Tdi-liệu đọc thêmPhần 16 · trang 277–293
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 277Tdi-liệu đọc thêm MỪNG THỌ BÁY MƯƠI Đây là bài thơ của ông Nghề Nguyễn Quý-Tân mừng thọ cụ Nguyễn- Công-Trứ :
Bầy mươi tưởi tác vẫn dường di (1) Mới biết xưa k/a buổi thiếu thì ?
Rượu tỉnh, thơ say, hồn Lý-Bạch, (2) Cúc cười, hoa cọl, thú Vương Hi : (3) Giang-san nắm lại, đôi tay khấu, (4) Văn-võ (5) buông ra, một ngón ty. (9) Cũng kiếp phi-sinh hay dỡ-sach, Dầu ai tiếng thị với lời phi. (1) Cúng như dường si, nghĩa là như thẽ này. (2) Lý-Bạch thi-si có tiếng đời Đường. (3) Vương-Hi-Chi, chi-sĩ có tiếng dời nhà Tổng. (4) Ống tay áo. (5) Hai giây đàn, giây văn và giáy vố. (6) Đàn Tỳ-bà.
Trang sách 278Tài-liệu đọc thêm HỌC TRÒ MỪNG THẦY THỌ TÁM MƯƠI Trộm nghĩ:
Đạo-đức thừa công tu-dưỡng (1), chẳng Doanh-Bóng (2) thì cũng địa-liên, (3) Thánh-hiền sẵn thú hi-di (4), dầu vương-bá chẳng bằng thiên-lước (5).
Lòng ál-đái (6) theo bên trượng-lũ (7), Lời lụng dương (8) dâng dưới môn lường.
Kính duy tiên-sinh trướng-hạ :
Bẩm khí Tản Lô, Noi dùng Thù Tứ (9) Vượt bề học sang nhà đạt nhược (10), giang-hó bốn mặt triều tôn ;
Mở rừng văn lên đỉnh cô-phong (11), cương phụ (12) muôn đầu cúng - bát. (1) Sửa mình là nuôi đức tốt. (2) Doanh-Châu và Bồng-Lai, hai cối tiên, (3) Vị tiên ở cối tục. (4) Vui chơi với tháng ngày. (5) Tuổi trời. (6) Ái : yéu ; dái : đội ơn. (7) Trượng : gây ông già ; lũ : dôi-dép. Hai tiếng trượng lũ chi đồ dùng của ông thày. (B) Ca-tụng và tần-dương cong-đức. (9) Hai con sông ở làng đức Không-Tử. (10) Ông thần bề. (11) Ngọn núi cao, (12) Gò đống.
Trang sách 279Rhoa-cử.
Nợ đăng-hỏa phải theo Chí quân-dân không ở bão-an Anh-hùng sự tả thời quai (14), Gia-Cát khôn nâng vạc Hán, Thế-đạo buổi phong đối lục-my (15), Sương-Lê rên lắng chuông Đường (16).
Mô giáng-trưởng (17) thay phép minh-đường, (18) Dựng chiên dàn (19) vun nên si-khí.
Vần tráng sáng soi làn thu-thủy, giang-hờ riêng một linh-thanh (20).
Trận gió thơm thời lớp du-trần (21). mai-oi (22) sạch không b-cấu (23)).
Khí-tiết ra lay bỏl thực, (24) Try-duy (25) nhờ sức phù-trì ;
Tro kiên-lú (26) phó mặc luyết-sương ;
Đúc chính-khí, hóa làm cương-thiết (27.) (13) Báo : n0 ; an : yên. Quân tử thực vô cầu báo, cư vô cầu an. (14) Sự tả thời quai : việc đời trái ngược, thời thể không chiều người. (15) Phong dồi lục my : phong-hóa suy-dồi, thói-tục ủy-mị. (16) Sương-Lê : ông Hàn Dú, thày dạy học đời Đường. (17) Màn đỏ chỗ thày ngồi. (18) Nhà giảng Pháp-luật đời nhà Chu. (19) Đàn hình cá chiên, chỗ thày ở. (20) Tỉnh-thanh, không u-mê và thanh-cao. (21) Bụi bay, chỉ sự hỗn lạp ở đời. (22) Loài cỏ non, chỉ người chưa học. (23) Do-băn. (24) Vun-dáp, trồng-trọt. (25) Dường-cội, chỉ nèn tàng xá-hội. (26) Bền-chặt. (27) Gan thép.
Trang sách 280Trời không cho lấy vị, song đã phú lấy đức. hẳn phảt thêm lấy luổi, đề dần dần đức hóa ngoan-minh (28).
Thầy chẳng thiết vì mình, nhưng vần lo vì đời, nên phảt sống vì người, đề mát mãi đời nhờ giáo-hối.
