KHAO-VỌNGPhần 15 · trang 264–276
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 264KHAO-VỌNG Khao có nghĩa là thết tiệc đãi khách trong một dịp vui mừng, còn vọng nghĩa là nộp tiền hay lễ vật theo hương-lệ đề được hưởng ngôi thứ trong làng, Hai chữ khaovọng ghép lại có nghĩa nhân một dịp vui-mừng làm tiệc thất-đãi làng nớc và nộp lệ cho làng xã đề được làng xã công-nhận sự vui-mừng theo lục-lệ.
Trong một đời người có nhiều dịp vui-mừng, khi thi-đõ, khi được dân làng cử vào một chân lương chức, khi được ân thưởng phẩm hàm, khi do niên kỷ được xếp vào ngôi thứ trong làng và những khi đến một tuổi cao được mọi người trọng vọng : khao lục tuần là án mừng khi được sáu mươi luổi, khao thất tuần thượng thọ là ăn mừng khi được hầy mươi tuổi, khao bát-tuần, cửu tuần thượng thọ vân, vân...
Theo Phan-kế-Binh trong Việt-Nam Phong Tục thì « Người thi đỗ hoặc văn hoặc vó, người được bỏ làm quan, người được phẩm hàm, người làm Chánh phó lổng, người lên họng bó lão và người ra làm lý-lịch đều phải khao-vọng ».
Ý-nghĩa của khao-vọng là đem sự vui-mừng của minh chia sẻ củng mọi người. Bởi vậy nên mới có củ bàn đãi khách và nhiều khi có cả những cuộc vui đễ họ hàng bà con cùng giải-trí.
TỤC-LỆ KHAO-VỌNG Người có việc vui-mừng, muốn ăn khao, phải sửa cơi tràu trình với liên, thú-chỉ, hoặc với hương chức trong làng để định ngày tổ. chức lễ khao. Dược sự đồng-ý của tiên, thứ-chỉ và hương chức rồi, đương sự phải sửa lễ để cáo với Thành-hoàng ngày ăn khao để xin thần. minh chứng-giám.
Ăn-khao có cỗ-bàn linh-đinh mừi trong họ ngoài làng, mời bạn-bè
Trang sách 265xa gần. Ngoài ra lại có lễ ra đình đề cúng thần, thường là trâu bò lợn rượu, xôi và tràu cau. Những lễ vật này sau khi cúng thần rồi, một phần dùng làm pbần biếu hương lý kỳ-mục trong xã, một phần dùng làm cỗ.
Lễ tất-nhiên trong khi làm cỗ mời bà con dân làng, người án khao cũng phải có lễ cáo với tổ-tiên, cũng như cúng cả Thở-công bản- địa nữa.
Có nhiều nơi, lục khao rất nặng phải có bánh dầy bánh chưng, cùng một đôi bánh khác như bánh ú, gánh tràng ging v.v... làm đồ biếu.
Ngoài ra đổi với các hương lý kỷ-mục lại thường có mâm cỗ riêng, và có khi những người này đòi gia chủ phải cung phụng thuốc sái đề hút ban đêm và yêu cầu gia chủ phải mời ả-đào tới hát để họ mua vui.
Những điều ký-mục đòi hỏi, thực ra chính các gia-chủ cũng sẵn. sàng muốn có đề việc vui-mừng được thêm vui và đề chứng lỏ sự rộng- rãi của mình. Trong những tiệc khao thường có những bàn tổ-tôm tài- bàn đề khách khứa mua vui, có khi thâu đêm suối sáng. Gia-chủ phải cắt người hầu hạ, nửa đêm thường bày thêm liệc ăn uống riêng cho các vị này.
Cũng có người muốn chu tiệc khao được thật linh-đinh thường mời các ban hát chèo hát bội lới diễn để dân làng cùng giải-tri.
Lễ ăn khao có khi kéo dài tới ba bốn hôm với đủ mọi trò vui, gia- chủ không nề-bà gì tốn kém.
Cũng có người không được sung lúc, nhưng may-mẫn được chút danh-vọng cũng phải cố khao theo lệ làng, nhưng sự ăn uống vui chơi giảm cho lới mức tối thiểu.
