VĂN-HỌC VÀ THI-CỬPhần 6 · trang 66–108
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 66VĂN-HỌC VÀ THI-CỬ VĂN-HỌC VÀ THI CỬ Nước nào cũng vậy, việc học đều được chia ra từng cấp bậc, mỗi cấp bậc đều có những kỳ thi tốt-nghiệp với những văn bằng riêng chứng tỏ người có văn bằng đã tới trình-độ ván-hóa nào.
Và Quốc-Gia khi tuyền kén nhân lài đều kén qua những ký thi, tuy rằng học lài thi phận, nhưng những thí sinh đã lọt qua ký thi tuyển dù sao cũng phải có một học lực cần thiết đủ đảm nhiệm công việc quốc.
Kia giao phố.
Đã có học thì phải có thi, xưa nay ở đâu và bao giờ cũng vậy.
Các trẻ em một khi đến tuổi đi học, đã bước chân vào ghế nhà Irưởng, là bắt đầu bước vào con đường sẽ đưa các em tới kỳ tbi. Nhỏ có kỳ thi nhỏ, lớn có kỳ thi lớn. Mỗi ký thi biết bao nhiêu sĩ-tử, và sự dậu trượt đã làm hồi-hộp biết bao nhiêu trái tim non.
Tại Việt-Nam mỗi mùa hoa phượng lới, sau chín tháng bọc hành là những kỳ thi được mở ra.
Kẻ đi thi, người đi chấm thi, mỗi người một tâm-sự, ai có giống ai !
Nói đến kỳ thi, cần phải nói tời việc thi-cử tại nước ta lừ xưa tới nay cùng với học-chế Việt-Nam qua các thời đại, đề so-sánh xưa nay, Af hiểu xưa và đề biết nay.
VIỆC HỌC TẠI NƯỚC TA TỪ BUỖI ĐẦU TIÊN Kệ lừ khi lập quốc từ đời vua Hùng-Vương, trong sử sách không Híấy chép nước ta có thứ chữ riêng nào, và cả một thời đại thuộc về
Trang sách 67tiền sử hoang-đường, việc học của dân tộc, ta cũng mơ bồ như không như có. Mãi cho tới thời Bắc thuộc, tức là khi nhà Tây Hán đánh nhà Triệu, xâm chiếm nước Nam Việt chia làn quận buyện, người Trung.
Hoa chiếm nước ta, bắt người nước ta theo phong lục Tàu, thu nhận văn-bóa Tàu và học chữ Tàu tức là chữ Hán, việc học ở nước ta mới như bắt đầu !
Học chữ Hán lừ thời Bắc-thuộc, nhưng việc học thật ra thiếu tổ- chức và không có một nền giáo-dục rõ-ràng. Ai muốn học sao thi học !
Giao-thiệp với người Tàu, ai cần học chữ Tàu thi học, và các quan cai- trị người Trung-Hoa, lo đến bóc lột ta thì nhiều, còn chăm đến sự học của ta thật là rất hiếm.
Cho đến tận đời Sĩ-Nhiếp, vào lúc cuối nhà Đông Hán, tức là cuối thế kỷ thứ II, bước sang thế ký thứ III, việc giáo-dục mới bắt đầu có tổ chức.
Trước đó những người trí thức đã từng đậu hiếu liêm, mậu-tài.... muốn học muốn thi đều phải sang du học bên Trung-Quốc như Lý- Cầm, Lý.Tiến và Trương-Trọng là những người đã từng được vua Linh Để nhà Hán bổ vào chức quan thời bấy giờ.
Lý-Tiến làm thứ-sử Giao-Chỉ.
Lý-Cầm làm Tư-Lệ Hiệu-úy.
Trương-Trọng làm Thái-Thú Kim-Thành.
Sau đời Sĩ-Nhiếp, việc học có được tổ-chức tại nước ta, nhưng chỉ ở trong một khuôn khổ rất đơn giản và trinh-độ giáo dục cũng rất thấp kém.
VIỆC HỌC QUA ĐỜI ĐINH, ĐỜI NGÔ VÀ ĐỜI TIỀN LÊ ở đây không nói tới những thời-kỳ ngắn-ngủi dân ta nổi lên chống lại người Tàu suốt trong thời kỳ Bắc thuộc kể lừ sau khi Sĩ-Nhiếp đã đặt một nền móng đầu tiên cho sự học tại nước ta cho đến khi họ Khúc dấy nghiệp vào cuối đời nhà Đường.
Trang sách 68Trong những thời-kỳ này, Triệu-Ẩu chống Đông-Ngô, Lý-Nam-Đế đánh quân Nhà Lương, Triệu Việt Vương đánh Dương Sàn, Mai Hắc-Để cự quân Đường Huyền Tôn, Bố Cái Đại-Vưrơng đánh Cao-chính-Bình, các vị chỉ buy này mắc lo đương đầu với quân Tàu, không có thì giờ nghĩ đến việc học của dân-chúng, vả chăng sự nghiệp của các vị đó cũng không lâu dài để các vị đó khả-dĩ có thề đề ý tới vấn-đề giáo dục của con dân được.
Do đó việc học cứ ở trong trình độ thấp kém với sự tổ chức còn sơ sài như khi mới được Sĩ-Nhiếp gây nền tảng vậy !
Rồi họ Khúc đấy nghiệp, qua mọi biến chuyền, Ngô Quyền thu hồi được nền độc lập cho nước nhà, lập ra Nhà Ngô, và sau nhà Ngô là nhà Đinh, việc học của nước ta cũng không tiến hơn fì trước.
Sở dĩ tình trạng như vậy là vi lúc bấy giờ Ngô chúa cũng nhu Đinh Vương, dẫu rằng nước đã độc lập, nhưng nội lình chưa ổn định và tinh hình chính trị lại phức lạp nên các vị này phải chú trọng đến chính trị và quân sự, đành không lưu tâm đến việc giáo-dục của dân chúng được.
Không mở nhà học, không mở kỷ thi. Ngày nay ta muốn tìm hiều sự học về thời này, thật là không thấy gì hơn, ngoài những điều sơ sài về học chế từ đời hậu Hán !
Và cả cho đến đời Tiền Lê cũng vậy ! Nội tinh đã rắc rối, Triều đình lại còn bận lo chống với quân Tống chỉ tìm cách gây truyện với nirớc ta.
VIỆC HỌC DƯỚI TRIỀU LÝ Lý-công Uần được triều đinh nhà Tiền Lê tôn lên làm vua thay vua Ngọa-Triều là Long-Đĩnh.
Lúc này, nội tinh trong nước đã khả quan hơn trớc, và đối ngoại nhà Tống mặc dầu vẫo có tham vọng về phương Nam, nhưng đã nhin mrớc ta với con mắt e dè.
Trang sách 69Ngay từ khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ lức là Lý Công Vần đã chú ý tới việc học hành và giúp đỡ cho các chùa đề khuếch trương sự dạy học. Chính Lý Thái Tổ trước đây cũng là học trò của một cửa chùa và thày dạy nhà vua lúc nhỏ chính là nhà sư Lý Khánh Vân.