Nay tiên-sinh :
Tình-thăn quắc thước, Đức vong lôn-sung ;
Đèn cỏ-lê (29) đốt đến trüm lắn, Lịch hoa giáp (30) vừa thêm hai chục.
Ba cành dün-ehi trod-tôt.
Một cây đức thu rườm rà.
Trên nối chí liên-công, bất di bất-khuất.
Dưới vui váy quán quý (31), tương-kính lương-thân.
Lạc-sự kè đã hoàn-loàn, Tiên sinh vản chưa man-lúc.
Có lẽ lo hậu-liến mà lòng bất lão, giá cho người ngồi, tuyết cho người đứng, còn trơ thạc quả (32) với kiền khôn (33) ;
Cho rên mượn liên ưu làm thuốc trường sinh, bê bao rià lặng, sông bao giờ trong, muốn đúc hồng-lô nung khối lôi (31).
Học lính-mệnh chủng nhờ đơn hống (35), quang minh sán có linh đài ; chúng Tiết thu-dâng hay (36). môl biết báeh-lung, iy-mu sá gi (28) Ngu dại mà mịt. (29) Tục truyền vị sao Thái Át thắp dèn co-lê iễ xem sách. (30) Sầu mươi tuỏi. (31) Các em. (32) Quà tu còn sói lại. (33) Trời dãi. bung. (34) Lo thành khối trong (35) Thuốc tiên. (36) Củ nhỏ.
Trang sách 281Há chẳng biết hình-hài là mộc thạch, sống mà ngu mà dại, dầu Tùy, Bành (37) muôn luổi, kê gì luổi cơ luổi cây.
Song muốn phù hóa-dục của kiền khôn, thp có đức có danh thì Không. Mạnh một đời cũng đáng đời hiền đời thánh.
Chúng con :
Nâng vầng nhật nguyệt.
Mừng vẻ tuyết-lt Tụng-huyền thay chén Hà-bôi, rắp hàng Bắc-diện (38):
Su-bái dâng lòng hương-biện (37), kinh chúc Nam phong.
Mong triết nhân còn trường tho với Thái-ơn.
Đề ngô-đạo vẫn sinh-tôn cùng lư-thế.
Dấu cương-giã khói lan mây nál, nào ngũ-canh, nào tam-lão (40) dầu hồng trần không có mắt xanh. Chốn sư-môn mã dục chuông khua, cũng hiền đức, cũng khất-ngôn (41), mừng hắc thế hãy còn mặt trắng (42).
Há dám quá lình thanh-dụ (43), Gọi là biều khúc truân thành (44).
Phá bảng BÙI KỶ (37) Kiêu-Tùng và Bành-Tò, hai người sống lâu nhất đời Thượng-cô. (38) Hà bôi : rượu thọ, (39) Hương thơm. (40) Ngú-canh tam-lão là các ông già mô-phạm, các bộc đế vương thời xua đặt ở trong triều làm cõ vấn đề hỏi mưu-trước. (41) Xin thụ-giao. (42) Bạch-diện thu-sinh, chỉ người học trò không ra làm quan mà có tài-dức. (43) Khen ngợi. (44) Lòng thành - thực.
Trang sách 282BỆNH TẬT Một trong những biến cố của đời người là đau ốm, và con người sinh ra ở đời, không phải chỉ đau ốn có một làn, và không phải lúc nào cũng khỏe mạnh. Chưa từng có ai, từ lúc sơ sinh lúc đi vào lòng đất lúc nào cũng sức khỏe dồi dào, không đau ốm. Làm người, ai cũng có dau ốm nhiều lần, nhưng chỉ một lần cuối cùng mới đưa con người tới côi chất.
Từ khi lọt lòng, cho đến khi lớn lên, đứa trẻ trải qua bao nhiêu thời kỳ đau ốm. Ngay từ lúc nhỏ, mỗi sự đổi khác của đứa trẻ đều được báo hiệu bởi những chứng bệnh sốt mọc răng, tướt tập lẫy, trớt tập bò v.v... Lại có những kiai đoạn con người phải chịu đau đơn khi phải vượt từ thời ký nọ qua thời kị kia của đời người : từ nhỏ sang thời ký dậy thi, từ đứng tuổi sang thởi kỳ gia lão. Những thời kỳ thay đổi này đều có những triệu chứng : dạy thi trai gái đều bị sốt nóng, ta gọi là sốt vờ da, lúc bắt đầu già yếu cũng củ những cơn bệnh báo trước sự suy nhược của cơ thế, nhất là phụ nữ phải vượt qua giai đoạn sinh nở, nguyệt tín không con.
