KHI ĐÃ CHẾTPhần 18 · trang 298–311

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 298KHI ĐÃ CHẾT TÌM SINH KHÍ Người chết được khiêng đặt xuống đất trên một chiếc chiếu trong giây lát với hi-vọng rằng sinh-khi ở dưới đất sẽ hồi sinh lại.

Theo Phan kế Bính thì việc đặt người chết xuống đất lấy nghĩa người ta bởi đất mà sinh ra, khi chết lại về đất.

Người chết nằm ở dưới dất một lát không bồi-sinh, người nhà phải khiêng đặt trở lại lên giường trước khi làm các lễ khác. Con cháu phải có miếng vài boặc miếng giấy đắp mặt cho người chết. Ý nghĩa là dẻ người chết khỏi thấy con cháu mà buồn.

CHIÊU-HÔ Chiêu hô, lức là hô to đề gọi người chết. Sau khi người chiết đã được khiêng lại từ dưới đất lèn trên giường, người con cầm cái áo của người chết, tay trái cầm cổ áo, lay phải cảm vạt lưng áo, gọi lên ba lần : ba hồn bảy vía cha đâu về với con hoặc mẹ thì: ba hồn chín via mẹ đâu về với con.

Gọi xong bước vào treo áo trên cũa.

Sở dĩ có việc chiêu-bù là người la mong rằng lời gọi của con cái sẽ khiến cha mẹ động lòng quay trở lại dương-trần.

Chiêu-hô rồi mà ngrời chết không sống lại, người nhà mới được khóc-lóc. Lúc đó mới kể như người bệnh đã thật chết.

CHIÊU-HỒN Chiêu-hồn tức là mời hồn người chết về đề hưởng sự cúng-bải lế lễ của con cháu.

Có hai cách chiêu bồn.

Cách thứ nhất dùng một làu lá chuối đóc hết lá. Một thày phù-

Trang sách 299thủy sẽ đọc chủ đề mời hồn người chết nhập vào đó. Một miếng vải trắng trên đó thày phù-phủy đã ghi bùa-chủ được gắn vào tàu lá chuối.

Bao giờ nhập-quan đem ra thờ.

Cách thứ bai là thắt hồn bạch Khi người chết sắp trút hơi thở cuối cùng, con cháu dùng một miếng lụa hoặc vải trắng dài 7 thước la lực 2 thước 80 ngày nay, đặt lên mặt để bồn vía người chết nhập vào đó.

Khi người chết đã tắt hơi rồi, người la đem miếng vài hoặc miếng lụa đó ra thắt nhang-nhác hình người với hai chân hai tay. Đỏ là hòn bạch, được đem ra thờ khi thề-xác đã nhập-quan.

LẬP TANG-CHỦ VÀ CHỦ PHỤ Cũng như mọi việc lế lễ, việc tang ma cũng phải có người đứng chủ-tang. Một khi người bệnh qua đời, gia-đình phải lập tang-chủ đề lo việc ma chay.

Thường người con cả được lập làm tang chủ, phải tham dự bết mọi cuộc lế lễ. Nếu người con cả đã chết thi cháu đích-tôn thừa trọng.

Còn chủ phụ là vợ người chết, nếu người này đã qua đời rồi thì dùng vợ người chủ tang.

Cha còn mà con có tang mẹ thi lập người cha làm chủ-tang cũng được.

LẬP NGƯỜI HỘ-LẾ Tang-lễ rất phiền-phức, phải có người chỉ bảo để theo đủng lễ. nghi và tránh mọi sựị khiếm khuyết. Do đỏ, tang xia thường nhờ một bạn thân hoặc người hàng xóm thông thạo lễ-nghi đứng làm vị hộ vỚi lễ. Vị này sẽ chỉ dẫn tang gia trong việc cử-hành tang-lễ đúng phong-tục. Mọi người trong nhà đều phải nghe theo người hộ-lễ chỉ bảo.

Ngoài ra tang-lễ cũng cần nhờ một người giữ bộ quyền sổ biên lễ phúng-viếng hoặc biên mọi sự chi-tiêu.

Trang sách 300LỄ MỘC-DỤC Lễ mộc dục lức là lễ tắm gội cho người chết.

Trong lễ này phải sẵn có : 1 con dao nhỏ 1 vuộng vải 1 sợi kiây 1 cái lược 1 cái thìa 1 ít đất lấy ở đít ông đồ rau 1 nồi nước ngũ vị và 1 nồi nước nóng khác.