Việc học tuy vậy mới được phát triễn tại các chùa chiền, và triều đình cũng chưa nghĩ gi đến việc mở khoa thi đề kén nhân tài. Ai học cứ học, và ai tài giỏi, có người tiến cử sẽ đắc dụng. Việc học có mở mang, nhưng chưa có một tổ chức rộng rãi.
VUA LÝ-THÁNH-TÔN VỚI VIỆC ĐỀ CAO NHO HỌC Cho đến đời vua Lý Thánh Tôn, việc học hành được rộng mở và ngoài các chùa chiền, trong dâu gian cũng có các trường dạy học.
Nho học được nhà vua nâng lên bực quan trọng. Nhà vua, ngoài việc mở trường, cho xây Văn Miếu lại Thăng Long đề thỏ đức Không Phu Tử ; tại các trấn các xã lần lượt cũng xây các Văn chỉ.
Nhà vua lại cho đắp tượng Chu Công, tượng Khổng Tử và thất thập nhị hiền đề thờ kính.
VUA LÝ-NHÂN-TÔN VỚI KHOA THI TAM-TRƯỜNG ĐẦU LIÊN Tiếp tục sự nghiệp mở mang nền học của vua Lý Thánh Tôn, vua Lý nhân Tôn càng chú ý hơn lới các nhân tài trong nước. Nhà muốn tuyền những bậc minh kinh bác học đề ra trị nước yên dân, đem sự học làm lợi cho tổ quốc.
Năm Thái Ninh thứ tưr lức là năm Ất Mão 1075, nhà vua cho mở khoa thi TAM TRƯỜNG nghĩa là thi ba kỳ đề kén nhân tài. Đây là khoa thi đầu tiên ở nước ta, từ khi nền Hán Học chuyền nhập sang nước Nam. Kết quả kỳ thi này rất mỹ mãn. Vị thủ khoa là ông LÊ-VĂN THỊNH, sau làm đến chức thái sư và là một người có tài.
Trang sách 70Năm sau, năm Binh-Thìn, vua Lý-nhân-Tôn lại cho lập trường QUỐC TỬ GIÁM để con cháu công thần vào học.
Trong dân gian, việc học càng được phổ biến hơn, ở chùa chiền cũng như ở dân xã.
Bắt đầu từ thời này, nước ta chính thức có những ông đồ dạy học.
Cùng với công việc lập trường QUỐC-TỬ-GIÁM, vua Nhân-Tôn không ngớt khuyến khích sự học. Nhân tài được kén chọn qua các kỷ thi.
Kỳ thi thử hai, nhà vua mở vào năm Bính-Dần, 1086. Qua ký thi này, nhà vua chọn những người tài giỏi để sung vào HAN LẨM VIỆN một viện mà ngày nay chúng là đang ao trớc được chóng thành lập tại miền Nam nước Việt.
Vị thủ khoa của khoa thi năm Binh-Dần là Ông MẠC-HIỀN-TÍCH được bố làm Hàn Lâm học sĩ.
VUA LÝ-ANH-TÔN VÀ VUA LÝ-CAO-TÔN VỚI VIỆC MỞ RỘNG CÁC KHOA THI Sau khi vua Nhân Tôn bang hà, các vua kế tiếp là Lý Anh Tôn và Lý-Cao-Tôn đều có nhiệt lâm với việc học ; các kỳ thi đã được mở nhiều hơn đề kén những người có nắng lực ra giúp nước.
Năm Đại Định thứ 13, Nhâm-Thâu, 1152, vua Lỷ-Anh-Tôn mở khoa thi ĐINII, và đến năm Ất-Dậu, 1165, nhà vua lại mở khoa thi Thái-Học- Sinh đề kén những người ra làm quan bổ đi các trấn. Trong khoa thi Thái-Học-Sinh có ký thi về CÁCH TRỊ DÂN. v các kỳ thi LẠI ĐIỂN khảo về Hinh, Luật, Thư, Nhà vua lại cho mở Toán đề kén hàng Thơ-Lại nghĩa là nhân viên các văn phòng các cấp.
Vua Lý-Cao-Tôn cũng cho mở nhiều khoa thi.
Nám Trịnh Phù thứ 10, Ất-Ty, 1185 có khoa thi về Kinh Thi và Rinh Thư để chọn người học rộng tài cao, khoa thi này có hai mươi người
Trang sách 71trúng tuyền, Ông Bùi Quang-Khải đỗ đầu, sau đã trở nên một công thần triều Lý. Mười năm sau, năm Ất-Mão, 1195 nhà vua lại cho mỏ khoa thi TAM GIÁO. Nho, Thích, Lão đề kén những người tinh thông về ba ngành Phật, Không và Lão.
Tóm lại về đời Lý, Hàn học rất thịnh và chính các nhà vua triều Lý đã đặt nên những nền móng vững chắc cho sự học của nước ta. Lúc đó, Nho học thịnh và lên cao, nhưng Phật giáo và Lão giáo cũng đồng thịnh.
Rất tiếc, tôi đã tìm kiếm nhiều mà không gặp được tài liệu nào chép về chương trình giáo dục và thế lệ thi cử triều Lý. Rất mong vị nào có tài liệu cho phổ biến để mọi người cùng đọc.
VIỆC HỌC DƯỚI TRIỀU TRẦN Triều Trần lên thay triều Lý tiếp tục mở mang việc học bành và ngay từ vua Trần-Thái-Tôn, vị anh quân khai sáng nhà Trần, việc thi cử và giáo dục đã được tổ chức chu đáo hơn so với triều Lý. Có trường học, có kỳ thi, và thi cử có luật có phép đề việc tuyền dụng nhân tài được sác-đáng.
NHỮNG PHÉP THI VÀ KHOA THI Niên hiệu Thiên Ứng Chính-Binh thứ nhất, năm Nhâm Thin, 1232, vua Trần Thái-Tôn mở khoa thi Thái-Học-Sinh.
Trong khoa thi này, để phân biệt cao thấp nhà vua phân chia các tân-khoa làm ba cấp : nhất giáp, nhị giáp và tam giáp. Phép thi ở nước ta có tam giáp bắt đầu từ đó.
Vị thủ khoa Nhâm Thin, đệ nhất-giáp đệ-nhất danh là Trương Hanh được bỗ-dụng tại triều.
Đến năm 1247, nhân khoa thi nhà vua lại chia đệ nhất giáp làm tam khôi : Trạng-nguyên, Bảng nhữn và Thám-hoa. Những người miền Bắc đậu Trạng-nguyên gọi là Kinh Trạng-nguyên, còn những người Thanh-
Trang sách 72Nghệ đậu Trạng-nguyên gọi là Trại-Trạng-Nguyên. Nước ta có Trạng từ đó.