Tóm lại, trong đời người, ai cũng phải trải nhiều lần đau ốm và có người có thể vì bệnh hoạn mà mang lật như đau mắt nặng có thề thành ra mục tật, một chiếc mụn nhọt mọc ở chỗ gân chân tay có thể làm cho con người thành quẻ quặt v.v..
Mắc bệnh thì phải thuốc thang chạy chữa, muốn chạy chữa, phải biết nguồn gốc của bệnh : người đan bụng trúng thực, không chữa cùng một lối như người dan dạ dày, người ho vi sung phởi, không chữa giống như ngorời ho vi sung cuống họng.
Ngày xưa, bệnh nào ta cũng ch thuốc chữa, và các cụ thường nói bệnh quý đa có thuốc liên, nghĩa là bệnh biềm nghèo có thuốc công hiệu đề trị, tuy vậy, môu đông y la vẫn cho là có tứ chứng nan ý, bốn chứng bệnh không có thuốc nào chữa được, đó là :
Trang sách 283Phong : bệnh phong, bệnh điên cuồng (1) Lao : Bệnh ho lao, và theo Đào Duy Anh là chứng bệnh kết hạch ở phổi, ở ruột hoặc ở khớp xương.
Cô : bệnh mù Lại : bệnh hủi (cùi) Ngày nay theo y học mới con người bị bệnh là do vi-trùng gây nên hoặc là do nhiễm độc phát sinh đau ốm. Người Việt-Nam ta cũng đồng ý như vậy, nhưng ta không cho là tất cả mọi bệnh tật đều do nhiễm độc hoặc vi trùng gây nên, mà có bệnh nguồn gốc bắt đầu ở giới siêu nhiên. Theo ta, bệnh tật có thề do :
- nguồn gốc tại giới vô hình - tai nạn - trái gió trở trời - nhiêm độc và vi trùng.
BỆNH TẬT DO GIỚI VÔ HÌNH. - Giới vô hình đây có thể là thần thánh ma quỷ, và những bệnh do giới này gây nên không thể dùng thuốc trị được, cần phải có cúng vái yềm trừ. Tuy cũng do giới vô hinh gây nên, nhưng căn bệnh không phải giống nhau và ta thường phân biệt : a) Đau ấm vi chạm vía. - Tục tà tin rằng gặp người vía dữ, cũng như gặp vía các thần linh ma quỷ đều có thể bị đau ốm.
Trẻ sơ sinh nằm trong phòng mẹ, có người dữ vía vàn thám, nó sẽ khóe mãi không thôi, có khi phát sốt phát nóng. Phải đốt vía cho nó, dùng áo tơi cũ, chồi cũ đốt vía, nó sẽ khỏi.
Những người đang cỏ mụn nhọt, gặp người dữ vía mụn-nhọt sẽ tấy sưrng, người đang bệnh gặp người dữ vía bệnh sẽ nặng thêm, phụ nữ mới sinh gặp người dữ vía có thể bị băng huyết.
Ngoài người dữ vía, có người chạm vía thần linh hoặc ma quỷ, những người này trong lúc đi đường đã gặp gữ thần linh hoặc ma quỷ, (1) Đào Duy Anh. .. Hán Việt Từ Điền.
Trang sách 284bị bắt mất một vài vía, sinh đau ổm. Cần phải cúng lễ, hoặc có bùa yên trừ ma quỷ, mới khỏi. b) Đau ốm vì là ma yêu quái ám ủnh— Nhiều người bị bệnh thuốc thang nào cũng không khỏi, rồi theo tục đi xem bỏi, quẻ bỏi cho biết có ma làm. Có thể là những ma đói ma khát, hoặc ma quỷ được thờ cúng ở các gốc đa, gốc đề, ở các miếu bên đường. Phải cúng lễ hoặc yêm trừ bùa bèn mới khỏi. Có trường hợp những con ma, con tà birớng- bỉnh không chịu tha người ốm, người ta phải tổ chức bắt tà tại các đền điện mới khu trừ được những tà ma này. c) Đau ốm vì thần thánh quả phạl. - Có những người vì có những hành động vô lễ với những nơi thờ phượng, hoặc có những ngôn ngữ xúc phạm tới các vị thần linh, bị các vị thần thánh quở phạt làm cho đau ổm. Phải cúng vái làm lễ tạ đề được sự tha thứ của thần linh mới khỏi bệnh. d) Đau ốm vì căn mệnh. — Có những người bệnh đau như giả cách lúc nặng, lúc nhẹ, nhất là phụ-nữ. Khi ngủ thường có những giấc mơ kinh-khủng. Những người đễ tóc, lự nhiên trên đầu tóc kết thành lừng túm, nhằng nhịt với nhau không sao gỡ được. Muốn chữa mà không biết bệnh gì. Đến khi xem bói, quẻ bói cho hay những người này có số thờ, căn bệnh phải làm ghế đệm cho các ông Hoàng, bà Chúa, các Cô các Cậu giới vô hình. Muốn khỏi bệnh, hoặc phải thờ một ông Hoàng, bà Chúa, một Cô, một Cậu nào, hoặc phải lên đồng, tức là tự làm ông Đồng, bà Đồng để làm cốt cho giới vô hình nhập vào. Có như vậy bệnh mới hết.