Lúc tắm vây màn kín cho người chết.

Tang chủ khóc quỳ xuống, người giúp việc tắm gội cũng quỳ-xuống và khẩn - Nay x/n lắm sôi đề rửa hết bụi trần.

Khấn xong lễ phục xuống rồi đứng lên cho ngay. Việc lắm gội phải do chính con cái người chết : Cha con trai tắm, mẹ con gái tắm.

Lúc lắm lấy vuông vải đấp vào nước ngũ-vị lau mặt lau minh, sau đó lấy lược chải tóc, rồi lấy sợ giây vải buộc tóc lại. Kế đến lau hai chân tay, rồi dùng đao cắt nóng chân móng tay, người xưa nhất là các cu ông, thường đề mỏng tay dài, hơn nữa trong lúc ốm đau móng tay móng chân dài ra. Cắt xong gói lại, móng chân đề mé dưới chân móng tay để mẻ dưới tay.

Tất cả các đồ dùng trong lễ mộc dục kể cả nước nữa phải đem chôn đi.

Lễ mộc dục xong khiêng người chết lên giường.

LỄ PHẠN-HÀM Lấy một ít gạo nếp và ba đồng tiền mài cho sáng bỏ vào miệng người chết rồi rút chiếc đũa đã ngảng bàm lúc mới chết ra.

Trang sách 301Các cụ giải nghĩa rằng :

Nắm gạo đề người chết dùng thay bữa, còn ba đồng tiền sẽ dùng đề đi đò cùng là tiền giải-khát trong lúc đi đường ở cõi âm, Những nhà phú quý thường dùng 3 miếng vàng sống và chín bạt ngọc trai trong lễ phạo lâm.

Lễ phạn hàm phải được cử hành đúng thủ-lục sau :

Tang chủ vào khóc qùy, và người chấp sự cũng quy khấn xin làm lễ phụn-hàm.

Người chấp-sự xướng : so phạn hàm, lang-chủ lễ xuống, đứng dạy ngay. , rút ngắn, đoạn ngồi hên phải người chết, cát vải hoặc giấy phủ mặt. chiếc đũa ngáng hàm ra.

Người chấp sự lại xướng : so phạn-hàm lần thứ hai. Tang chủ lấy cái thìa súc il gạo với một đồng liền bỏ vào mồm bên phải.

Ngời chấp-sự xưởng : tát phạn hàm. Tang chủ lại súc íl gạo một đồng tiền bỏ vào mồm hên trái.

Ngưrời chấp-sự xướng : tam phạn hàm. Tang chủ súc nốt gạo và đồng tiền thứ ba bỏ giữa mồm.

Sau đó lang chủ bóp mồm người chết cho ngậm lại ngay-ngắn và lại phủ mặt như trước.

LỄ PHẠT MỘC Ta lin rằng trong chiếc áo quan, dù là cỗ hậu sự sắm trớc, hay đó quỷ-tinh lần khuất đề ám-ảnh là cỗ áo-quan mua ở hàng về, đều người chất, gieo tai-bọa cho tang gia. Bởi vậy trước khi làm lễ nhập. quan phải khủ-trừ bết lũ ma quỷ đó. Lễ phạt mộc tức là lễ chém vào áo quan ba nhát đề xua đuổi tà ma.

Người thày cúng cầm một nắm hương đang cháy, đọc chú, thư phù trên một con dao, rồi dùng dao này chém khẽ vào đầu, cuối và bên cạnh bên trong áo quan lất cả ba nhát. Vừa chém người này vừa niệm chú, đại ý câu chú là lống khứ các thần trùng, quỷ-tinh và mọi loài

Trang sách 302là ma không được phiền hà ngời chết và quấy nhiễu người sống bất rir ở tuổi nào, đi phương hướng nào. Chú có lúc niệm khễ, có lúc quát tháo đề thị uy. Người thày cúng cũng dùng những nén hương đề phù phép trong lòng áo quan.

Tục cho rằng với lễ phạt-mộc thần trùng và quỷ tinh sẽ rời khỏi in juan.

