Tài-liệu đọc thêmPhần 8 · trang 123–150
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 123Tài-liệu đọc thêm TRONG TRƯỜNG THI NAM-ĐỊNH Vấn-đề khoa cử là một thiên trọng yếu cần thiết trong văn-học-sử và vàn-hóa-sử nước Việt-Nam nhà. Chính đó là cái cơ-quan nung-đúc nhân lài của xứ mình. Trong khoảng mấy trăm năm, biết bao nhiêu danh nhân, phần nhiều đều do đó mà ra : van-nhân mặc-sĩ cũng có, danh-thần lương-tưởng cũng có, dẫy đầy trong sử sách, ít người là không do khoa mục. Nói về nguồn gốc và sử sự khoa-củ, có lễ mấy quyền sách cũng chưa chắc đã phân-minh. Nay xin nói qua về các nơi trường thi. Về thi Hội và thi linh thì bất cứ đời nào, nước Tàu cũng như ở nước ta tất là ở nơi Đế-đô. Về đời Lý, Trần, Lê đóng đô ở Thăng-L.ong thi thi Hội, thi bình tất ở Hà-Nội ; bấy giờ, về bản triều định đỉnh ở Huế thi Đại-khoa cũng thi ở Huế. Còn đến lbi Hương là chọn lấy người vào thi Đại khoa, nên phải có trường ở nhiều nơi. Thi Hương mới có thể-lệ từ đời Lệ Thánh-Tôn nên cũng chỉ từ đó mới có đặt ra các trường, những tỉnh to thì mỗi tỉnh có một trường, còn các tỉnh nhỏ thì một hai tỉnh thi chung một trường ; mỗi khoa trường thi lấy đỗ nhiều, trường thi lấy đồ ít là tùy sĩ-số từng nơi.
Về đời Lê, cả nước la lất cả có chín trường : Hải-Dương, Sơn- Nam, Tam-Giang, Kinh-Bắc, Thanh-Hóa, Nghệ-An, Thuận-Hóa, An-Bang và Tuyên Quang. Trường thi của ta về đời Lê thi mỗi khoa làm một làn, chỉ có nhà gianh và rào nửa. Bốn phía ngoài cùng trường thi thi rào tre nứa thật kin, trong trường chia làm bốn lần : lần thứ nhất ở trong cùng là nơi ở các quan Đồng khảo, Phúc- khảo cùng Giám khảo ở; lần giữa là nơi của các quan đề điệu giám- thí cùng các quan dị vào việc thi ; hai lần ấy thi đều rào phên tre thật kin. Hai lần ngoài là chỗ cho học trò vào thi, lần nọ cách lần kia chỉ bằng cái rào nứa lhưa, giữa có hai con đường thành hinh
Trang sách 124chữ thập, có một cái nhà tre ở giữa để làm nơi thu quyền gọi là nhà Thập-đạo. Nhưng cách thức ấy không giống ở Tàu, cho nên trong sách Sử Giao Ký Sự của ông Chu-Xán làm khi sang sứ la vào hồi Lê, có chép : a Nước Nam thi cử không có nhà cửa. Học-trò ở trong lều tre, ngồi đạp xuống đất mà viết...»
Về bản triều khoa thi Hương Chứ nhất là khoa Đinh-Mão năm Gia- Long thứ sáu (1807) cả nước cỏ sáu trường : 1: Nghệ-An, 2 Thanh.
Hóa hợp thi cả bọc trò Ninh-Binh ; 3. Kinh-Bắc là Bắc-Ninh, Bắc-Giang bây giờ họp thi cả Thái-Nguyên, Lạng Sơn, Cao-Bằng ; 4• Häi-Dương hợp thi cả Quảng-Yên ; 5' Sơn-Tây hợp thi cả Hoài-Đức, Tuyên-Quang và Hưng-Hóa ; 6' Sơn-Nam hợp thi cả Sơn-Nam-Thượng, Hạ, trường thi ở làng Hoa-Dương, huyện Kim-Động gọi là Hiến Nam. Đến năm Gia- Long 1bứ 12 khoa Quí-Dậu đặt thêm trường Quảng Đức tức là trường Thìra-Thiên sau này, hợp thi cả GiaĐịnh, Quảng-Trị, Quảng-Binh, Quảng Nam, Quảng-Ngãi, Binh vịnh, Phú-Yên, Khánh-Hòa ; và trường Thăng Long, lức là Hà-Nội sau này hợp cả Kinh-Bắc, Sơn- Tây, Hoài-Đức, Thái Nguyên, Lạng-Sơn, Tuyên-Quang, Hưng-Hóa, Cao- Bằng. Còn trường Son-Nam thì Hải-Dương, Quảng-Yên hợp thí.
Từ đó về sau, lừ Nam ra Bắc thỉnh-thoảng lại có thay đổi, hoặc đặt thêm trưởng, hoặc đổi tên trường, hoặc tỉnh nọ đổi thi trường kia, nói ra đây sợ rườm rả quá, chỉ xin nói về sự biến thiên của trường Nam và trường Hà vi sau này cho đến mãi hỗi kết cục, hai trường hợp một.
Năm Gia-Long thứ 18 là khoa Kỷ-Mão, trờng Sơn-Nam lức là trường Nam sau này hợp thi với tỉnh Hải-Dương, Quảng Yên, đi trường xuống đất Vị-Hoàng gọi là trưởng Vị Hoàng. Năm Minh-Mạng thứ sáu (1825) khoa Ất Dậu là năm bắt đầu có tên củ nhân và tú-tài về bản triền mới theo tên tỉnh mà gọi là trường Nam Dịnh, gọi là trường thi Nam-Định là bắt đầu từ đấy. Năm Minh-Mạng thứ 12 khoa Giáp-Ngọ, chuẫn định ở Bắc-Kỳ đặt bai trường : 1º trường Hà-Nội thì hợp-thí cả các tỉnh Hà-Nội, Sơn.
Tây, Bắc-Ninh, Thanh-Hóa, Ninh-Bình, Cao-Bằng, Tuyên-Quang, Hưng- Hóa, Thái Nguyên, Lạng-Sơn cộng là 10 tỉnh; còn Nam-Định, Hải-Dương, Hưng-Yên, Quảng-Yên thi tbi ở Nam Định. Năm Kiến Phúc Giáp-thân
Trang sách 125(1884) sau khi có việc ở Bắc-Kỳ, các trường thi chưa kịp sửa sang nên cả trường Hà trường Nam hợp làm một mà phụ-thí ở trường Thanh- Hóa, chính khoa này cụ Thám Vũ Phạm-Hàm đỗ thủ-khoa mả la thường gọi là khoa Thanh. Đấy là trường Hà. trường Nam hợp một nhưng chưa thi ở Nam-Định ; đến ân khoa năm Đồng-Khánh Bính-Tuất, hợp trường Hà, Nam và Ninh-Bình là muột mới lại thi ở Nam-Định, rồi sau nhân loạn lạc, khoa Đinh-hợi ở Bắc lại hoãn, mãi đến năm Mậu-tỷ, trường Hà trường Nam hợp thi là một, từ đỏ về sau thành lệ cho đến khoa kiết cục. Đó là dầu đuôi trường thi ở Nam; tóm lại trường thi có ở đất Nam trước tiên là trường Vị-Hoàng lừ nám Gia-Long thứ 18 đến năm Minh-Mạng thứ 6 thì trường ở đất Nam mới gọi là trường Nam.
Định.
Cách xếp đặt ở nơi trường thi (xem bản đồ) sang bản triều lừ Gia- Long, Minh-Mạng vẫn theo như thể lệ nhà Lê, mỗi khi đến khoa thi thì sửa-sang làm nhà gianh rào nứa, thi xong lại phá bỏ đi. Đến năm Thiệu Trị thứ ba bắt đầu sửa-sang trường thi ở Thừa-Thiên là trường Ninh-Bắc làm ở trong thành để làm nơi lbi Hương cùng thi Hội, thể chế rất chỉnh đốn. Các nhà quan Chánh, Phỏ Chủ-khảo và Chánh, Phỏ đề-điệu cùng nhà thập đạo cộng là 7 tòa, mỗi tòa một gian hai chái ; chín tòa mỗi tòa ba gian hai chái để cho các quan Ciám-khảo, Sơ-khảo thể sát, mật sát và lại phòng ở ngoại trường; lhi-viện đường, cộng sảnh các quan đề điệu cùng các lại-phòng nội-trường thì có 3 tòa, mỗi lòa 5 gian 2 chái ; hai lòa mỗi tòa sáu gian hai chái, đề cho các quan Sơ-khản, mỗi nhà đều có mở cửa ra đằng sau và có các nhà phụ tùng. Các nơi cửa trường có giồng hai cái cột.