đ) Đau ốm vì năm xung tháng hạn. - Cũng có khi gặp năm xung tháng hạn khi ấy có những vị sao dữ chiếu mệnh như sao Thái-Bạch, sao La-Hầu thì phải làm lề nhượng sao giải hạn. (1) Ngoài ra lại có những năm tuổi, tháng tuổi, năm xung, tháng xung.
Năm tuổi tháng tuổi là những nằm tháng cùng một địa chi với mình, (1) Đào Duy Anh.- Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Trang 192,
Trang sách 285thí dụ người sinh năm Canh Tuất thì những năm Tuất như Nhâm-Tuất, Giáp-Tuất v.v.. là những năm tuổi, và những tháng Tuất là những tháng tuởi.
Năm xung, tháng xung là những năm tháng có địa chi xung với địa chi của mình ; tính theo lý số Đông Phương có tử hành xung, nghĩa là trong mười bai chi cỏ bốn hành xung nbau :
Tú, Ngọ, Mão, Dận;
Thin, Tuất, Sửu, Mùi :
Dân, Thôn, Ty. Hợi.
Tục ta cho có hai nảm tuổi nặng nhất là những năm 49 và 53 tuổi :
Rốn chín chưa qua, Năm ba đã lứi. e) Đau ổm vì động chạm mồ mà đất cát. - Nhiều người bị đau vì động chạm mồ mả gia-tiên hoặc đất cá!.
Mộ phần là gia cơr của ngời chết. Tục tin rằng khi mỗ mả bị sụt, bị cây cối xâm phạm, bị súc vật đào bới thì bị động, và hương hồn người chết sẽ bị bất an. Con cháu sẽ được người khuất hoặc báo mộng cho biết, hoặc do trực thống huyết mạch, bị đau. Phải làm lễ tạ mộ.
Nhà cửa cũng có thể bị động hoặc vi hướng nhà, hướng ngõ không hợp với tuổi của gia chủ, hoặc vi có một con đường hoặc một đòn cái của ngôi nhà khác đâm thẳng vào gian nhà chính, hoặc mạch đất trên có ngôi nhà tọa lạc bị đào bới, hoặc vì một lý do siêu nhiên nào khác. Phải xoay lại hướng nhà, hướng ngõ hoặc phải cúng lễ trấn trạch.
Bếp cũng nhiều khi bị động; đây là nơi của Táo-Quân, phải giữ gìn sạch sẽ, nhất là xưa kia mấy ông đầu rau. Nếu để bếp bẩn thỉu, đề mèo chuột nhảy qua các ông đầu rau, hoặc đun bếp bằng thứ củi không thanh thiết, bếp bị động. Phải quét đọn lại bếp cho sạch sẽ có lễ lạ.
Trang sách 286g) Đau ấm vì bị trù ếm. _ Có những người thừ ghét nhau, không thờ đường hoàng làm hại nhau được, họ nhờ các thày Ngải, thày Pháp, thày Tự trù ếm kẻ thủ khiến cho kẻ thù thành ốm đau bệnh tật. Muốn khỏi bệnh, phải nhờ các thày Ngải, thày Pháp can tay hơn giải sự trù ếm, hoặc phải cúng lễ ở những nơi linh thiêng đề xin thần linh giải trừ giúp. b) Đau ốm vì ôn dịch và thiên hoa. - Tục ta tin rằng trong những năm có các bệnh truyền nhiễm là do sự bắt lính của người cõi âm, - trường hợp những bệnh hạch, bệnh tả v.v... Cõi âm có thần ôn dịch đi bắt lính. Nơi nào có bệnh phải có lễ cúng tiễn quan ôn và dùng hình nhân thế mạng.
Trong những năm có bệnh đậu mùa hoặc hệnh sởi, ta cho là có các bà các cô đi rắc hoa, đo đó bệnh đậu mùa còn được gọi là thiên hoa.
Gặp những thời kỳ này, người ta tren những đôi hài và vàng mã ở ngoài cồng đề các bà các cô khi có đi qua đó, dùng những đôi hài và vàng mã này, không rắc thiên hoa vào trong nhà.