Các cụ nói lại rằng, ngoài việc đuổi thần trùng và quỷ-tinh, lễ N'hạt-mộc còn có mục-đích đuổi các mộc tinh vẫn ần-nấp trong cây gỗ lir khi ở trong rừng cho đến khi cây gỗ bị hạ rồi xẻ đóng làm áo quan, còn lần khuất trong áo quan.

Khi lễ Phạt-mộc kết thúc, người nhà tang chủ bém một nắm gạo muối ra đường đề tổng-tiễn bết mọi loại ma quý kề cả mộc-tinh.

LỄ NHẬP-QUAN nên Không nên đề người chết nằm lâu ở ngoài. Việc nhập quan liệu làm sớm.

Trước khi nhập-quan phải khâm-liệm. Nhà giàu dùng vóc nhiễu tơ lựá, nhà nghèo dùng vải trắng.

Có hai cách liệm : tiêu liệm và đại liệm.

Tiều liệm đùng một mảnh vải dọc, ba mảnh ngang.

Dại liệm dùng một mảnh vải dọc, năm mảnh ngang.

Theo tục ta, trong quan-tài thường đặt roột mảnh ván đục sao Bắc. vầu đề trừ tà ma.

Việc nhập-quan phải chọn giờ, tránh tuổi. Trong ngoài áo-quan đều rá lán bùa. Ngoài ra người ta thường bỏ theo vào áo-quan một cỗ tổ. lim cũ, một quyền lịch tàu, hoặc một quyền lịch ta có đóng dấu triều. dinh càng hay, hoặc có khi là một lậu lá gồi đề trấn áp ma quỷ.

Trước khi nhập-quan, trong áo-quan thường có rải sẵn một lượt lrà khô, bỏng gạo hoặc bất cứ thứ gì khác có thể hút được nước của người chết tiết ra.

Trang sách 303Người chết đã nhập quan, áo quan được gắn lại và khiêng đặt ở chính giữa nhà. Trong trường họp, người chết còn bố mẹ sống, thì áo quan sẽ đặt ở gian bên cạnh. Phải đặt đầu về hưởng Nam.

Trên nắp áo quan có bát cơm và quả trứng luộc đặt trên gọi là cơm bông.

Một que tre tước đầu thành như bông hoa cẩm vào bát cơm quả trứng.

Lỗ nhập quan cử hành như sau :

Các con cháu vào đứng trước người chết.

Người chấp sự xướng : lự-lập. Các con cháu đứng gần vào. Lại xướng: cử al, con cháu khóc lóe rồi quỳ xuống. Người chấp sự cũng quý theo và khẩn.

- Nay được giờ lành, tin rước nhập quan, cần cáo.

Sau đó các con cháu lễ theo điệu xướng của người chấp-sự rồi đứng ngay-ngắn sang hai bên, nam hên tả, nữ bên hữu. Những người giúp việc khiêng lhi-hải người chết đặt vào chính giữa áo-quan.

Nhập-quan rồi sẽ có lễ thành-phục, nhưng trước lễ này con cháu còn được phép lấy vợ lấy chồng gọi là cưới chạy lang.

Kề từ lúc người chết thở hơi cuối cùng cho đến trong khi quan- tài còn quần ở trong nhà, người nhà cần phải canh-chừng đề không mèn, chỏ, chuột được nhảy qua để tránh Quỷ- cho một sinh-vật nào, nhập-tràng.

Ta lin rằng một khi sinh-vật nhảy qua xác chết, nó sẽ mang theo quỷ đề nhập vào người chết, tức là quỷ nhập tràng. Người chết sẽ vùng dứng dậy. Lại phải cần có thày Pháp đề trử quỷ.

LỄ THÀNH PHỤC Lễ thành phục lức là lễ bắt. đầu chính-thức đám tang. Kê từ lúc có lễ thành-phục này con chảu mặc lang-phục.

Trang sách 304Lễ thành-phục gồm có :

- Thiết linh-sàng và linh-toa - Lập minh-linh.

- Mặc tang-phục.

Thiết linh-sàng và linh-lọa. - Linh-sàng là giường dành cho vong-bồn người chết. Linh-sàng đặt phía đông cửa, nếu nhà cửa rộng rãi đủ chỗ nếu chật chội đặt ở trước cửa. Linh-sàng cũng có quây màn đề gối như lúc sống.

Người chủ-tang sớm chiều rước ra rước vào. Trên linh-sàng có chiếc Ỉ, hồn bạch đặt trên ý này. Thay vì bồn bạch có thề dùng ảnh của người chết hoặc dùng giấy đề rõ lính danh dán vào.