Chung quanh trường, chung quanh nhà quan Đề điệu, chỗ nhà thập đạo giáp bốn vi, nhà quan Giảm khảo đều có xây tường kín. Trong bốn vi làm 7 dãy nhà dài mỗi dãy 17 gian, đề cho học-trò, thi Hương thì mỗi gian 4 người, thi Hội thì hai, ba gian một người. Các nhà đều lợp ngói cả. Đó là trường thi ở Huế làm năm Thiệu-Trị thứ 3.
- Sau khi làm xong trường thi ở Huế, chỉ có bắt các trường Gia- Định, Nghệ-An, Hà-Nội, Nam-Định cũng theo như mẫu ấy, duy chỉ có
Trang sách 126trường tám vi chỗ các học trò làm bài thi không có nhà ngói, nhà lá gì cả. Vậy trường thi ở Nam-Định ở vào khu nàn và làm lừ bao giò ?
Trường Nam làn tir năm Thiệu-Trị thứ V (1815) ở làng Náng Tĩnh vòng quanh cả thảy 214 trượng (53m ruỡi lây) nguyên cỏ tưởng cao 5 thước ta, trong trường cả thảy có 21 tòa nhà lợp ngồi để các quan ở.
Đại khái trường thi chia ra làm 3 ngàn, ngăn trong cùng là nội trường, giữa là ngoại-trường, ngoài cùng là nơi học trò làm bài thi.
Nội-trường ở giữa có nhà Giám-Viện là nhà đề các quan Nội-trường hội đồng hai bên có hai nhà quan Phúc-khảo, sau nhà Phúc-khảo mỗi bên có hai nhà quan Sơ-khảo, sau nhà sơ khảo có nhà quan Giám-Sát để coi các quan Nội trường.
Ngoại-trường ở giữa có thi-viên là nhà các quan ngoại.truờng Hội-đồng, bên tả là nhà quan Chánh-khảo, bên hữu nhà quan Phó- khảo, ngoài- nhả có quan Chánh, Phó-khảo mỗi bên có một cái nhà quan Chánh Phân khảo và Phó-Phân khảo. Sau nhà Chánh-khảo và Chánh Phân khảo có nhà quan Giám-Sát rồi Nhà Lại Phòng ; sau nhà hai quan Phó cũng có nhà Lại-Phòng. Trong ngăn ngoại trường về phía giáp nội-trường lại có một ngăn xây kín bốn mặt là nơi các quan Dề tuyển giữ quyên thi và kháp phách. Ở giữa có đình Đề tuyển sau có nhà Lại-Phòng, hai bên là nhà quan Chánh-Đề-Tuyển và Phó-Đề-Tuyền.
Ngăn ngoài cùng là trường thi, chia làm tám vi, có một con đường chữ thập ngăn cách tám vi, giữa đường chữ thập có một cái nhà gọi là nhà Thập-Đạo nghĩa là con đường chữ thập. Thẳng nhà Thập-Đạo ra đẳng lruc có một cửa gọi là cửa Tiền, cửa này chỉ đề riêng cho học-trò khi làm bài xong ở trong trường đi ra. Bốn vi đẳng trước gọi là vi Giáp- nhứt, Giáp nhì, Ất-nhất, Ất-nhi, bốn vi đẳng sau gọi là Tả-nhất, Tả-nhì, Hữu-nhất, Hữu-nhi. Mỗi vi có một cửa ra ngoài để cho học-trò vào và một cửa ở trong đi lên nhà Thập Dạo, Ở lám cửa để học trò vào, trước hôm thi mỗi cửa treo bảng biên tên những người nào vào vi nào, học. lrò vào xong thì các cửa ấy đóng lại. Trong trường có ba tròi ; ở giữa nhà Thập-Đạo để các quan ngoại trường ngồi coi học-trò làm bài ; hai cái hai bên ở vào giữa con đường từ lả sang bữa lám vi có quan Ngự ngoại-trường và nội-trường đề giám sát cả quan-trường và học-trò,
Trang sách 127Các quan-trường nghĩa là tất cả các viên chức ở trường-thí xin chia làm hai ban cho đễ hiểu.
A) Một ban là các quan chỉ chuyên việc chấm quyền thi : Có một quan Chánh Chủ-khấn, một quan Phó-Chủ khảo là quan ngoại trường ; hai quan giám khảo bến quan Phúc-khản, tảm quan Sơ-khảo là quan Nội-trường. Mỗi quyền thi do quan Sơ-khảo chấm trước, dấu chấm sou ta, rồi đến quan Phúc khảo dấu xanh, Giám khảo dấu bồng đơn, quan Chánh Phó-khảo chấm sau cùng đề định được hay hỏng, chấm bằng đấu son làu. Nếu quyền nào quan Sơ, Phúc, giám đánh bỏng thì đến phần quan Phân khảo xét lại, quyền nào đáng đỗ thì lại giao sang quan Chánh, Phó định. Quan Chánh, Phó và Phân khảo lại còn trông coi việc soạn quyển chia thẻ. Việc soạn quyền chia thẻ làm ở Sở Đề điệu ở giữa Ngoại-trưởng và Nội trường, bốn bề xây trờng kin làm nơi đựng quyền, không quan chấm trờng nào được đị lại chỗ đỏ, chỉ có trước ngày tiến trưởng năm sáu hôm, quan Phân-khản đến đấy soạn quyền để tên vào các thế gỗ, đem thẻ trộn đều lên rồi chia làm tám vi, tên nào vào vi nào viết lên bỏng tren ở cửa vi gọi là Bảng cửa. Vào khoảng mười giờ đêm trước hôm học trò vào thí, tám quan-trường đều bận Đại-Triều ngòi trên tám ghế tréo ở tám cửa đề đốc thúc Lại-phòng soạn quyền xướng tên phát cho học trò vào thi. Quan Chánh Chủ khảo ngời cửa Giáp nhất, quan Phó Ất-nhất ; hai quan Giám khảo Giáp-nhi, Ất-nhi, bai quan bề tuyển Tả-nhất, Hữu-nhất ; hai quan Phân khảo Tà-nhi, Hữu nhi. Khi học trò vào xong, các quan hội-đồng ở nhà Thập-Đạo đề ra đầu bài, yết ở một cái bảng dựng trong từng vi về phía nhà Thập- Đạo. Khi bết hạn, các bọc trò ở các vi đem nộp quyền ở nhà Thập Đạo rồi theo cửa tiền mà ra. Lại-Phòng thu quyền đóng dấu bỏ vào hóm rồi giao cho các quan Hề-tuyền coi việc dọc phách cùng chia quyền cho các quan đề chấm.
B) Một ban là các quan trông nom việc thi : Có hai quan Đề Tuyền ở trong trường chuyên chủ việc dọc phách, kháp phách, soạn từng hiệu phong lại. Việc này thật là nghiêm mật và hai viên quan ấy chỉ dùng người lại-điễn nghĩa là không đỗ gi. Khi quyền văn đưa đến, hai viên ấy đem đánh dấu dọc phách tên họ học trò cất kín đi chỉ đem quyền
Trang sách 128văn đưa chấm, khi chấm xong, các quan chấm thi lại gian lại hai viên Đề Tuyền đem sách cũ mà đính lại. Hai viên Đề Tuyển chi được biết ai đỗ ai hỏng, chứ không có quyền cho ai đỗ ai hỏng.
Một quan Ngự-sử ở Nội-Trường đốe xuất bến viên mật-sát khi khảm xél công việc ở nội truờng. Một viên Chưởng Ấn ở Ngoại-triởng đốc-xuất tám viên thể sát khám xét các cùng việc ở Ngoại-triròng.
Các viên ấy tuy không được dự chấm quyền thi, nhung mà hết thảy các công việc ở trong trường lử quan Chánh-Chủ-khăn trữ xuống ni có sự gì tinh-tiết không công hay trái phép thi quan Chuởng ấn và Ngự- Sử đều phải kễ tội mà tâu về triều. Trong ngày thi viện canh-phòng trong trường giao cho tám người đội thở sát đưới quyền quan Ngự Sử.
Trong tám người đội ấy, bốn người chuyên giữ việc gian lận, coi cả quan trường cùng học trò, còn bốn người đẻ vii trật tự, Các quan trường có chừng bốn mươi người Lại-Phòng dn rác tự thuộc các tỉnh cắt ra đề giúp đỡ, hoặc viết bảng, hoặc sửo chép v.y... suốt cả các vụ thi quan Đề-Đốc và Lãnh-Binh tỉnh Nam pali dem linh diễu quanh Ngoại-trường để canh phòng.