Vị trạng-nguyên đầu tiên, nghĩa là người đỗ thủ khoa nám đó là Nguyễn-Hiền, 13 tuổi.
Lệ thi cử này được giữ suốt đời vua Trần Thái-Tôn, cho đến đời vua Trần Anh-Tôn.
Niên-hiệu Hưng-Long thứ 12, năm Giáp-Thin, 1301, vua Anh-Tôn có định lại phép thi như sau :
Khoa thi sẽ gồm 4 kỳ :
Kỳ nhất : Ái-tả Kỳ nhì : Kinh-nghĩa, thì, phú Kỳ ba : Chiếu, biều, chế Kỳ tir : Vàn sách.
Khoa Giáp-Thin này có hơn bốn mươi sĩ-tử trủng cử, và Trạng. nguyên khoa đó, chính là ông Mạc-đĩnh-Chi, người đã đi sứ sang Trung Hoa và đã khiến cho người Tàu phải khiếp phục về tài ứng đối của người nước Nam. Mạc-đĩnh-Chi lại chính là tổ-tiên Mạc.đáng-Dung, sau này lập ra nhà Mạc.
Đến đời vua Trần Duệ-Tôn phép thi lại được sửa đổi vào năm Long Khánh thứ 2, Giáp-Dần, 1374.
Khoa thi Thái-Học-Sinh đỏi là khoa thi TIẾN SĨ. Các ông Tiến-sĩ nước Nam bắt đầu có và trở nên một nong mỏi của mọi sĩ tử. Trong dân gian về dịp Trung thu có các ông Tiến-sĩ giấy cho các trẻ em chơi.
Cha mẹ cho con chơi ông tiến sĩ giấy để mong một mai con sẽ đậu tiến sĩ làm rạng danh cho gia đinh.
Trong các khoa thi Tiến-sĩ các ông Trạng-nguyên, Bảng nhữn, Thám hoa và Hoàng-giáp đều gọi là Tiến-sĩ cập đệ, còn các tân khoa khác là Đồng-Tiến-sĩ.
Vua Trần Duệ Tôn đặt ra lệ thi HƯƠNG, những người đậu kỳ thi này gọi là HƯƠNG CỐNG và chỉ các Hương Cống ruới được kỳ thi Tiến-sĩ.
Trang sách 73Vua Trần Thuận Tôn về sau cũng có sửa đổi thêm phép thi, phỏng theo chế độ thi cử của nhà Nguyên, bỏ kỷ ám tả và chỉ còn lại bỗn kỳ gọi là văn thể tứ trường :
Trường nhất : Kinh nghĩa Trường nhì : Thi, Phú Trường ba : Chiếu, Biều, Chế Trường tư : Văn sách Phép thi mới này áp dụng từ khoa thi năm Quang-Thái Thứ IX 1396. Kề từ năm này, khoa thi Tiến Sĩ gọi là THI HỘI. Thi Hội tô-chức một năm sau khoa thi Hương.
Phép thi về đời Trần được tổ chức có quy-củ và được sửa đổi để ngày càng kỹ-lưỡng hơn. Chính trong đời nhà Trần đã xuất-hiện những bậc vàn-học lỗi lạc và danh-lưu muôn thuở : NGUYỄN-HIỀN, MẠC-ĐĨNH.
CHI, HÀN-THUYÈN, CHU-VĂN-AN v.v...
VIỆC GIÁO DỤC Dười triều nhà Trần, nếu việc thi-cử được tổ chức có quy-củ, thi việc giáo-dục cũng đã có một nền-nếp tuy không hoàn-hảo nhưng cũng có thể gọi được là hơn các triều trước nhiều.
Chính vua Trần Thái-Tôn, vào năm Nguyên-Phong thứ III, nắm Quý- Sửu, 1253, đã lập ra QUỐC-HỌC-VIỆN đề giảng văn-chương cũng như lập ra GIẢNG VÕ-ĐƯỜNG đề giảng võ-nghệ.
Việc học đã mở-mang nhiều, và nhà vua ngoài việc văn-học đã không quên võ nghệ, trí dục và thể dục. Rắt tiếc ngày nay ta không rõ chi-tiết về cách tổ-chức và chương trinh thời dó ra sao.
Đến đời vua Tràn Thuận-Tùn, việc thi-cử được cải cách lại đã đành, việc học hành cũng được khuyếch-trương rộng hơn trước. Không kể Quốc-Học-Viện thành-lập tại kinh-dô nhà vua cho bở tại các Lộ các quan Đốc Học để dạy Sinh Đồ, và lại các châu phủ thì có lập ra chức Giáo Thụ đề sán-sóc việc học.
Trang sách 74Hàng năm các Lộ chọn người tuấn tủ cử về Triều đình đề thi, việc kén chọn này khuyến khích rất nhiều cho sự học Về cuối đời nhà Trần trong các môn học có thêm món Toán-Pháp cho nên đến đời nhà Hồ, năm Khai-Đại thứ I1I, khi Hồ Hán-Thương mở khoa thi Ất-Dậu, 1405 các sĩ-tử phải thi thèm món nầy.
Vì muốn mua chuộc lòng người nên khoa thi này nhà Hồ lấy đỗ nhiều tất cả 170 người. Thủ khoa năm đó là Hồ-Ngạn-Thần.
VIỆC HỌC DƯỚI TRIỀU HẬU LÊ Ở đây không nói nhiều tới nhà Hồ quá ngắn ngủi và cũng không nói tới thời nội-thuộc nhà Minh vi việc học trong lúc này đâu còn quy củ nữa ! 'Ta đi ngay vào việc học dưới triều Hậu Lê, nền vần-học Hậu Lè đã có thời thật là thịnh đạt.
Ngay sau cuộc chiến thắng quân Minh, khỏi phục độc-lập cho nước nhà vua Lê Thái-Tổ nghĩ ngay lới việc tổ chức nền giáo-dục.
Trường Quốc Tử Giám được mở ở kinh-dô và các học-biệu được mở ở khắp các Lộ và các Châu, Phủ.
THI-CỬ DƯỚI TRIÊU LÈ Ngay một năm sau khi lên ngôi vua, vào năm Thuận-Thiên thứ II Kỷ-Dậu, 1429, vua Lê Thái-Tổ cho mở khoa Minh-Kinh. Các quân-nhân các Lộ, các nhân-sĩ, cáo quan văn võ lir lứ phẩm trở xuống đều ứng- thi : Hai nái sau, vào nằm Tân-Hợi, 1131, nhà vua lại mở khoa khi Hoành-Tử.
Hai kỷ thi này, nhà vua cốt mở đề đám sĩ-phu củ tài, vì trong mấy năm loạn-lạc không thể tỏ tài được, nay được dịp phô bày văn chương chữ nghĩa, và nhỏ vậy việc kén dụng nhân tài cũng dễ dàng.
Triều Lê cũng chủ-trương như triều Trần nâng cao sự học và việc khảo thi được coi làm trọng.