Mé trước linh-sàng có đồ tế-khí thờ vong.

Ngoài ra phải có linh lọa trc là chiếc ghế đề cho vong ngồi.

Lập linh-sàng phải có cuộc lế, con cháu phải quý lễ ở trước và cũng phải có văn-tế.

Dới đây là một mẫu văn-tế thiết linh sàng, trích trong Thọ Mai gia-lễ :

Năm..... tháng ... ngày..... cô (hoặc al) lử...., vì nay đặt linh-sàng, kính dâng url trầu, nậm rưpu cáo vu cố phụ (hoặc mẫu).... chức tước gì... họ gì..... phủ quân (hoặc nhụ nhân), vị liền viết :

Than ôl / Thân phụ (hoặc mẫu) đi đâu, bò nơi nhà cửa, côy lặng gió lay, đau đớn nhẽ một phút hơi tàn, lên còn người mất, xót xa thay đôi đường chia rẽ !

Thế mới biết thay đồi cơ-trời, mênh-mông trần thế chút tình con tho cháu dại. chi thấy chưng phảng phất hòn mây, đền công bè-át nguồn-ân, sọl là thiết-linh-sàng một lí, lế cho phải phép luân theo thói lục đặt bày, mất cúng như còn, đau-đớn lấc lòng li tré / Lập minh-linh. - Minh-tinh làm bằng vải đỏ, dài 7 thước ta, trên viết chữ trắng, cán bằng cành tre dựng bên phía đông linh-sàng.

Trang sách 305Trên minh-tinh viết chức lước, hp lân thụy và sau cùng là năm chữ phủ quân chi linh-cữu cho người cha, còn nếu người chết là người mẹ thì năm chữ sau sẽ là : nhụ nhân chi linh-cũn.

Lúc viết minh linh phải tính số chữ theo bốn chữ Quỷ, khốc, linh. thính, và phải đề chữ cuối cùng dừng rơi vào hai chữ quỳ và chữ khốc.

Nếu rơi vào chữ quỷ c có tà-ma trùng quỷ, còn nếu rơi vào chữ khốc nghĩa là khóc c sẽ có thêm người chết.

Mặc lang phục. - Đây mới chính là lễ thành phục.

Các mũ áo đồ tang đặt trước ản thờ, đã có nến hương nghi-ngút, con cháu vào làm lễ rồi mặc lang-phục.

Cũng có tế lễ, và chủ-lang đứng chủ lế theo sự điền-khiến của người hộ-lễ đúng theo tập tục như sau :

Con cháu lúc đỏ đã tụlập trước án thở. Một người chấp sự xướng:

Tự-lập : Con cháu vào đứng trước bàn thò nghiêng về phía trước, tang-chủ đứng trên cùng, đằng sau lần lượt những người khác theo thứ- tự phải đề lang lâu hay chóng, lâu đứng trên, chóng đứng dưới ;

Cử-ai : Con cháu đều khóc ;

Quán lầy : Những người chấp-sự rửa tay trong một thau nước ;

Thuế cân : Lau tay ;

Nghệ hương án liền : Tang chủ bước lên trước án thờ ;

Phần hương • Một người chấp-sự đốt hương và cắm vào bình hương ;

Trâm lửu : Một người chấp-sự rót rượu ;

Quy hiến lửu: Quý dâng rượu lên án thỏ;

Al chỉ : Con cháu đều nin khóc ;

Giai quy : Tang chủ quỳ xuống linh-sàng Một người chấp-sự cầm văn- tế cũng quý bên phải tang chủ :

Độc chúc : Đọc văn lế ;

Phủ-phục : Tang-chủ, người độc chúc và con cháu quỳ lậy ;

Hương : Đứng lên ;

Trang sách 306Bình thân : Mọi người đửng ngay-ngắn ;

Phục-oị : Tang-chủ và người chấp sự lui về chỗ cũ ;

Điềm trà : Pha trà ;

Cử al : Con chảu lại khóc ;

Cúc-cung bút : Con cháu lạy hai lạy rõi ;

Hưng, bình thân : Mọi người đứng lên ;

Phần chúc : Ngoời chấp-sự lúe trước đọc ván lế, nay dất văn lễ trước án thò;

Lễ tất: Vải đễ kết thúc lễ thành-phục.