Trên đây là một số các nguồn gốc huyền bí về sự bệnh tật theo sự tin tưởng của tục xưa. Có lẽ còn nhiều nguồn gốc huyền bí khác mà kè viết không được biết, nhưng dù sao, mấy trang trên cũng đủ cho bạn đọc có một ý niệm về sự tin tưởng của ta đối với giới vô hình trong địa hạt bệnh lật với các nguồn gốc huyền bí.
BỆNH TẬT DO TAI NẠN. - Trong cuộc sống hàng ngày cen người có thể gặp những rủi ro và do đó có những tai nạn. Người hải quả trèo cây có thể bị ngã từ ". trên cây xuống đất ; người đi mò cua bắt ốc có thể nhằm vào một hang rắn bị rắn cắn ; người tiều phu đi rừng có thể bị một cành khô trên cao rớt xuống người hoặc bị chính cây mình đang chặt đổ đẻ phải ; người thợ xẻ đang cưa gỗ có thê bị cây gỗ sập đè lên người; người thợ rèn có thể bị lửa trong lò rèo bắn ra làm cho bỏng ; người làm bếp có thê bị nồi nước sôi đổ vào người v.v... Tai nạn muôn hình vạo trạng và thường xẩy đến bát ngờ.
Trang sách 287Có người buổi sáng còn khỏe mạnh, buổi tria đã bị tai nạn bị thương hoặc có khi đến qua đời. Có người buổi tối đi ngủ không sao, nửa đêm bị con rết ở dâu bỏ tới đốt; lại có người bị chó dại cắn, xảy xuống nước, làm đồng bị trâu giở chứng lấy sừng chém chân ngã vào người... Và trong đời sống mới ngày nay, tại các đô tbị, nhất là những đò thị lớn nhi Saigon, không mấy ngày là không có lai nạn lưu thông làm cho người la bị thương hoặc bị chết Xưa kia và cả ngày nay nữa, gập mỗi lai nạn dân la có lối chữa riêng, lối chữa thay đổi tùy lừng địa phương, hoặc từ Bắc chí Nam cùng một lối. Có nhiều lối chữa rất kỳ-lạ, nhưng theo lời các cụ những lối chữa nầy hiệu nghiệm lắm. Rắt tiếc khuôn khổ lập sách này không cho phép người viết được kế ra đây ít nhiền lối chữa đã từng mắt thấy hoặc đọc qua các sách vở. Thường ngã gãy chân gãy tay, chữa bó bằng xương gà, rắn rếl cắn có những lá cây như lá chìa vôi tía nhá nhỏ đắp vào, chữa bỏng lấy nước mắm bôi vào chỗ BỆNH TẬT VÌ TRÁI GIÓ TRỞ TRỜI. - Mỗi khi thay đổi thời tiết, xưa các cụ gọi là trở trời, và những lúc trở tròi nầy nhiều người đang khỏe mạnh có thể sinh đau ốm, nhất là những người đang yếu. cơ thể suy nhược. Có người bị luồng gió lùa cũng sinh bệnh, nhất là bị cảm. Mắc lệnh vì thay đổi thời tiết bay vì trúng gió, các cụ gọi chung là Trái gió trở trời. Chứng bệnh thông thường nhất gặp khi trái gió trở trời là bệnh sốt cảm.
Bị sốt cảm, người xưa có nhiều lõi chữa khác nhau, những lối chữa này, chúng tôi xin lược kế dưới đây, không phải với mục đích mách cách trị bệnh, chúng tôi chỉ muốn nêu những điều này ra cũng như tất cả những điều chúng tôi đã nêu ở trên về cách chữa các tai nạn đề bạn đọc suy ngẫm tìm biểu.
Uống thuốc. - Trị bịnh cảm, thông thường nhất, đối với những người có khả năng lài chính, người la chỉ việc tới ông lang cắt một (1) Trong cuốn Phong tục Việt Nam chúng tôi có viết ký lưỡng hơn về sự đau ổm cũng như các cách chứa bệnh.
Trang sách 288vài thang thuốc cảm về sắc lên uống, nhưng có nhiều người ở xa các nơi có lượng y, không đủ phương tiện, họ phải chữa cảm theo những lối cổ truyền khác.
Đánh gió. - Đánh gió nghĩa là xoa vàn người đề trục xuất gió đi.
Trủng gió bị cảm, muốn khỏi phải đánh gió. Đánh gió người la dùng cám rang cho nóng, hoặc dùng rượu hỏa thang với gừng, lấy gừng này mà xoa, hoặc dùng một quả trứng luộc, trong quả trứng có nhét một đồng tiền bằng bạc hoặc một nắm lóc, có khi cả hai thứ, hoặc người la dùng những thứ dầu cổtruyền. -- ngày nay có dầu Nhị Thiên, dầu cù là v.v...