Ta có câu : Vô vọng bất thành, nghĩa là chưa đủ lệ làng thi làng chưa công nhận sự nên danh của đương-nhân.
Nếu có người nào may được danh vọng, nhưng lúng thiếu quá, không ăn khao, danh-vọng kia cũng coi như không có. Phải có khao- vọng, dân làng mới công nhận sự nên danh của một người Chính vì vậy nên nhiều người dù tủng-thiếu đến đâu cũng phải cố lo cho đủ lệ- làng đề khỏi bị thôn xóm chè cười, để khỏi thua kém ai.
Trang sách 266KHAO THI ĐỖ Người thi đỗ vinh-quy bái-tổ được dân làng đón rước, lễ tất-nhiên phải ăn mừng sự thi đỗ. Việc án mừng này có khi chỉ thu hẹp trong phạm vi xã mình, nhưng trong những trường hợp đỗ Đại-khoa, lễ án mừng có mời đến hàng phủ bàng huyện.
Việc ăn mừng thi đỗ đã có nói rö trong mục Thi-cử, ở dây xin khỏi nhắc lại.
KHAO NHẬN CHỨC-VIỆC Những Chánh Phó-tổng, Chánh Phó hương-lý cùng những chức-sắc khác trong làng, sau khi được dân lầu ra và được quan trên chấp thuận, cấp cho nghị-định văn bằng đều làm tiệc khao hàng xã hoặc hàng tổng trước khi nhận việc. Cũng có người nhận việc trước rồi mới khao sau.
Các đương-sự, khi mở liệc khao cũng giở lịch xem ngày, chọn ngày tốt để cho công việc mai sau không gặp sự gi trắc-trở.
Trong tiệc khao có giết trâu bò, làm cổ bàn linh-đình mởi bạn-bè bà con làng nước ăn uống.
Đương sự trước hết phải sửa lễ nói với ban ký-mục trong làng để xin mời tới dự lễ trong ngày khao Ban ký-mục gồm có liên, thứ-chỉ và các vị chức-sắc cũ trong làng.
Được ban kỷ-mục chấp nhận rồi, đương sự lại phải có cơi tràu tới mời ban tưr-văn trong làng, ban tư-ván gồm các quan viên nguyên chân vàn học iã có chic-sắc, hoặc các hương chức cũ đã được thưởng phẩm hàm hoặc những người đã thi-đỗ. Ban lư-văn sẽ dự-lễ khao và sẽ có các văn lế thần hoặc tô tiên người đưng khao.
Sau khi được lời của ban ký-mực và ban tư văn rồi, đương sự mới làm lễ cáo gia-tiên.
Trong ngày khao đương-sự phủi có lễ vật ra đinh đề cúng Thành- hoàng. Có khi có cuộc lế lễ rất long-trọng, việc tố-lễ này do ban tư-văn phu-trách.
Trang sách 267Nếu đương-sự có làm lễ tế gia-tiên, ban tư-văn cũng sẽ sẵn-sàng tế giúp. Văn tế Thành hoàng cũng như văn tế-gia tiên đều do ban tư-văn soạn thảo.
Mỗi lần tế xong, tại đinh cũng như tại nhà, đương-sự đều phải có phần biếu riêng ban tư-văn, hay ít ra cũng phải có một mâm cỗ dành riêng mời các cụ trong ban này.
Nhiều khi trong lễ khao này có cuộc rước văn bằng.
Văn-bằng do quan trên gửi tới còn đề tại nhà làng, hoặc lại một nhà vị chức sắc nào. Ngày khao, đương sự mới đưa kiệu, nhờ họ-hàng cùng các con em tới rước văn bắng về trình với lổ-tiên trong tiệc khao.
Bạn-bè, làng nước được mời tới dự đám khao đều có lễ mừng. Các tay văo tự thì mừng đại-tự, mừng câu đối, còn bà con khác mừng tràu rượu cau hoặc có khi mừng tiền.