Lúc này con cháu bọ hàng xa gần đễu lới trước bin thờ lễ đỏ nhận tang-phục.

MỘT MẪU VÂN TẾ THANH-PHỤC Dưới đây là một mẫn văn lế thành phục trịch trong Thọ Mai Gia lễ.

Than ôi ! Cây Thung (mẹ là Huyên) surons phữ, rút Hồ (mẹ là Di) mâu che ! Làm sll độc địn hãi trời 2 Cha ai (hoặc mẹ ơi !). Hon một ngày không ở, đành rằng lử. sinh có mệnh, cha ol (hoặc mẹ vi). Kém một ngày không đi !

Dưới thềm hòe, khăn lượt đồi khăn sô, lũ cháu đàn con, chin khúc ruột tầm hối rối ;

Trưức linh-lọa, áo thâm thay áo trắng, kệu trời nạch đất, hai hàng ghọt lệ đầm-đìa.

Tang phục nau đà sẵn đã, kính bày thành phục lễ-nghi :

Nhớ đức cùlao, trước Inh lạa khóc thun kê lề ;

Chứng lòng lũ trẻ, tinh cla con (hoặc mẹ con), đau - đón biệt-ly.

Năm tháng Mẫu ván này cũng như các mẫu văn tế khác, chép ra đày với tinh. cách chỉ-dẫn, các tang gia có thể tự soạn lấy các văn tế, cốt sao cho hợp với từng lễ.

CHIÊU, TỊCH DIỆN Người xởi ccồ kh ng chồn ng tua thưởng tài na gày sai n có khi hơn nữa.

Trang sách 307sio 308 _ Trong khi sác còn quần treng nhà như vậy, ba ngày đầu sảng chiều các con phải vào quý khóc trinh - diện.

Mỗi lần vào nhir vậy thi óhô 1 khóc lên ba tiếng, bưng khăn lượt, vén màn lên, xếp khăn gối lại rồi người chấp sự quý khấn xin rước bương-hồn người chết ra linh-tọa.

Hồn bạch được mang ra đặt vào ỷ thở.

Buổi chiều lại làm lễ rước linh-bạch vào giường. Người coo quỳ lạy truớc án thờ, ôhô/ Khóc lên ba tiếng, rồi hồn bạch được rước vào trong giường. Màn lại buông xuống, chán gối tung ra như lúc sống.

Trong lúc rước hồn bạch ra linh-tọa hoặc vào linh-sàng đều có nghi-lễ, tương lự như lễ thành phục, và cũng có văn-lế riêng.

Năm..... tháng..... ngày..... cô tử Đặng mỗ (mẹ oi lử) vì lễ chiêu diện (hoặc l/ch- diện) cần sửa giàu rượu (hoặc cỗ thì viết là cụ soạn) mọi vật lòng thành dâng lên cố-phụ (hoặc cố-mẫu) phủ-quân (hoặc nhụ-nhân) Iinh-tọa rằng:

Than ôi 1 Thân phụ (hoặc mẫu) đi đâu, cõi trần vắng mặt ;

Sớm tốt thăm nom, lìm đâu thấy giọng cười tiếng nói.

Ngày đêm kêu khóc, còn đâu là vật lạ miếng ngon !

Cha ôt ! (hoặc mẹ ôi). Nay đã sáng rồi (hoặc đã tốt rồi) là luần chiêu diện (hoặc (jch-diện) gọi là chay nhạt bữa thường, chứng cho chút linh lũ trẻ !

PHƯỜNG KÈN TRỐNG Ta có cảu : Sống dàn đàn, chết kèn trống.

Câu nói này chứng-tỏ trong đám tang phải có kèn trống. Vả chăng nhạc cũng rất cần cho lễ nghi chính nhạc điều khiền lễ-nghi một phần nào.

Bởi vậy trong mọi đảm tang ông già bà cả đều có mượn phường kèn trống.

Kèn trống nổi lên trong lúc tế-lễ cùng với phường bát-âm nổi điệu nam thương hoặc nam-ai, đem sự bi-thảm cho đám tang và điều-hòa mọi động-tác của tang chủ cũng như của người chấp-sự

Trang sách 308Mỗi khi có người tới phúng viếng, con cháu khóc lên là có điệu kèn trống nổi theo, như muốn cho hương bồn người chết biết có bạn. bè thân thuộc tới viếng-lễ.