Còn học trò ai cũng phải sắm sửa đủ các đò cần ding, lều, chiếu, yên, trõng và một cái cháp trong đựng đủ cản thức búi, giấs, nghiên, mực, dao, kéo, dùi, cơm, nước và rác vật liện dùng trong mộc ngày, nhưng cần nhất là một cái ống gỗ den ở có để dụng quyên thi gọi là ống quyền, và không được gang một li viấy có chữ nàn; đêm hòm vào trường phải đủ các vật liệu ấy mà phải mang lấy, đứng dợi ở cửa vi nào có tên mình. Khi xướng đến tên, dạ lo mà vào lình quyển bỏống rồi vào trường đỏng lều đợi khi có trống hiệu có đầu bài ra chép về mà làm. Những quyền minh lĩnh đó là quyền đã nộp ở các quan Đốc- Học các tỉnh sau khi đỗ Hạch: các quan Đốc đệ vào trường đong đấo rồi mới phát cho.
Lĩnh quyển xong, đội thể sát sai lính lục soát khảm xét kỹ càng rồi mới cho vào trong vi. Người học trò năo mang sách vở hay văn cũ thì phải đuổi ra ngay, người ấy cả đời không được đi thi nữa, lại đem già-biệu ba ngày. Còn học trò vào trong trường chinh lệ ra phải
Trang sách 129đóng lều cho nghiêm chỉnh, sau đầu bài mà làm văn, không được đi lại hỏi han, người nào trái phép thi đuổi ra. Cho nên có kbi cha con anh e cùng một nhà mỗi người ở một vi, không được gặp nhau.
Hết kỷ thứ nhất, thử hai đến kỷ thứ ba, quyền nào có phê thời các quan Dề-Tuyên soạn đem những quyền kỳ thứ nhất, thứ hai cùng thứ ba của từng tên đóng thành một tập, thông linh ba kỳ giỏi cả, đem kê quyền ấy tên họ là gì, tư trình qua Ngoại-trường, chiếu lên ra bảng Phúc-Hạch.
Ai được vào Phúc-Hạch, truớc một bôm phải đóng quyền cách thức cũng như quyền thi rồi đem nộp cùng với lều chiếu ở nhà Thập- Đạo. Quan trường sai lính thu lấy đem chia đống ở tám vi, xét mỗi lên viết vào một cái biển cót đóng ở trước lều, mỗi lều cách nhau chừng 20 thước tây để không hỏi nhau được.
Sáng sớm ngày phúc hạch, các tử sĩ chực ở các cửa trường đợi xướng tên rồi lãnh quyền. Quan trường sai lính đưa lừng người vào vi, nhận lấy tên mà ngồi yên trong lều làm văn vì mỗi lều đã có một bản đầu bài để sẵn. Khi phúc hạch không ai được ra khỏi lều, nếu ai trái phép thì phải đuổi ra ngay.
Làm xong bài đem chấm, ai giỏi thi đề vào hạng cử-nhân, ai trung bình vào hạng tủ-lài còn ai kém thi hỏng hẳn. Hạng cử nhân lệ cỏ xướng danh treo bảng, vua ban cấp cho áo mũ và giầy ván-hài, đến sáng ngày hôm sau then các quan trường và quan tỉnh đến vọng cung lạy tạ rồi lĩnh cổ yến. Đến như bảng Cử nhân thi bằng gỗ đằng sau bảng có vẽ hình con hỗ, còn bảng Tú-tài thi làm bằng phên tre mà không có xướng danh.
Việc trường xong rồi, các quan trường soạn những quyền đỗ và những quyền được vào ký thứ ba đóng cả vào hòm đệ về Kinh giao cho bộ Lễ. Hội đồng tam nha là bộ Lễ, Nội-các và Khoa-đạo để xét lại tâu vua y cho. Trong những quyền đỗ nhỡ ra có ai phạm trường-qui, phạm hủy, viết nhầm lẫn hay ván kém còn phải đánh hỏng; còn những quyền quan trường trót đánh hỏng nhưng văn giỏi thì có khi lại lấy
Trang sách 130TRƯỜNG THI NAM-ĐỊNH #t. Réc rE ti Dra taa Da Özo # Nura sie. 1 Ao: 2 Giám-viên : 3 Giám-sát : 4 So-khảo ; 5 Phúc-khảo ; 6 Lại-phòng ; 7 Đề tuyên ; 8 Chánh Đề tuyền ; 9 Phó Đề tuyên : 10 Thi-viện ; 1/ Chánh-khảo 12 Phó khảo ; 13 Chánh phân : 14 Phó phân ; 15 Giám-sát ; 16 Nhà thập đạo; 20 Giáp-rAi : 21 Tả-nhất ; 22 17 Cửa trước : 18 Ất-nhất : 19 Giáp-nhất :
Tä-nhl : 23 Hữu-nhi ; 24 Hữu-nhất ; 25 Ăt-nhi.
Trang sách 131đỗ. Các ông cử thì đến tháng giêng năm sau phải về kinh thi Hội, và có khi vào thi Hội, nhã ra văn kém quá thi mất cả Cử-nhân.
Đó là cuộc thi lương trưởng Nam từ lúc vào thi cho đến lúc đỗ Cử-nhân, còn phải thế nào mới được vào thi cùng cách học từ thuở bé những thế nào mới đủ tư cách đi thi, xin kể qua sau đây.
Trước năm có khoa thi ở các tỉnh có một kỳ thi gọi là llạch đề chọn học trò cho đi thi Ai tình nguyện xin thi phải do lý trưởng sở tại khai rẽ bọ, tên, luổi, quê quán và vẫn là người lương-thiện không can-án bao giờ mới được nộp quyển Hạch, gọi là loại khai. Trên quyển hạch cũng đã phải theo như cách thức quyễn thi, ngoài tên luổi quê quản ra lại phải khai rõ học trò ai, gốc tích minh từ ba đời : cụ, ông và bố làm nghề gì, chức gì, còn hay mất. Các quan Huấn, Giáo các phủ, huyện, phải xét hạch xem ai học thông tbì làm danh-sách đệ lên tỉnh, quan tỉnh hội-đồng Học-Nha xét lại xem ai khá có thể thi đỗ được thì đệ danh. sách vào bộ Lễ để biết rõ số học trò là bao nhiêu mà cử quan chấm trường. Thể gọi là đi hạch, ai đỗ hạch củ giấy sức về làng đem quyền thi đề phâo minh nộp tại quan Đốc, mỗi người phải nộp cả quyền ba kỳ, thu xong gằn đến ngày thi các quan Đốc đóng hòm đệ xuống Nam nộp các quan truờng đề phát cho học trò.
Đó một phần về hinh thức của khoa-cử nước nhà. Còn cái chân tướng về tinh thần của khoa-cử, tại sao mà thịnh, tại sao mà suy, có lẽ đều do cách học sai lạc. Ta muốn biết kỹ, cần phải khảo-sát. Khoa- cử có lúc có nhân tài, có lúc không có. Nay ta qui công hay qui tội cả cho khoa-cử có lẽ chưa phải là định luận.
TRẦN-VĂN-GIÁP Tri Tân số 126-127 Ngày 15-2-1944
Trang sách 132KHOA THI VÕ NĂM MẬU-DẦN Năm ấy niên hiệu Tự-Đức thứ 31 (1878), nhân ngũ-tuần đức Dực- Tôn và thất-uần đức Tư-Dụ Hoàng-Thái-Hậu, Triều đinh mở ân-khoa • và các tỉnh thi vào và thi vũ lại Thanh-Hóa, Nghệ-An, Thửa-Thiên Bắc Thành (Hà-Nội) : Xong thi vần đến thi võ.
Ở Hà-Nội, sau khi trường thi văn xưởng danh là ngày mộng một tháng một, thì đến lượt các vỡ thí sinh sửa-soạu vào trường.
Trước khi thi một ngày các quan tiến trường. Rồi hôm sau, mờ đắt, đầu trống canh lư, sau nhũng bồi trống đồng đạc, dưới những ánh đinh liệu sáng rực, các quan trường, mũ áo tềtrỉnh, chc lọng, ngồi trên các hàng ghế ngay cửa chính. Lại phòng gọi danh sách các vồ thi-sinh vào trường.
Khoa này quan Chánh chủ khảo là ông Lè-Trực, tạo sĩ xuất-thân, lĩnh lãnh binh tỉnh Hà-Nội và Phú-chủ-khảo là ông Bùi-Ưng, Binh-bộ Tả-lbị-lang do triểu đình Huế cử ra cùng với các quan Phúc, Sơ, Phân, Giám.
Thí-sinh có ngót 8.000 người phần đông là người các tỉnh : Hà-Nội, Nam-bịnh, Bắc-Ninh, Sơn-Tây, Hải Dương, Hưng-Hòa, Ninh-Binh, Hưng-Yên.
Sáng rổ mới gọi hết các thi-sinh vào trường. Khác vơi thi vàn, võ- thí-sinh chỉ vào người không, không mang theo gọng lều ống quyển, vì suốt trong các ngày thi, các thi-sinh đều đứng giữa trời, mặc mưa gió.
Lúc vào thi đều được phép cởi áo dài, chỉ mặc áo ngắn (áo mẫ-khoa).