Trang sách 75Nắm Giáp-Dần, Thiệu-Bình nguyên niên 1434, vua Lê Thái-Tôn, ngay khi mới lên ngôi đã ấn-định chương-trình khảo thí với bốn ký :
Trường nhất : Kinh-nghĩa và Tứ-thu-nghĩa Trường nhì : Chế, Chiếu, Biều Trường ba : Thi, Phú Trường tư : Văn sách Năm sau, năm Ất-Mão, nhà vua cho mở khoa thi Hương. Các quân. nhân, các giáo chức, dân chúng ở các Lộ đều được ứng thi.
Năm 1438, nhà vua ấn định lệ thi ba năm mở một kỳ và các thí sinh phải trải qua ba kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình. Các thí sinh trúng tuyền cũng được chia làm Tam-giáp như lúc đầu ở triều Trần.
Năm 1442, thi Hội và thi Đình được mở kỷ đầu tiên và cũng trong năm này, nhà vua ra lệnh dựng bia ghi tên những vị tân-khoa tại Văn- Miễu, hồi đó là nhà Thái-Học.
Vua Lê Thánh-Tôn, khi nối ngôi vua Thái-Tôn, cũng tiếp-tục nâng sự học tại nước ta Năm Quảng-Thuận thứ III, Nhâm-Ngọ, 1462, nhà vua định lại phép thi Hương. Ai trúng tuyển thi Hương, năm sau được dự kỳ thi Hội.
Cũng trong năm nay, nhà vua ấn định chia làm hai hạng những người trúng tuyền kỳ bương thí : Hương-Cống là những người đậu cả bốn trường, Sinh Đồ là những người chỉ đậu có ba trường.
Việc học hồi đó rất thịnh, các thí sinh rất đông. Đề loại bắt thí- sinh, nhà vua buộc các địa phương phải loại trước những kể bất hiểu bất mục, con cháu bọn phản loạn, hoặc bọn xướng ca. Rồi lại có một kỳ thi ảm lả đề kẻ kém bị loại thêm.
Năm Hồng Đức thứ III, Nhâm-Thìn, 1472 nhà vua sửa lại phép thi, và các thi sinh phải qua bốn trường.
Trường nhất : Tứ thư, Ngũ kinh Trường nhi : Chiếu, Chế, Biều Trường ba : Thi, Phú Trường tư : Ván sách
Trang sách 76Đặc biệt trong việc sửa đổi này là tại trường thứ nhất, về Tứ-thư có 8 đề và Ngũ-kinh 15 đề. Các thí sinh được Lực Chọn Đề đề làm như các thí sinh ngày nay, 8 đề về Tứ-thư lhi sinh chọn lấy 4 đề mỗi thư một, còn 15 đề về Ngũ-kinh, thí sinh chọn lấy 5 đề, mỗi kinh một.
Chính vua Lê Thánh-Tôn đã đặt ra lệ Gọi loa xướng danh và lệ Vinh Qui cho các vị lân khoa vào năm Tân Sửu 1481, đề khuyến khích và biều dương sự học.
Năm Giấp-Thân 1484, theo gương đời trần, nhà vua lại đỏi tam- • khôi làm Tiến-sĩ cập đệ nhưng hơi khác ở chỗ chính bảng là Tiến-sĩ xuất thân, còn các lân khoa ở phụ bảng là Đồng-Tiến-Sĩ.
Và đề giữ cho khoa bảng có một giá trị riêng, cũng trong năm đó, nhà vua ra lệnh bỏ những ưu quyền của những người làm quan không phải là khoa bằng xuất thân muốn ứng thi. Trước đây, các quan được miễn thi Hương, nhưng kề từ năm đó, các quan cũng phải chịu những lệ khảo hạch như một thường dân, và muỗn thi Hội, thi phải đậu thi Hương.
Năm 1486, nhà vua lại đặt ra lệ Đãi Yến các ông lân khoa.
Sau vua Lê Thánh-Tôn, vua Lê Hiến Tòn cũng có sửa đổi về lệ thi.
Các xã trưởng được đề cử sĩ-nhân trong xã đi thi Hương. Xã lớn cử 20 người, xã trung binh 15 người, xã nhỏ 10 người. Xã nào không có tay ván học thì thôi. Vua Hiến-Tôn lại ra lệnh kiềm soát các sĩ tủ rất nghiêm : ai vào trường thi mang theo sách vở, hoặc thi bộ nhau bị nghiêm phạt và cấm thi trọn đời.
Trong đời nhà Mạc, việc thi cử vẫn giữ nguyên lề lối đời Lê.
Đến khi nhà Lê trung-hưng, việc giáo dục được tổ chức lại cùng với việc thi cử.
Vua Lê Hy-Tôn, vào năm Chính-Hòa thứ XIV, Quý-Dậu, 1693, ra lệnh trở lại lệ thi đời Hồng-Đức tức là đời vua Lê Thánh-Tôn.
Nám Vĩnh Thịnh thứ VII, Tân-Mão, 1711, vua Lê Dụ-Tôn định lại sẵn. Nguyên về trược lúc ra thế lệ thi Hương đề tránh nạn bán bài làm
Trang sách 77thi hội đồng khảo thi ra đề thường lấy trong sử sách tử lục chẳng qua vài chục đề, phú cũng chỉ có một số đề. Các sĩ tử trước khi vào trường thi thường soạn sẵn bài theo những đề ấy, rồi bán cho nhau. Các thí sinh kém cử mua sẵn bài mẫu, mang vào trờng thi, hoặc học thuộc lòng, rồi đến lúc làm bài cứ việc chép lại. Khi chấm quyền, các quan trường lại không để ý tới sự giống nhau. Bởi vậy sự kiềm soát tuy kỹ lưỡng nhưng vẫn có sự gian đối, và kẻ đậu không phải là người giỏi.
Kê từ năm Tân Mão, vua Du-Tôn cho phép các trường tự lựa chọn đề không theo lệ cũ đễ tránh những tệ hại trên.
Ngoài ra, lại tam trường và tứ trường các đề thi do chính vua chọn, gọi là Ngự-Đề, luy nhiên ở các trường Thanh, Nghệ và xa xôi các đề tại các trưởng này vẫn do quan trường chọn lấy.
Năm Ất-Ty, 1725, đặt ra lệ khảo viện cộng đồng điềm duyệt các quyển khoa thi Hội, nghĩa là quyền thi được đọc lên đề cả hội đồng cùng nghe và đồng quyết định.
Việc thị cử lại triều Lê được nghiêm chỉnh quy củ cho đến đời vua Lê Hiến Tôn thì thể lệ mất bết sự nghiêm mật, vì sự loạn lạc trong nước.