Lễ khao rất tốn-kém nếu muốn mời được đông đủ mọi hạng khách trong làng trong tổng. Chính vì sự tốn kém này mà nhiều người mà sau khi nhận lĩnh một chức vụ trong làng, cửa nhà đã sa-sút, ruộng nương phải cầm bán. Và đề lấy lại số tiền đã vung ra, những người này phải xoay vuo dân xầ và gây nên nạn cường-hào ác-bá, Có người không đủ sức khao, khi nhận một chức vụ của hàng xã hàng tổng, chỉ lo cho dúng lệ làng, lệ tổng và tiệp-diệp mời ăn chiếu-lệ, bãi bỏ bết mọi sự tế-lễ, rước-sách. Mặc dầu tiệp-diệp cũng vẫn có sự tốn-kém, nhưng khòng dến nỗi phải bán cửa bán nhà, cầm ruộng cầm trâu như bao người khác.
KHAO PHẨM-HÀM Các Chánh, phó-tổng, hương lý sau khi làm việc một thời gian nếu mẫn-cán có công thường được tưởng thưởng. 'Triều định cho tưởng lục hoặc ban cho phẩm-hàm.
Sự ân thưởng này, có người khi mãn chức việc mới nhận được, có người được tưởng-thưởng ngay trong khi lại chức.
Trang sách 268Khi được tưởng thưởng rồi, các đương-sự phải khao làng xã. Việc khao cũng giống như khi nhận chức việc, nếu có khác thì chỉ khác ở chỗ rước sắc của triều đình thay vi rước văn bằng khi nhận việc.
Sắc này đề tại huyện, hoặc lại văn phòng các viện chức hàng tổng.
Việc rước sắc long-trọng hơn rước văn-bẳng.
Các đương sự được mượn cò kiệu của làng sau khi đã làm lễ khấn xin phép thần linh và được các kỳ-mục ưng-thuận.
Trong đám khao cũng lại có lế lễ, và cũng nhi khi nhận việc, các người khá-giả có thể có những trò vui cho dân lùng, họ-hàng hoặc có những thú tiêu-khiển riêng cho các cụ trong ban kỳ - mục, các quan- viên trong ban tư-văn như đã nói trên.
Những người được ân thưởng phẩm bàm sau lễ khao này được dân làng gọi lên theo phầm tước mới : ông Bá nếu được thưởng Bá-hộ, ông Cửu nếu được thưởng Cửa-phẩm, ông Hàn nếu được được Hàn- lâm v.V...
Nếu còn đang tại chức, dân làng sẽ gọi thêm cả chức vụ: ông Lý Bả, ông Tổng Cửu v.v..
Danh-giá hơn nhau chỉ một tiếng gọi ! Và có khao-vọng mới được dự chân vào ban lư văn trong làng, có ngôi thứ mỗi khi dự việc làng.
KHAO QUAN VIÊN Có những người thi đậu tuyền sinh khóa-sinh, nhưng theo lệ làng đậu những bằng nhỏ này không được xung ngay vào ban tư-văn, phải chờ tới một tuổi nào thường thường là năm mươi tuổi, mới được dự vào hàng quan-viên trong ban đó. Nói vậy, không phải cứ đúng tuổi của lệ làng là đã thành một quan viên trong làng. Cần phải có khao, to thì mời cả hàng xã, nhược bằng không đủ sức thì cũng phải mời đủ ban tư-vản trong làng, sau đó mởi được kề là quan viên, và lừ đó sẽ được hưởng mọi quyền lợi của các vị quan-viên.
Trang sách 269KHAO NHIỀU, KHAO XÃ Tại phần nhiều các địa phương, người dân bạch-đinh phải chịu • một một thứ phu-phen lạp-lịch, nay đi đắp đê, mai đi đắp đường, nay ông lân khoa vinh-quy phòi đi khiêng kiệu, mai đón quan sở tại phải đi cầm cở.
Muốn tránh những công việc trên phải là người cỏ vănhọc hoặc chức sắc hoặc trong ban ký mục, hoặc đến tuổi được miễn. Muốn là người có văn học phải có đỗ-đạt, hoặc đã di học ít nhất trải qua mấy kỳ thi, muốn là chức-sắc phải gánh vác việc dân việc xã, và muốn có chân trong han kỳ-mục phải có khan.