Tại miền Nam có tục cạo gió, người ta lấy dầu cù là bôi ở gáy, ở sau lưng rồi dùng một đồng tiền hoặc một vật gì cứng cạo mạnh vào những chỗ đã bôi dầu. Những nơi này sẽ bằm tin, ngưrời được cạo gió sẽ thấy dễ chịu.
Giác. - Giác nghĩa là dùng những ống, gọi là ống giác, một đầu kín còn một đầu bử đốt lửa, hoặc làm cách nàn cho nóng bên trong rồi úp vàn da cho máu tụ lại. Ông giác còn gọi là bàu giác, và do đó tục ngữ có câu : Đi giác sắm bàu, đi câu sắm giỏ. Giác là: cho máu tụ lại, ta cho là máu độc, và sau mỗi lần giác người đau cảm thấy dễ chịu.
Thường những người gặp trái gió trở trời, mắc chứng ho thường hay dùng lối giác đề chữa bệnh.
Ngày nay tại các chợ miền Nam, ngay ở Saigon, tại các chợ chính như chợ Bến Thành, chợ Tân-Định, t2 có thể bắt gặp những người dàn bà làm nghề giác, giác cho những người bị đau cảm. Những người này có một nồi nước sôi trong đó có ngâm những ống giác bằng lre hoặc bằng nứa. Họ dùng những ổng giác này đề giác cho các người bệnh. Theo họ, trong ống giác họ có đề thuốc như nước ngỏi cứa, long não v..v... Khi giác, máu tụ lại, thuốc của họ sẽ giải bệnh cho người dau.
Xông. - Xông nghĩa là làm cho bốc hơi lên đề cho hơi này nhiễm vào người bệnh làm cho bệnh nhẹ đi. Cũng có khi làm cho bốc khỏi lên, người bệnh ngửi bơi khói bơi khói làm cho bệnh thuyên giảm.
Trang sách 289Những người bị cảm thường xông bằng nước lá. Người la dùng lá tre, là bưởi, là ngải cứu hoặc các thứ lá khác có thê chữa được bệnh, bỏ vào nổi đun sôi rồi bắc ra, bỏ vung đi, bịt miệng nồi bằng một miếng vải thưa đề cho hơi bốc lên giấy có chọc nhiều lỗ thủng hoặc miếng được. Người ta ngồi trước nồi nước lá sôi ấy, mặt cúi xuống nồi nước, và cả người được chùm kin bằng một chiến chăn mỏng. Như vậy hơi nước trong nỗi bốc lên nhiễm vào người đau làm mồ hôi đỏ ra và gió độc cũng tiết ra theo.
Ngày nay, tụi các đỏ thị, không có các loại lá, người ta dùng dầu Nhị thiên hoặc dầu cù là hòa vào nước sôi, hoặc đến các ông lang cắt một thang thuốc về đun lên đề xông.
Thường xông xong, người đau cảm thấy dễ chịu và có nhiền khi khỏi bệnh.
Những người bị nhức đầu thưởng đốt quả bồ kết hoặc lá ngải cứu khô, ngồi ngửi hơi khói. Đây cũng là một cách xông.
CHƯỜM . - Chườm nghĩa là áp một vật gi nóng hay lạnh vào người.
Những người bị cảm nhức đầu hoặc bị chứng đau bụng thường dùng lối chườm đề chữa bệnh. Chườm có nhiều cách :
- Đậu đen đem rang nóng, bọc vào một chiếc khăn áp lên đầu sc khỏi nhức đần.
- Dùng một vài vị thuốc đem san núng, học vào một chiếc khăn chườm vào bụng sẽ khỏi đau bụng.
- Có khi người la dùng một chai nước nóng chườm vào bụng khi bụng bị lạnh sinh đau bụug.
- Có khi người ta dùng là ngải cứu quấn chung quanh đầu, - đây cũng là một lối chườm.
ĐỆNH TẬT DO VI TRỪNG. -- Những bệnh ngày nay ta cho là do vi trùng mà sinh ra, xưa các cụ cho là do các cơ thể trong người suy yếu. Mỗi cơ thể suy yếu phát sinh ra những bệnh riêng, nhiều khi vì hàn nhiệt mà sinh ra, có bệnh ngoài ra, có bệnh trong lục phủ ngũ
Trang sách 290tạng Theo các cụ có nhiều bệnh di truyền do buyết thông như bệnh lao, bệnh bủi. Bệnh lao được gọi là lao truyền nếu người cha mắc bệnh, người con cũng lại mắc bệnh. Những người bị lao troyền, lúc chết con cháu dùng một con gà trống hút máu mủ trong mồm, và tin rằng như vậy con gà đã hút đi rất nhiều càn nguyên của bệnh, và người con có bị bệnh cũng chậm phát. Con gà sẽ bị chôn đi. Tục lệ này chúng tôi đã được một lần thấy khi còn nhỏ tuổi tại nhà quê, không hiều đây là tục lệ riêng tại vùng tôi hay là lục lệ chung ở nhiều nơi.