Đến kỳ đấu roi thi cỏi trần, chỉ mặc một cái quần. Cửi trần đề dễ thấy ngay, nếu trúng roi trong khi đấu thì có chấm mực.
Khi thi, bốn cửa trường đều đóng chặt. Trong ngoài có đội thể sát và lính tuần canh rất nghiêm mật.
Trang sách 133Ròng-rã suốt cả tháng một, cứ cách ba ngày lại một ngày thi. Ai có điểm ưu-binh kỷ đệ nhất mới được vào kỳ đệ nhị ; ký đệ tam, đệ tử cũng thế. Kỳ thứ năm là pbúc-hạch.
Số trúng cách còn độ 120 người sau các kỳ đã chọn lọc.
Đại-đề trong khoa này, các kỷ thi có những mín vố nghệ sau đây, Xin lần lượt biên từng kỳ một :
KỲ ĐỆ NHÂT.- Xách hai quả tạ nặng 100 cân, hai tay xách hai quả.
Có người khỏe thì cắn thêm một quả. Đi được 20 trượng là thứ ; 30 trượng là bình ; 36, 40 trượng là ưu. Múa côn sắt. Côn nặng bằng 36 quan tiền kẽm. Nếu đi được một bài là thứ, 2 bài là binh, 3 bài là ưu.
KY ĐỆ NHỊ.- Côn gỗ, đi đủ 3 bài, quên một bài cũng hỏng.
Khiên (đằng bài, mộc bằng mây) và gươm : một bài. Siêu hay đại.
đạo, nặng bằng 15 quan tiền : 1 bài. Độc-kiếm, kiếm đài 1 thước 50 phân ta, nặng bằng 15 quan tiền : 1 bài.
Dùng ngọn dáo dài chín thước ta, đứng cách xa bồ-dìn 10 trượng, chạy dến đâm. Chỗ đất thí-sinh đứng cách bồ din có đào sẵn ba cái hỗ, sâu 5 thước, ngang 3 thước. Cứ ba hổ thi ba quãng đất không. Nghe trống thúc phải chạy, không được đi thong thả, nhảy qua bà cái hỗ sâu, rồi nhắm đâm trúng rốn bồ din. Kỳ này khó vi nhiều ngưới bị sa hỗ, không đến được chỗ bồ-din.
Các bài trên, đi không quên, múa tốt thì được tru binh. Nếu đâm trúng rồn bồ-din hay đâm sượt qua cũng được vào kỳ đệ tam.
KỲ ĐỆ TAM.- Bắn súng có máy đá. Từ chỗ đứng bắn đến chỗ dựng bia cách xa 25 trượng, phải bắn sáu phát. Một phát trúng đích thì ăn hai quyền (vào vòng tròn là quyền). Vòng tròn ở bia rộng một thước hai ta, còn cái đĩa đích thi bằng ba lất. Không trúng vòng là liệt.
Được 1 hay 2 quyền là thứ hạng. : hay 4 quyền là binh hạng. 5 hay 6 quyền là ưu hạng.
Ai được ưu bình thứ thì được vào phúc hạch.
Trang sách 134KỲ ĐỆ TỨ VÀ PHÚC-HẠCH. — Đấu roi : dùng 2 côn gỗ đài 7 thước ta, đầu còn bọc giẻ có dúng mực. Ai thắng đấu với tháng, phụ đấu với phụ.
Nhất thắng nhất phụ là thứ hạng ; nhất tuắng nhất đồng là binh hạng ; nhị thắng là ưu hạng.
Bắn : Bia là một người bồ-din bằng bùn quét vôi. Thi-sinh đứng cách bia 25 trượng. Kỳ này trúng một phát cũng được. Cách điềm số như sau : 1 phát là thứ ; 2 phát là binh, 3 phát là ưu Xong cả 4 kỷ thì đến xướng danh, rồi các thi sinh lại phải xách tạ lại. Nếu đi trụt một, hai thước cũng bị đánh hỏng. Sở dĩ có kỳ thi này là phòng thi gian.
Trong kỳ phúc hạch khoa này có ông Bùi-duy- thiện, quán làng Hòa- mã tỉnh Hà-Nội, vi ốm nên xách tạ bị trụt ; quan trường phải làm sớ tâu lên. Ông bị gọi và kinh thi lại trong một ngày, nhưng sau cũng lấy đỗ vào hạng cử-nhân võ.
Kết quả khoa này chỉ được có 34 vũ-cử-nhân ghi tên hỏ bảng. Bảng bằng phên cói, sau lưng có vẽ con hồ. Quan trường vì thương trong bọn thí-sinh có nhiều người tài, nên lấy đỏ thêm 80 người nữa và ban cho áo mũ bẳn hoi nhưng sau sở tấu về kinh 80 ông cử này lại bị bác và bị tỉnh thần ở nguyên quán, theo lờ sức đòi lại áo mũ. Mỗi người lại phải trả 12 quan tiền, là tiền giặt áo ban nữa. Vi có sự này nên trong số 80 ông cử trượt ấy, người thì phẫn uất mà chết vi đã khao vọng cả, người thì bất-đắc-trí mưu-đồ lài việc khuấy nước chọc trời.
Thế là khoa mậu dần chỉ có 34 võ-cửi nhâu. Nhưng làm nên đường quan cũng ít. Mà đến nay cũng không mấy người còn sống. Duy con lại một cụ năm nay đã 01 tuổi (1). Nhỏ thế chúng tôi con ghi được tên ít (1) Cụ Nguyễn-dình-Trọng riều-hy là Tỗn, ngụ phố Văn-Tân, Hà-Nội là giòng giối công thần nhà Lê, nguyên quán ở phủ Thiệu-Hóa, tinh Thanh-Hóa, năm nay cụ đã 91 tuồi. Năm 1940 cụ được ân thưởng hàm Chưởng Vệ. Những lài-liệu ở trên là do cụ nói chuyện, rồi chúng tối tham khảo các sách mà viết ra. T.Đ.
Trang sách 135nhiền vị võ-cử nhân hoặc xuất chính, hoặc có ra tòng quân dưới triều Tự-Đức.
Bảng khoa Mậu dần có các vị oày :
Thủ-khoa: Nguyễn-Kỳ quán tỉnh Quảng-Bình.
Á-nguyên : Nguyễn-hữu Hiền, quán tỉnh Hà-Đông.
Nguyễn-đinh-Trọng, tớc Cử-Tốn, quán Hà-Nội hàm chưởng-vệ còn sống.
Nguyễn-kế-Định, tức Cử-Thiện.
Nguyễn-Long lức Phó-bảng Long. Sau thi-hội là đến Thủy-vệ quản co; bồi quân Pháp hạ thành Hà-nội (Nhân-ngọ 1882).
Tạ-đinh-Kiền, quản Ngọc-Hà, Hà-Đồng. Sau đi quân-thử bị chết.
Nguyễn-liến-Lâu, làm dến Lãnh-binh, Sơn-Tây.
Nguyễn-hữu-Dũng, sau thi Hội đỗ Phó-bảng.
Nguyễn-tiến-i ăng Quán Khie-Thủy, Hà-Đông.
Nguyễn-tiến-Hièn Nguyễn-khắc Sự, quán Nghệ-An, làm đến Vệ-úy.
Nguyễn vần-Thúy, quán C ö-Lieu, Hà-Nam.
Hinh dinh-kinh, 03 tuổi nới đỏ, làm đến Lãnh-binh Ilà-Nain.
Lê-văn Danh, quấn Đa-Sĩ, Hà-Đồng, sau phải cách.
Nguyễn vân-Nhân, quản Thanh Trị, Hà Đông.
Bùi-duy-Thiện, quán Hòa Mã, Hà-Nội (phải (hi lại), làm đến Lãnh. bình Dịch Lân (Bài Sịy), Hưng- Yên, sau bị chết.
Trương vân Bảng, yuán Hh-Khẩu, Hà-Nội, do chân đội tuần xuất, đỗ rốt bảng.
Trên đây là phương danh mấy vị võ cử do một cụ trong bảng ấy còn sống cho chúng tỏi biết tên. Con thì lâu ngày, cụ quên cả không nhớ hết. Mong rằng ngài nào là con cháu các cụ võ cử khoa ấy hoặc đinh chính, hoặc kê cửu thêm cho.
Trang sách 136Sau khoa Mậu-dần ở Hà-Nội, chỉ con một khoa võ-hương-thi vao năm kỷ-mão (1879) nữa thôi, Nhưng ở kinh còn hai khoa võ hội-thi nữa.
Thời gian qua. Việc thi-võ này đã tiêu diệt, không mấy khi được nhắc-nhở trong trí nhớ người la. Vài ông vỏ-cử trên bảng võ bai khoa Mậu-dầu (1878) và Kỷ-mão (1870) đến nay chỉ còn lác-đác như sao sớm lưa-lhưa.