Tại nhiều nơi dân làng có dành những chân nhiêu chân xã cho những người cỏ tiền bỏ ra mua, tiền này xung vào quỹ làng đề làm việc công-ích.
Những người đã mua nhiêu mua xã rồi cũng được miễn phu-phen tạp-dịch, nhưng cũng phải có khao. Lệ khao này không linh-đinh như các lệ khao nhận việc, khao phản hàm hoặc khao quan-viên, nhưng cũng phải có cỗ bàn mời các vị chức-sắc, kỳ-mục, quan viên trong làng.
T.ẽ tất-nhiên, đã có khao thì phải có lế cáo gia-tiên cũng như phải sửa lễ cáo Thành hoàng bản-xã.
KHAO TRỪM, KHAO TRƯỜNG XÓM Tại nhiều địa phương dân chúng tổ chức thành từng xóm, có trưởng xóm riêng, hoặc thành từng chòm từng khóm mà người đứng đầu là các ông trìm.
Những chức - vị trởng xóm hoặc ông trùm không phải là những chúc vị chính thức đối với hệ thống cai-trị, và cũng không có ghi trong hương-ước, chỉ là những chức vị riêng của xóm, của chòm của khóm.
Những chức vị này thường do dân trong xóm, trong chòm, trong khóm tự cử ra để dại diện cho xóm, chòm, khóm trong mọi công việc glao-thiệp với dân làng (1). (1) Sẽ nói rố hơn trong lập Glao-tế Xâ-Hột.
Trang sách 270Các đương sự khi được dân chúng cử vào chức vị này đều coi là một vinh-dự, và cũng kế như là đã có chút công danh với dân xã, và cũng do đó được miễn hết phu-phen tạp-dịch.
Một khi đã có công danh, phải có khan Các ông khao chức trưởng. xóm, chức trùm của mình.
Lệ khao thu nhỏ hơn các lệ khan khác, chỉ mời bà con dân hàng Xóm, hằng chòm. Ngoài ra đối vơi dân lòng cũng có mâm cổ riêng đề mời các quan-viên và hội đồng kị mục.
Bà con tới đự tiệc khao cũng có đồ mừng : câu đối, đại tựị, chè cau rượu bảnh v.v...
Chức vị tuy nhỏ, nhưng cũng là đàn anh của một xóm một chòm, và nhiều vị hương chức muốn ứng cử những chức vụ trong dân xã thường bắt dầu bằng những chức vị trong chòm xóm.
KHAO THƯỢNG-THỌ Ba hạnh phúc cố hữu của la là Phúc, Lộc, Thọ.
Phúc là công danh chức tước, lộc là củ con cháu đông-đảo, và thọ là tuổi già.
Có công danh, sinh con cái là những dịp đề người ta ăn khoo, ăn mừng thì khi được bưởng tuởi già người la lại càng cần ăn khao đề tạ ơn Trời Đất Tiên tổ đã phù-bộ cho được sống lâu.
Sống lâu cũng là điều hạnh phúc quý báu. Dân ta trong những dịp Tết đầu năm thường chúc nhau mạnh khỏe sống lâu, và trong đảm cưới người ta thường chúc cô đâu chủ rể bách niên giai-lão.
Đôi khi có người phàn-nàn đa thọ đa nhục, nhưng đó chỉ là những người sống trong hoàn-cảnh bệnh hoạn hoặc thiến tốn, còn phần đông dân Việt-Nam ta, thọ vẫn là điều mong-ước của nhiều người.
Kính lão đắc thọ, kính già, già đề tuổi cho. Vì mong được thọ nên kính- trọng người già đề được sống bằng luổi các người.
Trang sách 271Sự kính trọng các người tuổi tác thường biểu-lộ cả trong những cuộc tế-lễ, cưới-xin và hội-hè.
Trong những đám cưới, bao giờ cũng có cụ gìà cầm hương đi đầu, với ý nghĩa mnong sau này cô dầu chú rề cũng được sống tới tuổi già đó.
Trong các cuộc hội-hè lế lễ, các chiếu trên tại chốn đinh trung thường dành cho các vị can niên nhất làng.