Mắc những chứng bệnh do cơ thể suy yếu, người bệnh phải uống thuốc, có khi uống thuốc trong lại xoa thêm thuốc ngoài hoặc bên ngoài phải đán thêm thuốc cao, như bệnh nhưc đầu, ngoài thuốc uống các ông lang thường cho thêm hai lá cao dán vào hai bên thái dương.
Mỗi bệnh, ông lang bốc thuốc khác nhau sau khi xem mạch nghe bệnh. Cũng có khi đề phòng bệnh, các người già thường uống thuốc bỗ, những chén thuốc đo các ông lang lốc cho mang về sắc uống như thuốc bệnh, hoặc đem ngâm rượu uống gọi là rượu thuốc. Nhiều người thuốc uống đắng lại cũng không yống được rượu, các ông lang làm cho thuốc tế, viên thành những viên nhỏ ngọt ngọt, dễ ăn.
Bệnh nào thuốc ấy. Trong dân chúng cũng có truyền nhau những môn thuốc cổ truyền đề chữa các bệnh thông thường như đau đầu, đau răng, đau mắt, đau bụng v.v...
Đông Y không phải là dở, trước khi có Tây ỹ, đã có biết bao nhiêu bệnh biềm hóc được chữa bằng Thuốc Bắc, thuốc Nam.
Ta có câu : Đói thì rau, đau thì thuốc, lâm bệnh phải tìm thày chạy thuốc. Dùng thuốc cũng phải kiên nhẫn, cơm ba bát, thuốc ba thang, nếu mới uống được một thang bệnh chưa tháy chuyền đã bỏ ngay, đi uống thuốc khác, làm sao mà biết thuốc hiệu nghiệm hay không.
Ta tin rằng bệnh có thể chữa được, nhng còn số mệnh, do đó nhiều người đã vì bệnh mà qua đời nhất là các cụ già khi cơ thệ. trong người đã suy nhược Có sống thi phải có chết, con người ai cũng phải chết và các ông lang thờng nói :
Chữa được bệnh, không chữa được mệnh.
Trang sách 291CHỮA MẸO. - Đau thì phải nống thuốc, đó là lẽ dĩ nhiên, và đỏ là cách chữa bệnh thông thường nhất. Dân ta, ngoài việc dùng thuốc còn có những cách chữa mẹo được lưu truyền. Dưới đây chúng tôi xin liệt kê ra ít nhiều lối chữa mẹo chúng tôi được biết, và xin nhắc lại đây không phải là mách cách trị bệnh, mà chỉ cốt nêu ra đề bạn đọc biết và suy ngẫm.
Chữa lẹo mắt. - Mắt thường mọc lẹn, muốn khỏi, đàn ông ra đường, gặp một người đàn bà lẳng lặng củi xuống, lấy gấu váy của người này sát vào lẹo, lẹo sẽ biến mất. Lên lẹo có nơi còn gọi là mọc chấp.
Trẻ con bị tró. - Chữa trẻ con bị trở, lấy nước lòng đò cho uống.
Nấc. - Bị nấc đàn ông uống hảy ngụm nước, đàn bà chín ngụm.
Khi trẻ con bị nấc, dán vào thóp một mảnh lá trầu không. Người lớn bị nấc, nếu nống nước không khỏi, tìm cách làm cho người nấc nổi giận, cơn nắc sẽ hết.
Chữa gãy chân gãy tay. - Đây là lỗi chữa đặc biệt của các đồng bào miền Nam : dùng rau bợ, giã với dấm thanh và đường thẻ rồi đem buộc vào chân lay, nhưng gãy chân tay bên nọ phải buộc vào cùng chỗ ở chân tay bên kia.
Chữa vết thương. - Dùng nhang dốt chảy thư vào chỗ bị thuơng, vừa thư via đọc chú. Thư nghĩa là dùng nhang đưa đi đưa lại trên vết thương như vẽ bùa. Tục cho rằng lối thư này có hiệu nghiệm làm vết thương không bị xưng, nhất là những vết thương có chó cắn.
Rắn cắn. - Các đồng bào miền Nam có lối chữa mẹo rắn cắn ngày tại chỗ , khi bị rắn cắn, đưa lay phải quơ ra đằng sau, gặp bất cứ cây gì nhổ một nắm lá, nhai đắp vào chỗ bị rắn cắn, nọc độc sẽ không chạy vào máu, và sau đó sẽ nhờ các thày chữa giúp.