KHOA VÕ HỘI THÍ NĂM CANH-THÌN Ở Huế còn hai khoa thi Hội về ngạch võ nữa.
Năm Canh-thin (1880) niên hiệu Tự-Đức thứ 33, mở khoa thi Hội cả van lẫn rở lại Kinh đô Huế.
Số thí-sinh ứng cử có lất cả 1.000 võ củ nhân và 1.000 thí-sinh tam- trường. Trong khi thi và truớc ngày thi, các thi-sinh đều được nhà nước cấp cho lương àn ở kinh, mỗi xuất được hai hộc lượng và hai quan tiền.
Chương trinh thi Hội đại khải như thi đương, nhưng chỉ khác là gia nặng hơn vài bạc, Vi dụ như la nạng hơn, chạy đài, sung bắn đích đề xa hơn v.v... Ai được trúng cách thi Hội mới được vào Đinh đối.
Trước khi vào thi Đình phải nộp đơn nói rõ đã học đủ thập bát ban võ nghệ, binh thư, binh-pháp, nay tinh nguyện vào Hinh-thi.
Còn những thi sinh có đơu nói rữ vò hữu thức lự (không biết chữ), không học binh-thư, thì gọi là phó trúng-cách mà lấy vào hạng Phó-bảng.
Chính trúng-cách mà hỏng đình thí thì phải thoái hồi cử nhân.
Đình thí. - Thi luôn trong một ngày ở điện Thái-hòa, chỉ có độ mươi phút nghỉ là lúe nhà vua ban cho ăn tống.
Khoa ấy đức Dực-Tôn se minh, nên có quan Khâm mệnh chủ khảo và các quan giám khảo hội đồng chấm ở điện Thái-hòa.
Trang sách 137Các bài thi gồm có : 1. Thập bát ban vỡ nghệ,— Phải đi đủ cả 18 thứ binh-khí, dùng binh- khí thật ; sai một bài cũng bị đánh hỏng. 2: Đấu quyền.- Thi sinh phải đấu với năm người linh ngự-lâm do quan trường đã tuyển ra. Phải đấu cho kỳ thẳng được 3 người mới có điềm tru-bình ; chỉ thẳng được hai : hỏng ! Những linh ngự-lâm mà thua các thí-sinh thi phải phạt lương trong 9 tháng. Vì thế bọ đều bết sực trở tài ra đấu. 3• Đấu roi, đáu côn.— Cũng đấu với năm người lính ngự-lâm như trên.
Sau ba ký này thiện dụng binh khí nào thì dùng thứ ấy ra đấu với năm người lính ngự-lâm : thắng ba mới đỗ.
Qua các ký trên là giời sầm tối. Nhà vua có ban yến (cơm rượu).
Trước khi ngài vào mâm các thí-sinh đều làm lễ lạ ân.
Ăn xong, các thí-sinh vào kỳ đối sách. Mỗi thí sinh phải lâm một đầu bài. Đại đề khoa ấy hỏi về Tôn Ngô hinh-pháp. Binh gia yếu lược, Vö-kinh, Vö lược, những trận lớn của các danh tướng xưa.
Trong khi đối sách, thí sinh nào viết chậm thi đã có thư ký đắng. lục viết hộ.
Đối-sách xong, lại phải sát-hạch lại bằng cách thi bắn. Mỗi người phải bắn 9 phát, phải trúng đích ít ra là 3 phát. Kỳ này gọi là Phúc hạch cửu phục để phòng thi gian.
Khi các quan trường xét các phân số có ưu bình mới tâu lên nhà vua xin châu phê láy đỗ.
NGÀY TRUYỀN LÒ : Một viên quan trong ban giảm khảo, áo mũ tề. trỉnh, bưng bảng có vẽ rồng, ngồi trên bành voi, dịch loa mà xướng danh lừng lên người đỗ một.
Truyền lô xong, ngưrời ta ruớc bảng rồng ấy ra niêm-yết ở Phú- văn lâu để thiên hạ cùng biết.
Các ông tân khoa đều được ban một cái mũ, một áo bào àu lam.
Rồi do quan trường đưa vào điện Thái-Hòa, bái mạng, tạ ân, dự yến.
Trang sách 138Lệ bản triều : các Tạo-sĩ cũng được ban cờ biền và cho về vinh. quy ba tháng.
Tân-khoa được phép dùng trạm di dịch từ kinh về tận nguyên quán. Khi gần đến tỉnh mình còn cách ba cung trạm, thì quan Tổng.
đốc và quan Hề-đốc bản tỉnh tuân theo giấy sức trong Bộ, phải mang binh linh voi ngựa ra ngoài ba cung trạm đón tiếp nhà Vỡ tân-khoa (Chỗ này khác với văn tiến-sĩ).
Hết bạn ba tháng, Tạo sĩ được sơ bổ ra làm quan thụ hàm ngũ phẩm cai đội ; nhưng sáu tháng sau thi được thăng lên một trật. Phó báng phải một năm rưỡi.
Con các quan vũ cũng được tập ấm như bên văn. Lệ định : Coo quan võ tử ngũ phẩm trở lèn gọi là Anh danh ; từ ngũ phẩm trở xuống gọi là Giáo dưỡng. Họ được khai vào học trường và bị ở kinh và ăn lương nhà nước.
Những quan vô, do chân khoa mục xuất thân, khi ra làm quan mới được có hai chữ linh-binh, cấm binh (cũng như văn : Hào-lâm).
Có một điều lạ: theo lệ đã định, hễ quan văn mà cải sang quan võ thì người cha phải phạt 50 quan tiền ! Còn quan vỏ đổi sang văn thì người cha lại được thưởng 50 quan tiền. Quan vũ muốn cải sang bên vặn phải tốn sụt một trật lúc đi cung chức ; nhưng trong những lúc triều-bội thì vẫn theo phẩm cấp mà đứng vào ban.
Xem thế đủ biết nước ta vẫn sùng-văn, không thượng-vô, cho nên thế gian có những câu :
Văn thì cửu phäm đã sang, Vô thì tứ phẩm còn mong gươm hầu.
Và :
Quan văn mắt một đồng liên Làm cho quan ơn mất quyền quận công.
Nhưng xél ra ván và võ đếu đáng trọng cả. Trong khi quan văn cai. trị thu-xếp ở trong cũng cần phải có quan vô uy trấn chỗ biên giới thì nước mới bình yên được.
Trang sách 139Khoa Canh-thìn (1880) có tất cả 15 ông Phó-bảng (khoa này không có ông nào đủ phân số đỗ Tạo-sĩ). Mà một sự lạ : ti khi bản triều khai khoa-võ, không có một người Bắc-Kỳ nào đỗ Tạo-sĩ cả, Dưới đây, xin lục dăng những quý-tính phương danh các vị đại- khoa khoa ấy, do một cụ đã dự thí cho biết (2). Vì lâu ngày nên không đủ và tên họ sợ có sai lầm, mong rằng những ngài nào là con cháu các cụ sẽ đính chính cho :
Nguyễn-viết-Ký, quán là Quất-Động, làm đến lãnh-binh Hải Dương hưu-trí thăng hàm đề-đốc.
Nguyễn-Long, quán Gia-Định, Nam-Kỳ, ngụ Hà-Nội, là con giai quan suất-đội Nguyễn vắn Nghĩa, cháu quan Nam-thiên thượng-trấn tổng-trấn Nguyễn-văn-Luận, làm thủy-vệ quân-cơ hồi quân Pháp hạ thành Hà-Nội năm Nhài-Ngọ (1882) sau quyền nhiếp phủ Da-Phúc, đi giám-sát trường Nam, có sự bất đồng với quan Chủ-khảo xin cáo hồi (3).
Nguyễn ván Thảo, quán làng Đông-Phù, buyện Thanh-Tri làm đến Vệ-úy phấo nghĩa ở kinh.
Vỡ-hữu-Hùng, quán làng Phú-Diễn, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà-Nội (nay thuộc Hà-Đông) làm đến Đốc binh quân thứ Sơn-Tây.
Nguyễn-Hữu-Dũng, quán làng Hạ-Tri, phủ Hoài-Đức, làm đến Phó quản-cơ Hải-Dương.
Phạm van-Duệ, quán buyện Tiên-Lữ, Hưng-Yên (là con ông Phạm- văn-Tài, Lãnh-binh Hưng-Yên) làm đến suất đội tỉnh Tuyên-Quan rồi mệnh-cố. (2) Cụ cử Nguyễn-dich-Trọng, tiều húy là Tốn có thi Đình khoa Canh-Thìn, nhưng bị hỏng và phải thoái hồi Cử-nhân mặc dầu trong kỳ thi bắn cụ đá quần cả ba kỳ, nghĩa là bắn trúng cả chín phát.
Nguyễn-Long cho (3) Tiêu-sử này là do ông Nguyễn-ngọc-Mai, thứ-nam cụ báng biết. Xin trân trọng kính tạ ông.