Ta có câu : Triền dinh thượng-lước lương-đảng thưỏng-sỉ, nghĩa là địa-vị ở triều đình do chức trờc con chỗ ngồi ở dân xã do tuổi tác.
Tuổi già được trọng như vậy, nên ta có tục ăn khao thượng thọ nghĩa là ăn mừng khi sống lới một tuởi nào.
Tục-lệ thay đổi từng nơi, có nơi ăn khao khi được 50 luổi, rồi 60 tuổi, 70 tuổi v.v... Cũng có nơi, 60 tuổi mới bắt đầu ăn khao gọi là khao lục-tuần, rồi 70 tuổi, 80 tuổi.. lọi khan.
Làng Thị-Cầu, buyện Vũ-Giàng, lỉnh Bắc Ninh, có lục ản khao khi 55 tuổi, gọi là lên sỉ, tức là lên cái tuởi đã có chiếu ngồi khi ra chốn dinh-trung.
LỄ KHAO THƯỢNG-THỌ Đến tuổi khao, người ta thường lo khao cho đủ lệ làng, những người nghèo không lo được cỗ bàn linh-đinh thì cũng cố lo nộp đủ lệ làng đề được dự hàng nơi đinh-trung, - đỏ cũng là một điều bất-đắc-dĩ.
Ai cũng muốn khao to lễ lớn để đẹp mày, đẹp mặt với dân xã.
Thường thưởng lễ khao lổ-chức trong dịp ba tháng xuân đầu năm.
Ông Phan kế-Bính trong « Việt-Nam phong-tục • có viết về cách thác ăn mừng. ra đình " Hôm ăn mừng, trước hết làm lẻ gà xôi, hoặc lam-sinh, hoặc lợn bò đem lễ thần, gọi là bái lạ thần-hưu, nghĩa là lạ ơn thần thánh đã phù-hệ cho cha mẹ được sống lâu ».
Qua mấy dòng trên la thấy rằng, chính con cái cụ ăn thượng-thọ phải lo sửa lễ cho cha mẹ.
Trang sách 272Trong lễ thượng-thọ đồng thời với đồ lễ mang ra đình, con cái cũng làm lễ cáo gia-tiên, và trong bản văn khấn cáo này phải tỏ sự biết ơn gia-tiên đã phù-bộ cho cha mẹ được trường thọ.
Lễ Thượng thọ là lễ ăn mừng của các cụ già, song chính con cái cũng phải mừng, vì mừng được cha mẹ sống lâu đề cho các con được phụng-dưỡng.
Sau khi đã cáo jết gia-tiên và củng lễ tại đinh rồi, con cháu phải lễ mừng cha mẹ.
Lúc này cha mẹ ăn mặc lịch-sự ngồi trên sập đặt chính giữa nhà đề con cháu lễ bải. Sập này có trải chiếu, gọi là tho-rịch. Con cháu sẽ dưng rượu gọi là hiến tửu, và sau đỏ dựng quả đào, gọi là bàn-đào chúc thọ, theo tích bà Tây Vương-mẫu ngày xưra biến vua Hán Vũ-đế mấy quả đào tiên nói rằng đào này ăn vào sẽ sống lâu.
Dưng rượu, dưng đào rồi, con cháu lễ bái trước mặt hai cụ, mỗi người lạy mừng hai lạy rưỡi.
Rồi mâm liệc dưng lên để hai cụ sơi, Trong lúc con cháu lễ mừng có khách khứa chứng-kiến đề nhận rõ hạnh-phúc của hai cụ và sự hiếu-thảo của con cháu.
Lại có đốt pháo, và khách-khứa, nhất là họ-hàng cũng có lời chúc- mừng.
Hai bên nhà có treo những câu đối, những bức đại tự đề mừng hai cụ, và có khi có cả những bài thơ mừng thọ.
Có nhiều nhà cho mời ca-nhi lới đề ngâm những bài thơ, những câu-đối.
Có khi chính cụ ông là một tay văn-tự, cũng tự soạn những bài thơ hoặc ca-trù đề cho ca nhi bát theo tiếng sênh, tiếng phách.