Rết cắn. - Lấy rãi gà bôi vào sẽ khỏi, hoặc nếu bắt đúng con rết đã cắn mình, đem con rết đốt cháy thành than lấy than đó hòa với dàu lạc vừng bôi vào chỗ bị rết cắn sẽ khỏi.
Hóc xương. - Ai hóc xương gà, xương cá v.v... lấy lá đậu ván ở chỗ dây khuất bóng mặt trời, đem giã nhỏ ra, cho một ít muối vào, rồi
Trang sách 292rộn với giấm thanh, xong gói vào giấy bản, ngậm vào mồm độ 30 phút thì khỏi.
Hoặc dùng vỏ cây đậu ván, chế thuốc cũng như trên, nghĩa là cũng dem giã nhỏ với muối và giấm thanh rồi ngậm vào mồm. Khi bóc vỏ rây đậu ván nếu bóc xuôi xuống thì xương trôi xuống, nếu bóc ngược lên thi xương trôi ra.
Đau bụng. - Đau bụng vì lạnh bụng, cần làm cho bụng nóng trở lại.
Các người mẹ bị đau bụng vi lạnh thường bế áp bụng con vào bụng minh, truyền hơi nóng ở con sang minh, dùng bụng con đề chờm vụng minh. Hoặc khi các con nhỏ vi bị lạnh mà đau bụng, các bà cũng áp bụng con vào bụng minh để truyền hơi nóng ở minh sang cho ron. Ca dao có câu :
Đau bụng lấy bụng mà chườm Nhược bằng không khỏi hắc hương với gừng :
Hắc bương với gừng là hai vị thuốc làm cho nóng bụng.
Đọc câu ca dao dau bụng lấy bụng mà chườm nhiều người ở thành thị, rúi biết không thấu, thường có ý nghĩ sai lạc và cho rằng đây là một •ân ca dao các cụ đặt ra để rõn cợl, vi bốn chữ lấy bụng mà chườm, những người này nghĩ ngay đến hành động sinh lý của họ hàng ngày.
Về đau bụng ta còn có câu ca dao :
Đau đung thì uống nước sông.
Đau mất lấy nhưa xương rồng mà bôi.
Trước đây vi sự biết không thấu của tôi, tôi cho đây là một câu di dồm rỡn cợt cũng như câu trên. Sau có dịp tôi được bỏi lại nhiều vụ, có cụ năm nay 90 tuổi còn đang sống, được các cụ cho biết :
Đau bụng không phải là đau bụng đi cầu, đây là chứng đau bụng Nhan la thường gọi là đau lức. Trong cơn đau được uống một hớp nước song giữa giòng, người đau cảm thấy dễ chịu.
Đau bụng uống nước sông phải chàng cũng là một cách chữa mẹo.
Nược các cụ nói cho nghe thì biết vậy, hôn nay xin nhắc lại ra đây dễ bụn đọc cùng suy nghĩ.
Trang sách 293Còn đau mắt lấy nhựa tưong rồng mà bôi, tôi được các cụ giải thich :
Đau mắt nó nóng lắm, hỏa nó bốc lên. Bôi nhựa xương rồng ở nơi xa xa mắt, người đau có cảm giác dễ chịu. •Dủ sao ta cũng nên cần thận chớ đề nhựa xương rồng rớt vào mắt, vì sẽ có thể hỏng toắt được.
Về cây xương rồng, tôi có được đọc trong báo Paris Match số 1063 đề ngày 20-9-1969 một bài của Jean Duneux viết về các chất ma túy, tác giả có đề cập lới các búp hoa xương rồng phơi khô, chất nầy gây cho người la ảo giác, Jean Duncux đã ghi :
Peyoti (Echino cactus williamsii) Boutons de cactus séchés. Principe actif : la Mescaline.
Danger : Hallucination visuelle. — Trouble du Jugement Phải chảng ảo giác của nhựa xương rồng đã khiến cho người bệnh có cảm giác dễ chịu ?
Ghi lại đây mấy câu ca dao trên, lôi không dám có ý xui giục bạn đọc tin theo, lôi xin nhắc lại một lần nữa, chỉ cốt đề các bạn suy ngẫm.
Quáng gà. - Ngưrời mắc bệnh quáng gà, cứ lúc gà lên chuồng buổi chiều, mắt không còn trông thấy gi nữa. Ta có cánh chữa mẹo như sau, các cụ bảo là hiệu nghiệm lắm : nhờ một người khác họ nhưng đừng cho người bệnh biết. Người khác họ này lấy một chiếc lá khoai sọ bóc một it nước, gặp người bệnh, ném cả bọc nước này vào mặt người bệnh, bệnh sẽ hết.
Cút kể ra các lối chữa bệnh mẹo của ta còn nhiều nhưng tôi xin ngưng ở đây đễ chấm dứt chương này.