Khoa thi năm Cảnh Hưng thứ II, Canh-Ngọ, 1750, một vị đại thần là ông Đỗ-Thế Giai đề nghị cùng vua Hiến Tôn miễn cho sĩ tử ký khảo hạch, nhưng mỗi sĩ tử phải nộp ba quan tiền gọi là Thông-Kinh-Tiền đề có thể dự kỳ thi Hương. Lệ này đã khiến cho nhiều kẻ học kém cùng nộp tiền đi thi, và các thí sinh nộp liền này được người đời gọi là Sinh Đờ ba qun, từ trước chỉ sinh đồ mới được miễn khảo hạch.
Lệ thi cứ rối rắm như vậy cho đến bết triều Lê, tuy vua Chiêu- .Thống Lê Mẫn-Đế cũng đã cho sửa đổi.
VIỆC GIÁO DỤC Việc giáo dục tại nước ta bị gián đoạn trong thời kỳ Minh thuộc nhưng ngay sau khi dành lại được độc lập cho non sông vua Lê Thái- Tổ đã cho tổ chức bằng cách mở trường Quốc Tử. Giảm ở kinh đô và
Trang sách 78đặt lại các học hiệu tại các lộ và các phủ đề có nơi cho dân chúng học hành.
Việc bọc định theo một chương trình phải học đủ Tư thư, Ngũ- Kinh, Chế, Chiếu, Biều, Thi, Phú và Văn sách để có thể ứng thi được.
Đến đời vua Lê Thánh-Tôn, học-chế được cải liến. Nhà vua mở rộng nhà Thái-học đằng sau Văn-miếu đề lấy nơi cho sinh-viên học. tập, lập Kho Bi-Thur đề tàng trữ sách.
Chinh vua Lê Thánh-Tôn cũng đã hắt các quan không phải là khoa- bảng xuất thân cũng phải học bành để ứng-thí, ngỡ-hầu táng thên kiến- thức và có thêm tài-năng để làm việc dân việc nước.
Việc học được chỉnh-đốn và giữ vững quy-củ cho đến khi nhà Lê bị nhà Mạc thoán ngôi.
Sau nhà Lê Trung-Hưng, nếp học vẫn còn nhưng học-phong hướng về chuộng phù-hoa, chú trọng sự tầm-chương trích-củ hơn là phát-huy những vị-ngôn đại-nghĩa trong Kinh Truyên.
Về cuối đời nhà Lê, việc học suy-sụp. phần vì loạn-ly, phần vì các sĩ tử không cố gắng và chỉ tim cách gian lận trong kỳ thi.
Dù sao, triều Lê cũng là một triều loàn-thịnh của ván học nước li, và những bậc học vấn uyên thâm như Nguyễn Trãi, Lê Quí-Đôn, Nguyễn Bỉnh-Khiêm v.v... đã đề lại nhiều áng văo-chương rất có ích cho chúng ta ngày nay và con chảu chúng ta về sau.
Sựị suy-sụp về cuối đời Lê, tuy vậy cũng không làm giảm được kiá-trị văn-học của cả triều Hậu Lê.
VIỆC HỌC DƯỚI TRIỀU NGUYỄN Từ thời Lê-Mạt cho đến hết triều Tây-Sơn, việc học tại nước ta ii trong một tình trạng thiếu tổ-chức.
Cho đến khi vua Gia-Long thống-nhất sơn-hà, việc học-hành thi-cử mới lại định lại nhưng phần lớn rập khuôn theo sự tổ-chức của Triều lậu L.ê.
Trang sách 79THI-CỬ Sau khi thống-nhất nước Nam và lên ngôi hoàng-đế được sáu năm, nhà vua cho mở khoa tbi Hương vào năm Đinh-Mão và định lệ cứ sáu năm lại có mở một khoa thi.
Phép thi cũng qua bốn trường như đời nhà Lê.
Thí-sinh đỗ ba lường cũng gọi là Sinh-đồ và đỗ bốn trường cũng gọi là Hương-Cống.
Lệ thi lại được sửa đổi dưới triều vua Minh-Mệnh.
Năm 1822, nhà vua mở khoa thi Hội, kế đến năm 1825 nhà vua định lại lệ ba năm mở một khoa thi, thi Hương vào những năm, Tý, Ngọ, Mão. Dậu Thi Hội vào những năm Thin, Tuất, Sửu, Mùi. Các sĩ- tử phải do phủ buyện hạch trước mới được đi thi Hương.
Có bẩy trường thi Hương : a) Các trường thi Thừa-Thiên, Binh Định, Gia Định và Nghệ.An mở vào hồi tháng bầy những năm có kỳ thi. b) Các trường thi Thanh-Hóa, Nam-Định, Bắc-Thành (Hà-Nội) mỏ khoa thi Hương vào bồi tháng chín. Năm Mậu-Tý, 1828, các Sinh-đồ đổi là Tú-tài và Hương-Cống là Cử-nhân.
Khoa thi Hội năm Ký-Sửu, 1829, nhà vua cho định phân-số và chia hai hạng chính-bảng và phó bảng.
Phân số định như sau :
Ưu: 9, 10 phân; Ưu thứ : 7, 8 phân.
Bình : 5, 6 phân : Bình thứ : 3, 4 phân.
Thứ : 1. 2 phân; Liệt : chưa được 1 phân.
Chính-bảng gồm những thí-sinh đậu 3 trường cộng được 10 phân trở lên, Phỏ-bảng gồm những thi-sinh đậu 2 trường cộng được 10 phân trở lên, hoặc đậu 3 trường được 9 phân trở xuống đến 4 phân.
Trang sách 80Việc định phân-số và phân chia chính bảng phó-bảng này áp-dụng lừ năm vua Minh-Mệnh sửa lại phép thi còn ba trường thay vì bốn trường như trước :
Trường nhất : Kính-nghĩa Trường nhi : Thi, phủ Trường ba : Văn sách.
Đời vua Thiệu-Trị, phép thi cũng như đời vua Minh-Mệnh.
Năm Giáp- lhin, 1844, nhà vua cho phép các vị Giáo-thụ và Huấn.
đạo do giám-sinh Tú-tài xuất-thân được đi thi Hội.
Vua Tự-Đức ngay khi lên ngôi đã đề ý đến việc thi-cử. Năm Tự-Đức nguyên biên nhà vua định-lệ những người đi thi Hương vào hai trường nhất và nhì bị phê liệt thi không được thi trường ba.
Năm Nhâm-Tý, 1852, vua Tự-Đức lại trở lại lệ thi bốn trường nhưng đến năm Mậu-Ngọ lại cải lại thi ba trường, và ấn định phép phê quyền có 4 hạng : Ưu, Binh, Thứ và Liệt.
Được 2 thứ và một bình đậu Cử-nhân ; ba thứ đậu Tú-tài. Thi Hội vẫn giữ bốn trường như cũ.
Dười triều vua Tự-Đức thì cứ hai người đỗ Tú-lài lại lấy một người đậu Cử hhân.
Thi Hương đến đời vua Đồng Khánh vẫn có 7 trường nhưng khi vua Đồng-Khánh lên ngôi, nhà vua bỏ trường thi Bắc-Thành và trường thi Nam Định đổi gọi là trường Hà-Nam cho tất cả các lhí-sinh hai trường Bắc-Thành và Nam-Định trước.