Và nhờ có kèn trống báo hiệu nên tang-chủ hoặc con cháu khác của người chết nếu đang bị mắc bận mới biết có khách viếng đề ra đáp lế.

Thường phường kèn trống ngồi ở một nơi gần áo quan đề mỗi khi có khách tới viếng là thấy ngay.

PHÚNG VIỄNG Đám tang nào cũng có người tới phúng viếng. Đó là những bạn-bẻ thân thuộc của chỉnh người chết hoặc của con cháu sau khi được hung-tín, tới chia buồn cùng lang chủ và phúng viếng người qua đời.

Lễ phúng-viếng thường là tràu cau trà rượu, nhưng cũng có người viếng những đôi câu đối, những bức trướng trong nhắc lại những đức hay tính tốt của người chết.

Những bức tường và câu đối này được treo ngay ở chung quanh trướng nơi đặt linh-sàng đề hương-bồn người khuất có thể nhận thấy được, và cũng đề những khách lới viếng có thể thưởng thức được những bức trướng và những đôi câu đối ván-chương.

Cùng treo với những đôi câu đối này đã có những đôi trưởng của con cháu khóe ông hà cha mẹ, viết bằng lơ xanh hoặc chữ đen trên vải tráng. Những đôi câu đối và trưởng của con cháu này, lang-gia nhờ một lay ván lự nghĩ và viết hộ, tang-gia thường tặng nhuận-bút bằng cau chè. Ngày xưa, mỗi con trai, con gái đều có câu đối khóc cha, vợ có câu đối khóc chồng và cả câu đối anh em khỏc lẫn nhau nữa.

Trở lại việc phúng viếng, ở thùn quê, người trong thôn xã có khi phúng một món tiền đê trực tiếp giúp đỡ lang-gia trong lúe cần-thiết.

Nọi món tiền hoặc đồ-lễ phúng viếng của ai đều được gbi rõ ràng vào một quyền sổ, đề sau này tang-chủ theo đó mà cám ơn, hoặc khi một người khác có việc thì phúng-viếng giúp-đỡ lại.

Trang sách 309Các con trai trong tang phục (Chống gậy đị trước xe lang của mẹ đúng nghi lễ cha đưa mẹ đón).

Trang sách 310Khách đến phúng viếng lễ trước linh-sàng hai lễ rưỡi nếu người •hết còn quàn tại nhà. Sau khi đã chôn cất rồi, khách đến phúng-viếng muộn, sẽ lễ bốn lễ rưõi trước bàn thờ.

Trong khi khách lễ trước linh-sầng, tang-chủ hoặc các con cháu khác của người chết phải đứng bên án thờ đáp lễ.

Lễ xong người chết, khách cũng vài lại người đừng đáp lễ mình một vải.

Trong lúc khách lễ như vậy, phải có kèn trống và con cháu phải k:hóc lóc thảm-thiết.

Trong nhiều đám lang, người chết không có con cháu khóc, phải mướn người khóc thuê.

Những năm gần đày tại các đám-lang, các khách thành thị nhiều người dùng hoa tươi hoặc hoa cườm đễ viếng.

BẢO TANG Thực ra lệ báo-lang của ta không có, nhưng mỗi khi có người chết, người thân thuộc biết lin nói chuyện cùng người khác, thế là mặc- nhiên có sự bảo tang mà không do chính lang-chủ loan-báo.

Tang chủ chỉ cần trình với hội-đồng bương chức đề xin phép động- thô đào huyệt, nhưng việc trình thưởng thực-hiện có khi song song với •áe lễ nghi cứ-hành, có khi trước khi cất đám, sau khi buyệt đã đào rồi.

ần ây, tbeo lệ möi, khi co nøröi chét, nhütns Bla-dlinh khá-giå hurởng có giấy cáo-phó đế báo tang, co khi cáo-phó được táng trẻt bio.

Trang sách 311THỔI KÈN GIẢI Trong khi người chết còn quàn trong nhà trước ngày đưa đảm con cháu thường thuê phường kèn trống và bát âm cử cho mỗi người một vài câu tang-nhạc, nhất là kèn đề khóc ông bà cha mẹ. Những câu khóc riêng đều có tiền thưởng, bởi vậy lục thởi kèn này gọi là thời kèn giải.