Bữa tiệc khao rất linh-đinh, luôn luôn có pháo nổ,và các bạn-bè nhiều người ngay trong bữa tiệc đã soạn những bài hát, bài thơ để mừng các đương sự.
Buởi tối có bát chèo khi có hát tuồng đề con cháu và dân làng mua vui.
Trang sách 273Theo lục-lệ, thường chỉ các cụ ông ăn mừng thượng-thọ, còn các cụ bà chỉ mừng theo sự mừng của chồng, nhưng trong những trường-hợp các cụ ông đã chết trước, khi lới tuổi thượng thọ của các cụ bà, con cháu cũng vẫn làm lễ mừng.
ĂN SINH-NHẬT Ăn sinh-nhật ta bắt chước theo người Trung-Hoa, nhưng thường chỉ khi nào tới một tuổi đã hơi cao, có con cái đề-buề, người Việt mình ngày xưa mới ăn sinh-nhật.
Ăn sinh-nhật tức là mừng ngày sinh của mình và qua sự mừng này là sự mừng mình đã được Trời Phật ban cho sự sống lâu.
Ngày sinh-nhật con cái làm lễ cha mẹ sau khi đã cáo gia-tiên rồi cũng làm cỗ bàn khoản-đãi khách khứa như khao mừng lễ thọ vậy.
Mừng sinh-nhật của cha inẹ cũng như mừng thọ, chính là cách con cái tỏ lòng kính-yêu cha mẹ, thật có ý-nghĩa.
Ngày nay, tại các đô-thị, những nhà giàu có thường ăn sinh-nhật không những riêng của mình mà còn của cả các cou nữa. Ăn sinh nhật đề kỷ-niệm ngày sinh, đề có dịp cha mẹ con cái lụ-họp cũng là điều hay.
YẾN LÃO Như trên đã nói, tuổi già rất được trọng vọng tại nước ta.
VI kính-trọng tuổi già nên tại nhiều làng, trong dịp đầu năm, cỏ tô chức một bữa tiệc riêng để mời các cụ, cả cụ ông lẫn cụ bà, tuổi từ lục tuần trở lên tới dự. Bữa tiệc này gọi là Yến-lão, nghĩa là bữa yến đề thết các cụ già.
Ngày Yến-lão được ấn định trước. Tới ngày đó, một số các dân- đinh trong làng, theo sự lần lượt hàng năm, phải mang bánh trái đồ lễ tới định trước là đề cúng đức Thành-hoàng, sau là đề các cụ dùng.
Trang sách 274Các cụ, dân làng gọi tôn là lão-ông và lão-bà được trịnh trọng rước tới đình. Đám rước này gọi là rước lão. Các lão-ông và lão-bà lụ-tập tại một nơi đề dân làng mang âm-nhạc cờ quạt tới rước. Đám rước sẽ đi suốt làng đề các cụ nhận sự chào mừng của dân xã. Trong lúc rước, các cụ đi theo thứ-tự tuổi-tác, các cụ nhiều tuổi đi lên trên. Các cụ đều án mặc quần áo màu đỏ rực tượng-trưng cho sự vui-mừng và ngồi trên cáng hoặc trên võng có dân đinh khiêng và có con cháu đi theo.
Có nhiều nơi các cụ tới họp tại đinh làng, từ đó dân làng sẽ rước các cụ đi một vòng quanh xã, rồi lại trở về đinh.
Về tới đình, các cụ ngồi dự yến cứ bốn người một mâm.
Trong bữa yến có ca-nhạc, và ca-nhi ngâm lên nhiều bài thơ hoặc ca trù chúc mừng các cụ. Có đốt pháo tưng-bừng. yến dự xong, các cụ lại có phần mang về. Thường theo tục-lệ thì mâm yến của các cụ thật là thừa thãi, các cụ chỉ ăn một phần, còn lại các cụ mang về chia cho con cháu đê cùng hưởng lộc làng KHAO ĐI LÀM QUAN Đã nói đến khao vọng, không lẽ không nói đến lễ khao của những người thi đỗ được bổ đi làm quan.
Đi làm quan là một vinh-dự lớn, và đây là một trong ba điều hạnh phúc chính của dân ta.