Trang sách 140Phó-bảng Khiên, không nhớ họ, người làng Lạc-Chính, Ý-Yên, Ninh.
Binh, nay thuộc Nam-Định, làm chức dốc-binh sau tử trận trong thành Nam-Định.
Phó-bảng Trờng Người phố hàng Tre Hà-Nội.
Phó-bảng Dụ Còn sáu vị nữa vì lâu ngày nên không sao biên được bết. Mong rằng các bạn ưa khảo-cửu sẽ bở túc thêm cho.
Trong bảng này có hai ông đại-khoa có chân Anh-danb.
TIỀN-ĐAM Tri-Tân số 5 ngày 1-7-1941.
Trang sách 141HỌC NGHỀ Cha mẹ ai cũng muốn gây dựng cho con, nhưng ngày xưa, không phải gia đình nào cũng củ thể cho con đi học, rồi đi thi, dù học văn hay học vũ. Bởi vậy, phần lớn các gia đình bình dân đều cho con theo một nghề-nghiệp, nếu có cho con đi học thì cũng chỉ mong sao con biết năm ha chữ, và nói theo các cụ, biết ba chứ ký, rồi đứa trẻ sẽ nghỉ học để đi học nghề.
Từ xưa ta đã quan niệm nghề trong tay là quan trọng, và con người sang hèn cũng cần phải có một nghề.
Ta có câu : Ruông bề bẻ không bằng nghề trong lay và sách cũng có chữ rằng :
Vạn khoảnh lương điền BẤT như bạc nghệ nghĩa là :
Một vạn mùnh ruộng lốt Không bằng mật nghè bạc Ngay trong các sách giáo khoa dạy trẻ cũng có những bài khuyên con người phải quý trọng nghề nghiệp của minh :
Nhất nghệ linh, nhất thân vình (1) Ai ơi phải quý nghề mình mới rên.
Hoặc buôn bún, hoặc thợ thuyền, Nghề gì cũng sẽ làm rên sang giàu !
Qua các điều trên ta thấy rằng nếu dân ta trọng văn học, quý võ nghiệp, thì đối với các nghề nghiệp kbác không phải là không có sự quý trọng.
Bởi vậy, không riêng gì giới binh dân, cả giới trung lưu, đôi khi cả hạng trí thức, khi thấy con cái học hành không thê đến nơi đến chốn được, các bậc làm cha mẹ, quan tâm đến tương lai của chúng, không ai có thể thờ o trước sự tạo dựng cho con một nghề nghiệp. (1) Một nghè tinh, một thân sung sướng.
Trang sách 142TẬP NGHÈ. - Nước ta, trước đây không có những trường dạy nghề, các 1bợ thuyền không phải đào lạo ở các lớp học nghề ra như ngày nay có những trường công nghệ, trường kỹ thuật, và các lớp dạy nghề của của Bộ Lao-động tại nhiều tỉnh.
Muốn tập nghề, đứa trẻ phải theo học một người thợ, phải đến ở hẳn nhà người thợ, hoặc không thi cũng phải ở suất ngày ở nhà người thợ, theo người này đi làm từ sáng đến lối mới về nhà mình.
Thường thường những người thợ cùng chung một nghề, họp nhau thành một bọn, người đứng đầu một bọn là Phó Cả. Người Phó Cả thường là người đứng tuổi, ít nhất cũng vào khoảng bốn chục tuổi trở ra, có kinh nghiệm về nghề nghiệp, lại khéo lén trong việc gian thiệp để nhận lĩnh công việc làm cũng như trong việc điều khiến các thọ bạn.
Chính người Phó Cả này thường nhận các em nhỏ tập nghề, các em nhỏ phần nhiều là con những người quen biết, hoặc người cùng làng cùng xóm. Bắt đầu từ ngày tập nghề, các em nhỏ được gọi là Phó Nhỏ.
Nếu Phó Cả hành nghề ngay tại nhà minh các Phó Nhỏ, thường chỉ một bai em là nhiều, phải đến nhà Phó Cả để học-nghề. Ở đây ngoài công việc về nghề nghiệp, Phó Nhỏ nhiều khi phải làm cả những công việc nhà của Phó Cả, như thởi cơm, nấu nước, quét tước nơi làm việc v.v.. Trong khi học nghề, Phò Nhỏ được Phó Cả nuôi ăn, nhưng phải chịu mọi sự sai phái của Phó Cả cũng như của tất cả các thọ đàn anh, nhất là những sự sai phải liên-quan tới nghề nghiệp. Thí dụ: học nghề thợ mộc, các em Phó Nhỏ phải khiêng gỗ, học nghề thợ rèn, các Phó Nhỏ phải kéo bễ, học nghề thợ nề, các Phó Nhỏ phải khuân gạch, bưng vữa v.v... Vừa làm lụng, các em vừa lập lành học nghề mình do Phó Cả hoặc thợ bạn đàn anh chỉ dẫn.
Nếu Phó Cả nhận việc ở nơi khác, Phó Nhỏ cũng như các thợ bạn phải theo Phó Cả tới làm việc tại chỗ. ở nơi đây, Phó nhỏ cũng phải chịu sai phái của Phó Cả trong mọi việc, từ việc rót nước đến công việc liên quan tới nghề nghiệp.
Phá Nhỏ cứ theo học nghề như vậy cho tới khi thành nghề, đã tự
Trang sách 143mình có thể làm được những công việc do Phó Cả giao cho như những thợ bạn khác. Lúc ấy, bắt đầu Phó Nhỏ được Phó Cả trả một số tiền công lùy theo công việc của mình cũng như các thợ bạn.
Trường hợp các Phó Nhỏ nói trên là những em đi học nghề khác nghề của cha mẹ ; bên những Phố Nhỏ này, có những Phỏ Nhỏ là con của Phó Cả, hoặc con của các thợ bạn. Những Phó Nhỏ này ngày ngày theo cha, hoặc nếu cha lim việc ở nhà thi ở nhà vừa học nghề vừa làm công việc trong nhũ. Các em cũng phải tập tành, và cũng phải siêng nang chịu sự sai phái của các thợ bạn của cha. Dù là con Phó Cà hay là coi nhỏ tới học nghề, các Phá Nhỏ muốn nghề được tinh đều phải siêng năng chịu thương chịu khó học hỏi mới hiều biết bết những cái hay của nghề mình.
Thành nghề rồi, các em học nghề muốn ở lại làm việc trong bọn thợ của Phó Cả hay đi làm riêng tùy ý, nhưng thường thường bao giờ các em cũng ở lại một thời gian khá lâu, có khi tới lúc người Phỏ Cả mệnh chung hoặc vì già yếu không làm việc được nữa, bọn thợ có người một người lên thay, lúc đó em có thể hoặc ở lại hoặc đi làm việc với một bọn khác.
Trên là nói đến những nghề thủ công, nhưng trong các nghề khác cũng vậy. Người đi buôn thường cho con cái minh đi theo để học buôn bán. Tại các hiệu luôn lớn ở thành thị, có những em nhỏ tới tập buôn bán cũng không khác gi những Phó Nhỏ tập nghề với các Phó Cả.
Trong nghề buôn bán, tuy vậy, các lái buôn Hường chỉ truyền nghề cho con cháu, họa hoằn lẩm mới có người nhận con người khác tới học việc ở cửa hàng mình.
Trong việc tập nghề, sự thành công hay thất bại phần lớn do sự thông minh của các trẻ em, các em tự tìm hiểu lấy nhiền, thấy các người lớn làm sao phải chú ý làm theo, sự chỉ dẫn của người lớn chỉ góp một phần vào trong sự thành nghề của các em, chỉ những bậc cha mẹ truyền nghề cho con mới đem hết lâm trí bắt buộc con phải lập tành.
Cũng là học nghề, nghề bốc thuốc của các vị lương y phải cần một
Trang sách 144sự chỉ dẫn cặn kẽ từ sự nhận mặt các vị thuốc đến cách bốc thuốc theo đồng cân đồng lạng, lại còn cách chẩn mạch xem bệnh. Những vị lương y đào tạo được một học trò kế nghiệp mình thật công phu, và kẻ học nghề cũng phải công phu, lại phải có một cái vốn văn hóa tối thiều đề có đọc nổi tên các vị thuốc, hiểu các bài thuốc, nhất là hiều, các được tính của mỗi vị thuốc.
Những nghề thầy cúng, thầy số kế học nghề cũng cần biết chữ.
Thường các thầy cúng truyền nghề cho con. Mỗi thầy cúng thường có một ngôi điện tại gia, những người cần cũng vái thường đến cúng tại điện này, và ngôi điện chính là nguồn lợi của thầy cúng.
Các thầy số, thầy xem chân giò, thầy tướng v..v... muốn thành nghề cũng phải biết chút ít chữ nghĩa và cũng phải có sự chỉ dẫn của một người biết nghề. .
