và cũng có khi con gà đĩa xôi tùy theo gia cảnh của học sinh.
Đạo thánh là đạn rộng, ông đồ không bao giờ từ-chối học trò.
Ông làm lễ thánh, đây lức là đức Khổng-Tử, tại bàn thờ riêng ở nhà, rồi ông cũng cáo với gia-tiên việc nhận thêm một môn-sinh mới.
Sau đó đứa trẻ mới được học bài đầu tiên.
Có nhiều ông đồ cần thận, trong buổi khai-tâm của đứa trẻ, các ông đã dẫn đứa trẻ ra văn chỉ, lức là miếu thờ đức Khổng-Tử ở trong làng đề làm lễ, rồi ông mới nhận cho đứa lrẻ nhập-môn.
QUÃNG ĐỜI MỚI CỦA ĐỨA TRẺ Kê lừ buổi lễ nhập-môn, đứa trẻ đã là một môn sinh của ông đồ, và đã là một cậu học trò, phải sống theo đời học trò, bị bỏ buộc theo một khuôn khổ mới.
Từ đây cậu phải biết lễ phép đề giữ với nghiêm-sư cũng như đối với anh trưởng-tràng, người được ông đồ chỉ định thay thế mình, đứng đầu lớp học để dạy bảo các trò khác đỡ ông đồ, và trông coi lớp học khi ông đồ đi vắng. (1) Xưa đứa trẻ nhỏ thường cạo dầu chỉ đề lại một mớ tóc ở đinh dầu, hoặc hai mó lóc như hai trái dào ở hai bêr,
Trang sách 62Tiên học lễ, hậu học văn, học lễ phép trước rồi mới học văn-bài. Lễ. phép không phải riêng ở lớp học, còn ở ngoài đường và ở nhà mình nữa.
Đứa trẻ hư, ông đồ mang liếng.
Vứa trẻ cũng phải chăm chỉ học hành. Nếu nó lười-biếng dốt nát cũng lại tiếng tại ông đồ.
Để giữ cho đứa trẻ khỏi hư thân lười-biếng, luôn luôn ông đồ có ngọn roi mây ở lớp học.
Thứ nhất bay chữ, thứ nhi dữ dòn ! òng đồ khỏe đánh học trò cũng là một ông đồ giỏi. bứa trẻ trước ngọn roi mây cũng phải ngoan ngoãn chăm chỉ.
Dê giữ cho được sáng láng, có những điều đứa trẻ cần kiêng-ky. :
- Không nên áo quá no e lấp mề không học được.
- Không nên án chân gà e run tay không viết được. của các con vật - Không nên ăn cơm cháy hoặc những thịt thà chết e u-tối trí tuệ.
- Không được vứt giấy có viết chữ xuống đất, trông thấy người khác vít phải nhặt đốt đi hoặc đem thả theo dòng sông.
- Không được gối đầu lên sách.
- Phải kính-trọng sách vở và chữ nghĩa.
ONG ĐỒ Nhân nói đến sự học của đứa trẻ, tôi nghĩ cũng nên nói qua về dnk dồ, người dạy bảo đứa trẻ Việc học của ta cho lới thời Pháp thuộc, được hoàn-toàn tự-do, ai muốn dụy cũng được chỉ cần hay chữ và nhiều nhà khá giả như trên Mi nới, thường rước ông đồ về dạy bảo con cái.
Chc ông đồ bao giờ cũng là những bậc văn-tự, học-vấn uyên-bác.
Thường các vị bưu-quan hay mở trường dạy học, cũng có khi các Nỏ khoa-cử không ham muốn công-danh, từ chối sự xuất chính, ở nhà duylre.
Trang sách 63Có nhiều ông đồ, tuy không đỗ đạt gì và đã từng lảo-đảo trường.
ốc, nhưng vi tiếng hay chữ đồn vang trong xứ nên thể theo lời ép buộc của dân làng, mở lớp dạy học, những ông đồ này thường đông học trò lắm, và những người ở các nơi xa thuờng gửi con tới theo học.
Ông đồ rất được lọc sinh quỷ mến, và cha mẹ học sinh quý trọng.
Theo lễ nghi xira, quán: sự rồi mới đến phụ, ông thày dạy học còn hơn cha sinh dưỡng.
Tục ngữ có câu : « Muốn con hay chữ thì yêu lấy thày ».
Cha mẹ học sinh thường rất kính nễ các ông đồ, vì học-vấn cũng như vì sự dạy dỗ con cái họ.