Kề từ 1884 trở đi, nước Nam ký hiệp-định Patenôtre với nước Pháp, nước ta chỉ còn 4 trường thi Hương tại miền Trung.
Thừa Thiên, Bình-Định Nghệ-An và Thanh-Hóa.
Và một trường thi Hương tại miền Bắc, trường Hà-Nam.
Trường Gia-Định không còo nữa vị đã thuộc Nam-Kỳ của Pháp.
Trang sách 81Thể-lệ thi cũng đổi khác. Tại 4 trường miền Trung gồm 4 kỳ :
Kỳ nhất : Văn sách kỳ nhì : Thi, phú Kỳ ba : Luận, một Hán tự, một Quốc-ngữ Kỳ tư : Dịch chữ Pháp ra Quốc-ngữ.
Kỳ lư này không bắt buộc, những thí sinh nao được trên điềm trung bình, số thừa sẽ bù cho các bài khác.
Cách chấm điềm cũng theo lối mới, cho điêm lừ 0 đến 20.
Những thi-sinh nào được từ 40 điềm trở lên được thi kỳ phúc hạch.
Kỳ phúc-hạch này được bầy điềm thì đậu Cử nhân.
Những thí-sinh nào được số điểm từ 30 đến 39 thị đậu Tú-tài.
Tại trường thi Hà-Nam thề lệ có hơi khác.
Kỳ nhất : Văn sách Kỳ nhì : Luận chữ Hán : Luận Quốc-ngữ Kỳ ba : Một bài luận chữ Hán và một bài luận Quốc-ngữ.
Kỳ tu Thí-sinh nào muốn thi chữ Pháp thì tbi một kỳ nữa.
Khoa thi Hương cuối cùng tại miền Bắc vào năm Ất-Mão (1915) còn khoa thi Hương cuối cùng tại các trường Bình-Định và Nghệ-An, gọi là các trường hợp thí cho tất cả thí-sinh 4 trường cũ, là khoa Mậu.
Ngọ, Khải-Định tam-niên, 1918.
Sau đỏ học-chế thay đổi và nền học Pháp Việt được áp-dụng theo Nghị Định của Toàn quyền Đông-Dương ngày 21 tháng 12 năm 1917.
VIỆC GIÁO-DỤC Như trên đã nói, ngay sau khi thống-nhất đất nước, vua Gia-Long nghĩ đến việc định lại sự học và cho mở khoa thi.
Cũng như về thi cử, chương-trính giáo-dục vẫn giữ theo quy-củ của nhà Lê. Vẫn học Tt-thư, Ngü-kinh, vẫn tập chế, chiếu, biều, vẫn thơ
Trang sách 82phủ và văn sách, vốn là cái nền-nếp từ xua đề lại. Về sau tuy có sửa đổi nhưng sự sửa đổi cũng không có gi đáng kè, vẫn trong khuôn khổ cũ.
Cho tới khi biệp-ưrớc Patenôtre được kỷ-kết.
Sau đó ta thấy các học-sinh học thêm toán pháp và Pháp-ngữ.
Kề từ năm 1917, nền giáo dục của ta mới chịu sự cải tổ hoàn-toàn cho Trung và Bắc Việt còn riêng Nam-Việt đã trở thành thuộc-địa của người Pháp, chương trình học có khác hai xứ kia.
TÔ CHỨC CÁC KỲ THI THỜI TRƯỚC Kê từ năm Ất-Mão, 1075, các kỳ thì được tổ-chức tại nước ta nhưng mãi cho tới năm 1438 vua Lê Thái-Tôn mới ấn định lệ thi rõ-rệt ba nắm một kỳ với ba kỳ Thi Hương, Thi Hội và Thi-Đình.
Lệ thi này được giữ mãi cho đến những kỳ thi cuối cùng về Hán học tại nước Nam, năm Ất-Mão, 1915, tại trường Hà-Nam xứ Bắc, và năm Mậu- Ngọ, 1918, tại bai trường Nghệ-An và Bình-Định xử Trung.
Đã nghiên cứu về việc thi-cử không lẽ không đi sâu đôi chút vào chi. tiết đề hiều rõ sự tổ-chức mỗi kỳ thi ra sao.
Những chi-tiết này, ở đây căn-cử theo lệ thi Triều Nguyễn. Về trước lệ thi tuy có khác, nhưng sự khác biệt cũng không bao nhiêu và biết các chi-tiết về các kỳ thi triều Nguyễn, ta cũng có thể có được vài ý niệm về các kỳ thi về trước nữa.
NHỮNG KỲ THI KHẢO-HẠCH Như trên đã nói, lệ xưa có ba kỳ thi là Hương, Hội và Đình. Đầu tiên là thi Hương. Đậu thi Hương mới được vào thi Hội.
Không phải bất cứ ai cũng có thề là thí-sinh kỳ thi Hương được.
Muốn đi thi Hương phải qua các kỷ thi khảo-hạch tại hàng tỉnh, tức là sơ khảo.
Có hai loại khảo-hạch :
Trang sách 83Khảo hạch ở phủ, huyện và ở tỉnh, tức là sơ khảo và phúc-khảo.
Việc khảo hạch ở huyện do các Huấn đạo và Giáo-thụ phụ-trách, còn ở tỉnh do các Đốc-học đảm-nhiệm.
BẰNG TUYỀN-SINH Hàng năm tại các phủ, huyện có mở kỳ thi sơ khảo đề xem sét sức học của các thí-sinh.
Đây tức là kỳ khảo-bạch thứ nhất, các Huấn đạo và Giảo thụ khảo sức học-sinh, chn làm các văn bài dễ dễ, xong cũng theo chương-trình ấn định để luyện tập việc thi Hương. Các thi-sinh trúng tuyền kỳ thi này được cấp bằng Tuyền-sinh tương đương với bằng Sơ-học Yếu-lược dưới thời Pháp thuộc.
BẰNG KHÓA-SINH Các thí sinh trúng tuyền bằng Tuyền-sinh tại các phủ, huyện được dự kỳ thi khoa-sinh, mở lại hàng lỉnh mỗi nám do Học-quan lổ-chức.
Đây là kỳ phúc-khảo các thí-sinh. Kỳ thi khó hơn thi Tuyền-sinh chút It và cũng chỉ gồm những bài chính về ván chương thơ phú. Trúng tuyền kị phúc khảo này, các thí-sìuh được cấp bằng Khóa-sinh, lương đương với bằng Co-thủy hay Sơ học Pháp Việt thời Pháp thuộc và bằng Tiêu-học ngày nay.
CÁC KỲ HẠCH Những nằm trước lị thi Hương một năm, các vị Đốc-học các tỉnh mở kỳ hạch đề loại bớt một số sĩ-tử nang lực chưa xứng đáng đề dự kỳ thi Hương.