Cũng cỏ những nghề, không cần phải tập nghề, lúc cần chỉ cần đi theo những người đã hành nghề truớc một đòi lần, học hỏi kinh nghiệm của họ là thành nghề : nghề mò cua bắt ốc, nghề kiểm củi v...v... Tuy không cần tập nghề nhưng cũng cần học hỏi những kinh nghiêm của nghề đề tránh những tai nạn rủi ro, và đề sự hành nghề có kết quả. Mò cua bắt ốc phải biết đâu là hang cua, chỗ nào nhiều ốc, và biết tránh hang rắn độc. Nghề đến củi phải hiểu cây nào làm củi tốt, cành nàn dễ đốn Có những nghề, con cứ sống với cha mẹ, lớn lên, cha mẹ làm con cũng làm rồi thành nghề. Tỷ như nghề thuyền chài, cả gia đinh sống trong một chiếc thuyền, sáng sáng ra sông, ra biên đánh cá thả câu, các em đến một tuổi nào, lự nhiên sống trong hoàn cảnh của cha mẹ rồi cũng thành thuyền chài biết nghề đánh cả buông câu, hoặc như nghề làm ruộng, cha mẹ làm ruộng, con cũng theo nghề của cha mẹ.
Lại có những nghề, các ông thày chỉ truyền cho một hai người học- trò, như nghề địa lý. Học nghề này không phải ai cũng đạt được, phải có con mắt đặc biệt để hiểu cũng là mặt đất chỗ nào là nước chỗ nào là núi, chỗ nào là tay long, chỗ nào là tay hở, chỗ nào có huyệt tốt, chỗ nào là huyệt xấu; lại biết sử dụng địa bàn, biết lróc long lầm mạch
Trang sách 145Tóm lại, muốn thành nghề nhiều ít, đều phải có sự tập nghề. Thành một người thợ giói hay không, chỉnh là do sự lập nghê có chuyên tâm chú ý hay không mà nên vậy.
NGHỀ NGHIỆP Ở NƯỚC TA -- Qua những trang trên về tập nghề, chúng tôi đã nhắc lới một số nghề nghiệp của ta xưa. Nghề nghiệp của ta, truớc đây được xếp theo bốn thành phần dân chúng là SÍ, NONG,.
CÔNG, THƯƠNG, nhưng trong mỗi thành phần này, nghề nghiệp lại có nhiều ngành khác nhau.
Trong hạng SĨ có NHO, Y, LÝ, SỐ. Nho là những người theo văn nghiệp hoặc thành đạt hoặc không, nhưng sống theo nghiệp văn. Thành đạt là hạng ông Nghè, ông Cử, đỗ đạt và nhờ sự đỗ đạt được Triều định bổ dụng vào bàng quan lại hoặc các chức vụ khác trong đất nước.
Những người này phải dùng đến ngòi bút của mình trong khi hành nghề. Đây là những người đứng đầu hàng Nho. Có thể là những người trong ngành hành chánh từ tri huyện, trí phủ trở lên cho đến hàng tỉnh quan như Bố Chánh, An Sát, Tuần Phủ, Tuần Vũ, Tổng Đốc, hoặc có thể lên cao hơn nữa vào hàng Thượng Thư hàng Tư Trụ tại Triều đinh ; cũng cỏ thể là những người được bỗ vào ngành học quan như Huấn Đạo, Giáo Thụ, Kiềm Học... Sau hàng trên là các ông đồ, học hành nhiều, nhưng số phận lận đận, thi hoài mà chỉ lảo đảo trường ốc, công không thành, danh không toại, đành mang cái sở học về nhà dạy trẻ. Cũng phải kể vào hàng Nho các ông Tú, ông Khóa, và cả một số các nhà nho, sinh nhai bằng ngòi bút, nhưng không dạy trẻ, mà bán chữ bằng cách nghĩ và viết những đối trướng, những bài văn viếng, văn tế, vản mừng, văn chúc v.v... Ta gọi những người này là những người nghĩ thuê viết mướn. Trong những người này, có những người có vốn liếng mở cửa bàng đối trướng đề bán chữ.
Còn nhiều hạng Nho, có hạng được xã hội trọng vọng, tháng ngày ngâm thơ đọc phú, ở xã thôn giữ những chân đàn anh trong làng, cũng có hạng Nho bị xã hội khinh rẻ, như những người làm nho làm lại tại các buyện đường, phủ đường, tỉnh đường v.v... tôm lại tại các công môn dùng chữ nghĩa đề bày đặt đơn từ xui nguyên dục bị, dùng chữ
Trang sách 146nghĩa đề ăn không nói có v.v... Hạng nho này mọi người đều ghê tởm. và la đã có câu :
Một đời làm lại làm hại mười đời Các cụ cho rằng làm nghề nho lại lổn phúc đức, di hại đến con cháu.
Ở phủ Gia Lâm, tinh Bắc-Ninh trước đây, có làng Thổ-Khối, dân làng có nhiều người làm nghề nho, lại, - lẽ tất cũng có người đứng đắn lấy nghề nho lại làm kế sinh nhai, không bày điều đặt truyện làm hại ai, nhưng vì thành kiến của người đời đối với nghề nho lại, nên đành chịu mang tiếng lạ. Ta lại còn có thành kiến, khi nào có kẻ nho lại lới nhà chẳng tai này cũng vạ khác, và trù ếm nhau người la thờng cầu cho nho lại sẽ lới nhà kẻ người la ghét. Tực ngữ có câu : Nói dốt Thồ Khối lới nhà. Hây là một câu trù ếm, vì Thổ Khối lức là những ông nho lại quán làng Thổ Khối.
Sau hạng Nho, trong Sĩ là Y. V là nghề làm thuốc, thầy thuốc chân mạch xem bệnh cho đơn hoặc bốc thuốc theo đơn. Muốn học nghề thuốc cần phải thông chữ nho.
Lý Xếp hàng thứ ba trong hàng Sĩ. Đây là những thầy địa lý xem mạch đất đặt mồ mả hoặc đặt bướng nhà v.v... Lý còn gồm những người dùng kinh truyện đoán mọi việc cho người khác.
Cuối cùng trong hàng Sĩ là Số, gồm các thầy bỏi toán đoán số mệnh của mọi người. số cũng chia làm nhiều nghề khác nhau : xem hói dịch, đoán tử vi, xem tướng, xem chiết tự v.v.., Hạng Sĩ với bốn ngành Nho, Y, Lý, Số đứng đầu tử dàn.
NÔNG là hạng thứ hai trong tử dân. Nông là nghề làm ruộng, Dân la quý Sĩ thì cũng quý Nông và luy nhất Sĩ nhì Nông, nhưng cũng có khi Nông hơn Sĩ. Ta có câu :
Nhất Sĩ nhì Nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ :
Tuy NÔNG là làm ruộng, nhưng phải gồm trong nông lất cả các ngành có liên quan tới ruộng đất, đó là NGƯ, TIÊU, CANH, MỤC.
Trang sách 147NGU là nghề đánh cá, nhưng phải kế cả những nghề khác dính dấp ít nhiều tới cá nhi muối cá, làm mắm v.v.. Cả ở trong ruộng mà ra, do đó, ngư xếp trong bạng nông.
TIÊU là nghề đốn củi đốt than.
CANH là nghề luồng trọt như làm ruộng, trồng rau, trồng cây lấy trái. Nghề tầm tang cũng xếp vào canh. Ngoài ra cũng xếp vào canh tất cả các nghề khác vì sử dụng hoa màu như nghề hàng sản, hoặc liên quan tới trồng trọt nhi nghề chế hóa trà, ủ nấm v.v..
MỤC là nghề chăn nuôi súc vật dùng trong việc canh nông cùng các súc vật khác.
Sau hạng NÔNG là đến hạng CÔNG gồm tất cả các thợ thuyền. ( ó thể xếp thợ thuyền ra từng loại tùy vật liệu sử dụng, vật liệu căn cứ theo ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ.
Sử dụng kim liệu có các thợ kim hoàn, thợ rèn, thợ đúc đồ đồng...
Sử dụng mộc liệu có các thợ mộc, thợ tiện, thợ chạm, thợ đan rổ rá nong nia v.v...
Về thủy có nghề chở đò.
Về hỏa có các nghề đốt than, nghề rèn, nghề đúc.
Về thổ có các nghề tbợ nặn, thợ đất đấu, thợ nung vôi, thợ làm gạch, thợ hồ v.v...
Phân chia theo ngũ hành chỉ là một sự phân chia tương đối các nghề nghiệp, thật ra có những nghề vừa dùng bành này lại vừa cần đến hành khác. Thợ kim boàn dùng kin liệu nhưng cần đến lửa ; thợ nề dùng thổ liệu nhưng lại cần đến thước v.v... Lại có nghề không thể xếp vào hàng nào được như nghề đồ lễ chuyên mổ thịt trâu bò lợn, nghề hát xướng v.v...