Được đi làm quan, trước khi đi nhậm chức, các đương-sự đều có làm lễ khao, lễ này tuy không long-trọng bằng lễ ăn mừng vinh-quy, nhưng cũng rất linh-đình đáng kề.
Thề thức khao cũng cáo gia-tiên, lễ thần-linh tại đinh, mời họ-hàng, làng nước như khi một chức việc trong làng khao trước khi lĩnh chức-vụ.
Giàu nghèo gì, trước khi đi làm quan ai cũng cố khao dân làng, không có tiền thì đi vay, không khao to thì khao nhỏ.
Trang sách 275Chính nhờ bữa khao này, mà ngày xưa vị quan lên đường nhậm- chức được dân làng tiễn-đưa với cờ kiệu thật trọng-thề.
SẮC VUA BAN Những người làm quan từ tứ phẩm trở lên, xưa được nhà vua ban sắc phong-tặng cho cha mẹ, ông bà cụ kỳ. tùy theo phẩm lước của mình : nhất phẩm được triều đinh truy-phong đến cao-tổ, tức là các cụ, nhị-phẩm được truy-phong đến ông bả, tam lử phẩm được truy- phong đến cha mẹ.
Trong sắc phong nhà vua kề lại công-trạng chức tước của người làm quan, rồi suy ân truy-phong đến cha mẹ, ông bà hay các cụ.
Sắc phong báo về dân làng, dân làng phải tổ-chức đi rước sắc về nhà chủ.
Nếu các người được phong, cha mẹ vị quan, còn sống, sẽ có lễ khao dân làng, cùng với việc cáo gia-tiên và lễ thần linh tại đình.
LỄ PHẦN HOÀNG Thường các vị tam, tứ đại được phong-tặng vì con cháu đều đã qua đời nên con cháu phải làm lễ phần hoàng nghĩa là lẻ đốt sắc đề cáo với cụ được truy-phong.
Trước hết bản sắc của vua phong được sao ra một tỏ giấy vàng, màu giấy của sắc chính. Hai bản sắc chính và sao đều đặt lên mâm rồi đệ lên bàn thờ. Trên bàn thờ đã có bày đủ đồ tếtự.
Người chủ tức là vị quan đã làm hiền thanh-danh phụ-mẫu, đốt hương vào khấn lễ, đọc một bài văn nói rõ duyên-do sự phong-tặng của Triều-đình cho cha mẹ, ông bà và các cụ, đồng thời cũng đọc cả chức-tước vua phong cho các vị này. Sau đó, một người đọc bản sắc nhà vua.
Lễ xong, bản sao tờ sắc được đem đốt, còn bản chính được giữ lại thờ.
Trang sách 276Lễ đốt sắc này gọi là lễ Phần-hoàng, nghĩa là đốt tờ sắc màu vàng.
Làm lễ ở nhà xong, chủ-nhân lại sửa lễ ra đình cáo-yết thần-linh.
Sau mọi cuộc tế-lế, chủ-nhân khoản đãi dâo làng khách khứa cũng như các việc khao mừng khác.
Việc con làm nên, phong-tặng đến cha mẹ cũng là một điều hay, khuyến khích cha mẹ trong việc dạy-dỗ nuôi con, và cũng lại có ý khuyên người làm con phải cố gắng đề làm rạng-rõ cho tổ-tiên đề tổ tiên cũng được bưởng sự vinh-quang thấm-nhuần ơn mưa-móc của Triều-đình.
VIỆC KHAO-VỌNG NGÀY NAY Thời thế đổi-thay, ngày nay lệ khao-vọng hầu như không còn nữa.
Có việc vui mừng, cũng có người làm liệc đãi bạn-bè, hoặc các cụ già sống được sáu bảy chục luổi cũng bày một liệc nhỏ đề ăn mừng, bằng không có cũng không sao.
Trong nhiều gia-đinh theo cổ, khi con cái đỗ đạt hoặc chính mình được ân thưởng một huy-chơng của quốc-gia, thường sửa lễ cáo-yết gia-liên, về sau đó gia-đinh quây quần ăn uống. Đấy phải chăng cũng là một cách khao, nhưng lễ khao đã được giản dị hóa đến mức tối thiều !