Chương-trình kỳ hạch này, còn gọi là kỳ tuyền thí-sinh giống như chương-trình kỳ thi Hương rút ngắn đi.
Người nào trúng tuyền kỳ hạch được gọi là lhí-sinh, và người đỗ đầu gọi là Đầu-xứ.
Trang sách 84Kỳ hạch này rất quan-trọng, và các Học-quan hàng tỉnh phải chịu trách nhiệm trong việc tuyền thí-sính dự kỳ Hương-thí. Tất cả hàng Đốc-học, Huấn đạo và Giáo thụ trong tỉnh tham-dự chấm bài.
Các bài thi không dọc phách, đệ trình bội-đông giảm khảo với nguyên tên họ của thí-sinh. Như vậy cốt đề đễ thấy sự gian-lận, vì các người dự thi đều là học-trò một học hiệu tại phủ, huyện hoặc tỉnh của triều-đình thiết-lập. Các Học-quan nhận biết dễ dàng học-lực của học-trò mình. Học kém phải đánh hỏng ngay không thương tiếc. Những Học-quan nào cho đi dự kỳ thi Hương một thí-sinh học-lực kém cỏi, viết bài thi bất thành văn lý, sẽ chịu lỗi.
Vài tháng trước ký thi, hàng tỉnh mở một kỳ hạch thứ hai đề cho những thi-sinh vắng mặt kỳ trước được tham-dự.
THI HƯƠNG Như trên đã nói, dưới triều Nguyễn các khoa thi Hương mở vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Thi Hương gồm bốn kỳ : 1o Kinh-nghĩa 20 Tho, phú 30 Ván sách 40 Ký phúc-hạch KINH-NGHĨA Kỳ này gồm 7 đề Các thí-sinh tùy ý muốn làm bết hay lựa chọn mấy đề thôi cũng được, nhưng bắt buộc phải làm một đề về Kinh và một đề về Truyện. Thi-sinh nào bỏng kỳ thi này, ta gọi là bay Kinh-nghĩa.
THƠ PHÚ Kỳ này gồm, một bài thơ Đường-Luật thắt ngôn, bát cú và một bài phú độ 6, 7 vần.
Trang sách 85VĂN SÁCH Kỳ này gồm năm sáu câu hỏi về cổ thư và một câu về tân thư. Lúc làm bài cần có bình giải nghị-luận.
PHÚC HẠCH Thi-sinh được một điềm Ưu hoặc Bình ở các kỳ trên được dự kỳ Phúc-Hạch. Kỳ Phúc Hạch gồm một bài Kinh-nghĩa, một bài phủ 2 hoặc 3 vần, và một vài câu văn sách.
Tông cộng điêm bốn kỷ trên cao thì đậu Cử nhân, thấp thì đậu Tú-tài.
ĐIỀU HÀNH KHOA TAI Cách điều-hành khoa Hương thí có những thể-lệ riêng và không giống như các ký khảo-hạch trước. Có nhiều chi-tiết đảng kề và khác hẳn với ngày nay.
Giá-trị khoa thi Hương này xưa có thề coi tương-đương như những kỳ thi Đại-học ngày nay, tuy cách thi có khác.
NỘP QUYỀN Chỉ được dự khoa thi Hương những chân Thí-sinh, Tú-tải và Ấm- sinh. Thí-sinh là những người đã đậu kỳ Hạch ở tỉnh ; Tú-tài là những người đã thi Hương nhưng chưa đậu Cử nhân, còn Ấm-sinh là hàng con quan được đặc cách dự-thí.
Những người đậu Tú-tài, cứ mỗi khoa thi Hương lại ứng-thi cho đến khi nào đậu Cử-nhân mới thôi. Nhiều người vì vậy đậu Tú-tài đến ba bốn lần.
Đậu hai lần được gọi là ông Kép Mền Đậu ba lần Đậu bốn lần Đụp Những thí-sinh được ứng-thi phải nộp tại văn phòng Đốc-học hàng tỉnh ba tập quyền trước ngày thi một thời-gian đề dùng cho ba kỳ thi.
Trang sách 86Trên trang nhất tập quyền phải ghi tên họ, tuổi, nơi trú-ngụ, tên họ cha mẹ và ông bà cho dến đời tam đại. Cần khai lý-lịch cho đến đời tam đại vi rằng con cháu những kẻ bị trọng tội, con cháu các phẳn thần, cũng như con cháu những người làm nghề bát xướng đều không được dự-thí.
Những lễ-sinh tại văn phòng Đốc Học lập bảng danh-sách thi-sinh, rồi gới quyền đến Hội-Đồng Giám-Khảo.
Những thí-sinh nào sau ba kỳ đầu, được thi kỳ phúc-hạch sẽ phải nộp thêm tập quyền thứ tư nữa.
HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO Mỗi khoa thi, nhà vua lại ra chỉ-dụ đề ấn-định thành-phần Hội-đồng Giám-Khảo.
Hội đồng rồm có :
- Chánh Chủ-khảo.
- Phó Chủ-khản.
- Một hay nhiều vị Đề điệu ngự-sử và Giám-sát ngự-sử.
- Nhiều vị Sơ-khảo.
- Nhiều vị Phúc-khảo.
- Nhiều vị Giám-khảo.
- Nhiều vị Phân-khảo.
Số các vị sau thay đổi tùy theo số thí-sinh nhiều lt.
Chánh Phó Chủ-Khảo có nhiệm vụ ra đầu đề, chẩm giảm-khảo các bài thi và quyết định số thí-sinh trúng-tuyển.
Đầu bài thi được ra ngay buổi sáng sớm trước mặt toàn-thể Hộl.
đồng Giám Khảo, đề tránh mọi sự tiết-lộ đề thi.
Các vị Ngự-sử coi thi như các giám thị ngày nay, nhưng các Ngự-sử có quyền coi chừng sự gian-lận không những về phía thí-sinh mà về cả phía quan trường nữa.
Các vị Sơ-khảo chấm bài lượt đầu các vị Phúc-khảo chấm bài lượt thứ hai và các Giám khảo chấm bài lượt thứ ba.
Trang sách 87Các vị Phân-khảo soát lại các bài bị đánh bỏng bởi các vị Sơ khảo đề vớt những sĩ-tử xứng-dáng.
Hội đồng giám khảo có một số thông-lại, dề lại, lễ-sinh đề giúp việc giấy tờ trong suốt thời-gian khoa thi.
Lại có các lính cơ, lính lệ giữ-gin trật tự cho trường thi.
Các vị Chảnh-Phó Chủ-Khảo, các vị Ngự-sử, các vị Giám Khảo và Phân-khảo thường là các quan tạí triều được lựa chọo còn những vị khác cũng như những nbân viên văn phòng và linh cơ, linh lệ tuyền trong các quan chức địa-phương.
TRƯỜNG THI Trường thi là một bãi rộng trên năm bảy mẫu đất, và ở trên bãi rộng này đã có dựng lên những ngôi nhà dành cho các Khảo-quan ở và dùng làm Văn phóng của Hội-Đồng Giảm-khảo.