Cuối cùng trong tử dân là THƯƠNG, chỉ những người buôn bản, mua chỗ này bán chỗ khác, đi xa về gần hoặc buôn bán lại chỗ. Có những đại thương, mở hàng buôn lớn, buôn làu bán đò, có những tiều thương chỉ buôn bán nhỏ, lời lãi chẳng bao nhiêu. Lại có những người
Trang sách 148buôn thúng bán mẹt, quang gánh bán hàng, tuy gọi là đi buôn, nhưng chính là dùng sức lao động đổi bát mồ hôi lấy bát cơm, mua hàng của người ở nơi này, gánh đi bán nơi khác, liền lời lãi chỉ vào tiền công, và la hằng nói lấy công làm lãi.
CHA MẸ VỚI VIỆC GẤY DỰNG CON CÁI - Cha mẹ ai cũng muốn cho con cái hay, và trong việc gây dựng cho con cái, các người thường mong mỏi con cái sẽ hơn người, nhưng sự mong mỏi của các người cũng còn tùy boàn cảnh, lùy dịa vị xã hội của mỗi người và nhất là lùy ở sự thông minh, ở khả năng của đưa nhỏ. Bởi vậy sự lựa chọn cho con cái một nghề cũng còn tùy thuộc nhiều yếu tố mà chinh cha mẹ khòng thể có đủ được. Dù sao, cha mẹ ai cũng muốn kén chọn cho con một nghề lương thiện, không hại lới phúc đức, và do đó trong khi hành nghề không hại tới người khác.
Có những nghề, không cha mẹ nào muốn lựa cho con như nghề làm lại đã đã trinh bày ở trên. Ngoài ra, tục ngữ ta có câu :
Bé đi câu, lớn đi hầu, già làm khách nợ.
Ba nghề đi câu, đi hầu và làm khách nọ là những nghề không bao giờ cha mẹ khuyèn con cái nên làm, những nghề này bị xã bội Việt-Nam ta ngày xưa khinh bỉ.
Đi câu, có thể hiểu là câu cá, nhưng là câu vụng trộm trong hồ ao người khác, nghĩa là ăn cắp. Và cũng thể hiểu đi câu là câu gà vịt, đơm lợn, nghĩa đi lấy không gà vịt lợn của người khác.
Đi hầu là đi hầu bạ người khác, nhưng ý chỉnh có lẽ là đi làm mó, lức là làm kẻ cbịu sai phải của cả làng Hơn nữa đi hầu, dù không phải làm mõ cũng làm nghề hạ liện, người đi hầu phải chịu sai bảo, phải nịnh bợ kẻ sai bảo minh.
Di làm khách nợ lức là đi đòi nợ thuê, một nghề rất vô nhân đạo ở xứ la, vì kẻ đi đòi nợ thuê thường đến nhà các ron nự thằng thúc hạch sách, nằm lý ở nhà những người này, bắt buộc những người này phải cầm đồ đạc đồ cung phụng cho hắn và để trả nợ.
Trang sách 149Ngoài các nghề trên bị xã bội Việt-Nam khinh rẻ, còn một nghề nữa không những bị xã hội coi thường, mà kẻ hành ngàờ này còn đề lại ảnh hưởng tai bại, đến con cháu, ảnh hưởng trực tiếp, không phải ảnh hưởng về phúc đức như các nghề thất đức Đây là nghê hát xướng đàn địch, các cụ ruệnh danh là xướng ca về loài, mà ngày nay chúng ta gọi tôn trọng là nghệ sĩ là ca sĩ, và hát xướng là làm nghệ thuật.
Tại sao tổ tiên chúng ta lại coi nghề hát xướng là xướng ca vô loài & Xin thưa, dần tộc Việt-Nam chúng ta là một dân tộc tôn trọng đạo đức, mà trong đạo đức tbì luân thường đứng đầu. Giữ vững luân thường thì vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè phải có thứ vị, vua là vua, bày tôi là bày tôi, cha là cha, con là con... không thể có sự đảo lộn được. Vợ không thê ngồi đề chồng quỳ lạy, con không thế ngồi đề cha quỳ lạy, em không thể ngồi đề anh quý lạy... và hơn nữa chồng không thể gọi vợ là mẹ, cha không thể gọi con là vua... Tất cả những cái đó là vô luân, và việc vô luân này lại hằng ngày diễn ra trong các ban bát : con đóng vai vua, cha đóng vai bày tôi quỳ lạy, anh em ruột đóng vai đôi vợ chồng, và vợ chồng lại đóng vai mẹ con hoặc cha con. Như vậy luân thường không còn nữa dù chỉ trong một lúc trình diễn, và điều này xã hội đạo đức Việt-Nam không thề chấp nhận được. Do đó, họ bị coi là vô loài và họ đã bị xã bội tước đoạt rất nhiều quyền lợi không những riêng cho họ mà đến cả con cháu đến ba dời : Ba đời cou cháu không được đi thi, và ở chốn hương thôn thì đến ba đời cũng không ai bầu cho con cháu những người làm nghề bát xướng vào các chức vự lãnh đạo dân làng.
Quan niệm trên, có lễ chúng ta thấy quá hẹp hỏi đối với giới ca nhạc ngày xưa. Theo sử , sách Ông ĐÀO-DUY-TU chỉ vì cha làm quản giáp, nghĩa là đứng đầu các nhạc sĩ trong một bọn xưởng ca mà không được ứng thí tại miền Bắc với vua Lê, đã phải vào Nam lập công với chủa Nguyễn.
Quan niệm trên quả thật có hẹp hỏi, nhưng vi vấn đề đạo đức, vấn đề bảo tồn thuần phong mỹ tực và nhất là vì ý thức luân lý cần thiết để lự vệ lự tồn, lổ tiên chúng ta bỏ buộc phải duy trì sự hẹp hỏi này. Vả chăng, xua kia chính giới xướng ca đã tạo ra nhiều ảnh hưởng không
Trang sách 150đẹp đối với mọi người cũng như đối với ngay chỉnh họ. Họ đã tự có những mặc cảm nguy hại là chính họ không đứng đắn, bị coi rẻ, và từ mặc cảm này họ đã có những hành động giảm nhân cách trong cuộc sống và đã nhiều khi họ bừa bãi đề đi đến tội lỗi, - những tội lỗi này bắt đầu từ hoàn cảnh giả tạo lrong lúc trình diễn đề dần đi đến sự thật. Những điều xấu xa của họ bị người đời ghê tảm, và thành kiến xướng ca vô loài càng ăn sâu vào đầu óc mọi người trong xã hội.
Ngày nay giới xướng ca đã được nâng lên hàng nghệ thuật được mọi người quý trọng, và ai ai cũng cố gạt bỏ thành kiến xáng ca vô loài cổ bủ của người xưa. Vậy mà đôi khi những truyện vô loài cũng đã xảy ra giữa giới xướng ca với nhau và đã làm đầu đề cho biết bao nhiêu bài bảo. Tôi nhớ đưới thời Chính Phủ Ngô-Hình-Diệm, cỏ một ông Bộ Trưởng họ Nguyễn, kiêm nhiều chức vụ lớn khác đã bị một nữ ca sĩ uê hoặc, rủ nhau đi Pháp, - ông Bộ Trưởng lấy cớ đi công cán. Trong khi ở Pháp, hai người đã có những hành động rất bỉ ổi đến nỗi đến tai Ngô-Đinh Diệm. Khi ông Bộ Trưởng về nước, Diệm hỏi lới, ông đã trả lời : « Lạy cụ, vợ con mới chết! • Việc này, sau ngày 1-11-1963 đã có báo nói tới.
Trong giới xướng ca, sưa các cụ còn liệt vào cả các cô đầu, dùng giọng bát, cung đân nhịp phách để quyến rũ và mê hoặc bọn nam nhi.
Đối với các cụ Bà, cô đầu là đầu mối mọi sự tan vỡ của các gia-đinh :
Lấy quan, quan cách Lấy Khách, Khách về Tàu (1) Lấy nhà giàu, nhà giàu hết của Dưới thời Pháp thuộc có nghề mật-thám cũng không cha mẹ nào tuốn cho con theo đuổi và chính những kẻ làm nghề này cũng không muốn ai biết lới nghề-nghiệp của mình, khác hấn với ngày nay, nhiều vẫn vỗ người không biết có đúng làm mật thám cho Mỹ không, nhưng ngực tự nhận mình là CIA, tức là mật thám Mỹ.
Gây dụng cho con cái là bổn phận của cha mẹ, và chính vi bổn phận này, cha mẹ bao giờ cũng thận trọng trong công việc lựa chọn nghề nghiệp cho các con. (1) Tiếng Khách dùng dề chỉ người Tàu.