Việc học hành của con cái, cha mẹ tin cậy hoàn-toàn ở ông đồ, nhiều học trò chỉ theo học một ông đồ lừ lúc vỡ lòng cho đến khi đi thi, và cho đến khi thành đạt, qua các kỳ thi tuyền sinh khóa-sinh rồi đến thi hương thi bội.
Tình thầy trò thực khăng-khít như tình cha con, và sự thân mật này đem lại sự thâm-giao giữa ông đồ và phụ-huynh học-sinh trong một tình thân-ái mật-thiết.
Ông đồ cứ dạy học và đứa trẻ cứ đi học cho tới khi thành đạt.
Ở đây tôi chỉ nói về Ông Đồ vì có liên quan lrực tiếp tới quãng đời của đứa trẻ lừ sau thờikỳ trứng nước cho đến lúc trởng-thành.
Còn xin dình lại các mục về việc học cho một chương sau.
VIỆC HỌC HÀNH TRONG THỜI-KỲ PHÁP-THUỘC Việc bọc được tự do cho đến thời kỳ Pháp-thuộc. Trong những năm đầu, nền tảng cai-trị của người Pháp chưa ổn-định, họ còn không đề ý tới việc học của ta, nhưng chỉ sau ít lâu, họ nắm hết trong tay sự lổ. chức về giáo-dục.
Họ lập các trường công và cẩm không ai được dạy học t nếu không được phép của chinh quyền. Tuy vậy, các lớp học của các ông đồ vẫn tiếp tục mở, cho đến khi khoa-cử của ta bị bãi bỏ đề thay thế
Trang sách 64bằng khoa-cử mới của Pháp. Sau thời kỳ này, trong mỗi làng vẫn còn iôi ba lớp học của một vài ông đồ, nhưng chỉ có những học trò nhỏ.
Học chữ Hán bồi đó chỉ cốt biết đọc biết viết, muốn tiến thân phải đỏi sang học chữ quốc-ngữ và chữ Pháp.
Tuy cấm, song vẫn không ráo riết lắm, nên các ông đờ vẫn dạy lọc cho đến khi không còn học trò nữa. Lúc đó, thay thế các ông đồ, lại các làng có các cậu giáo, nghĩa là những người đã theo Tây học, nhưng không đỗ đạt thành danh, bằng Cơ thủy cũng không có, đành về nhà gõ đầu vài đứa trẻ ở xóm để sinh sống. Học trò theo học các cậu giáo thời đó cũng như theo học các ông đồ về trước, và có nhiều gia đình cũng rước cậu giáo về dạy con cái cũng như trước vẫn rước ông đồ.
Các cậu giáo dạy học, có người không lấy liền, tùy tâm bỗ mẹ học sinh, cũng có người lấy của mỗi em mỗi tháng một số liền nhỏ, năm ba hào hoặc đồng bạc !
Các cha mẹ nuôi con, khi con năm bảy tuổi, ở nhà thì nghịch ngợm, gửi chúng tới cậu giáo, chúng học được chữ nào hay chữ ấy.
Vẫn theo nếp cũ, các cậu giáo dạy học vẫn cầm chiếc roi mây đề du: nẹt học trò.
Về thời kỳ này, số trẻ con gái được đi học đã nhiều hơn trước, và lại nhiều nơi đã có những trường nữ học dành riêng cho nữ sinh.
Sau một thời gian học các cậu giáo, các trẻ em lần lượt xin vào lường nhà nước đề liếp tục sự học cho đến lúc trưởng thành.
VIỆC HỌC-HÀNH NGÀY NAY Nến ngày nay sự học bành đã tiến nhiều, các trẻ dù trai gái đều phải đi học.
ở nhà đến năm sáu tuổi là các em được bố mẹ gửi tới các trường rink hoặc trường tư. lú nhiều em, gia-đình khá giả hơn, được gởi tới các lớp mẫu giáo
Trang sách 65từ khi ba bốn tuổi, việc dạy dỗ các em trong các lớp mẫu giảo chỉ là việc giáo-nhi. Ở các lớp mẫu giáo các em vừa chơi vừa học.
Các em thực sự phải học hành kề từ khi bắt đầu học lớp tiêu học.
Dù xưa hay nay, trong thời kỳ từ còn nhỏ sự săn sóc tới các em bao giờ cũng rất quan-trọng.
Tập giữ tính thành, con người ta hay đở nhiều khi bắt đầu ngay từ lúc bé. Bởi vậy vấn đề giáo-nhi cũng như việc học bành của các em sau thời kỳ này không bao giờ bị xem thường.