Trước ngày thi, trường thi quây hàng rào, rộng hẹp tùy theo sĩ-số, và chia ngăn làm bai :
Một phần dành cho nhà ở các Khảo-quan và Ván-phòng hội-đồng.
Phần thứ bai dành cho các sĩ-tử cắm lều.
Phần nhà ở Khảo-quan và Vần phòng có xây tường chung quanh cũng lại chia làm hai phần nhỏ bằng vách :
Nội trường và giám viên là nơi các Khảo-quan họp để chấm sơ khảo và phúc-khảo các quyền của thí-sinh, nhà ở và Văn-phòng của các vị Sơ- khảo và Phúc khảo và của một vị Ngự-sử:
Ngoại trường gồm có Thí-Viện là nơi hội họp của Hội-Đồng Giám. khảo, nhà ở, Văn-phòng của các vị Chánh, Phô chủ-khảo, các vị Phân- khảo, một vị Giám-sát và Vàn-phòng chung của Hội-Đồng.
ở trong cũng là nhà ở và văn phòng các vị Đề-Tuyền có nhiệm vụ canh giữ các quyền, dọc phách và so phách. •Phần thứ hai trường thi dành cho lều của các sĩ-tử cũng có quây hàng rào chung quanh.
Trang sách 88Ở giữa có đường Thập-Đạo chia nơi này thành bốn mảnh đều nhau gọi là bốn Vi. Mỗi vi cũng đều có quây rào và chỉ có một cửa ra vào. nhiên năm nào số sĩ-tử quá đông, mỗi vi có hai cửa ra vào, Tuy Chính giữa đường tbập đạo là nhà Thập-Đạo, nơi vản-phòng Hội.
đồng Giám-khảo ngồi, trong lúc các sĩ tử làm bài.
Ngay bên nhà Thập-Đạo có một hoặc ba lầu canh đề các vị Giám- sát ngồi trông coi các vi.
LỄ TIẾN-TRƯỜNG Lễ tiến trường phải cử bành vào một cát nhật, nghĩa là một ngày tốt.
Hôm đó lất cả Hội Đồng Giám khảo, ăn bận triều phục, phải có mặt tại Vọng cung để làm Lễ Bái-Mạng. Sau lễ này, họ nhận cơ, biền, ấn, tượng-trưng cho chức vụ, rồi được rước tới trường thi, cơ quạt dẫn đầu, có quân lính đi theo, lại có hai Thớt voi đủ yên bệ đi cùng, tăng vẻ trang- trọng cho buổi lề.
Tiếng trống, liếng cồng, liếng quân nhạc vang lừng. Kiệu các quan trưởng lần lượt theo thír tự phẩm trật liến-trường, có tào che lọng rủ.
Các quan tỉnh cũng đi cùng cho đến trường thi.
Vị Truyền Lệnh Sứ bắc loa gọi :
- Báo ân gtả tiên nhập, báo nán 8/à thứ nhập, trường quan thứ thứ nhập chi !
Nghĩa là :
Báo ân thì vào trước, báo ván thì vào sau, sau nữa các quan trường lần lurt theo phẩm- trật mà vào.
Ta tin sự báo ân báo oán, cho nên các kỳ thi, các truyền-lệnh-sử mời các vong hồn vào để đền ơn hoặc trả oản !
Người nào không có phận sự gì trong trường thi, lúc đó đều rút lui hết !
Từ. đây cửa trường thi được canh gác. Trong ngoài không được liên lạc với nhau !
Trang sách 89SĨ-TỬ SỬA SOẠN ỨNG-THÍ Ta có câu Lều chóng lên đường đề chỉ việc đi ứng thí. Tại sao vậy ? VI rằng xưa, mỗi kỳ thi bài phải làm mất một ngày, còn bãi thi thì không nhà cửa. Đi thi, sĩ-tử phải mang lều đi che mưa nắng, mang chõng để nằm viết và mang chiếu đề trải. Ngoài ra lại phải đủ giấy bút, nghiên mực. Phải mang cả cơm ăn, và người nào hút thuốc là thường mang cả ống điếu vào trường.
Lều thường lợp-tranh, nhưng đến trường thi, sĩtử vẫn mang lều khung tre, mái bằng giấy phết cậy, một thứ quả bồng có nhựa làm cho giấy hết thấm nước.
Đỏ là đến trường thi nhưng trước khi đi thi, thí-sinh đã làm lễ cáo gia-liên cúng Thổ-công, cúng Thành-hoàng trong làng để cầu xin sự giúp đỡ. Thí-sinh phải tới lễ tại văn chỉ nơi thờ đức Khổng-Tử.
THÍ-SINH NHẬP-TRƯỜNG Trước ngày thí sinh nhập trường, có niêm-yết tại cồng trường thi :
- Những Trường Qui, nghĩa là những lệ-luật của kỳ-thí.
- Những Húy-Tự nghĩa là những chữ cấm vì trùng tên ngành trực. thống của đương triều.
- Danh-sách thi-sinh chia làm 4 hay 8 vi.
Tại mỗi cửa vi lại có niêm yết danh sách những sĩ tử phải thi nơi vi đó.
Các sĩ tử phải hiều hết những điều trên, ngõ bầu tránh phạm Trường- qui, hoặc phạm Húy trong lúc làm bài.
Chung quanh trường thi la-liệt quán bán đủ mọi thứ: thức ăn, nước uống, sách vở, giấy bút, các tạp-vật và có cả một vài nhà hát tạm dựng lên đề đón vắn nhân tài-tử tới đập trống nghe ca hát.
Quang cảnh trường thi thật là tấp-nập !
Tới ngày nhập-trường, ngay từ nửa đêm, các sĩ-tử đã đứng lớp lớp ở trước cửa trường với lều chỗng kèm bên với ống quyên đeo trước ngực, với bình nước ở cạnh sườn.
Trang sách 90Tại mỗi cửa trường, hai ngọn đình liệu cháy ngùn-ngụt soi sáng cả một vùng.
Các quan trường triều phục uy-nghi, chia nhau chủ tọa, chứng kiến Lễ Xướng Danh Nhập-Trường của các thí-sinh.
Ông Chánh Chủ khảo ở cửa Giáp, bên phía tả mặt tiền.
Ông Phú Chủ-khảo ở cửa Ất, bên phía hữu mặt tiền.
Ông Phân-khảo ở cửa Tả, hông bên trái.
Ông Giám-khảo ở cửa Hữu, bông bên phải.
Nếu có 8 cửa, 4 cửa kia đều do các vị phân-khảo và giảm-khảo chủ. tọa lễ xướng-danh nhập-trường.
Sau ba hồi trống, truyền lệnh-sứ bắc loa gọi tên các sĩ-tử làn lượt theo thứ tự trên bảng niên yết. Mỗi khi gọi đủng tên, thí-sinh lại lồng. còng lều chồng lách qua đám đông để vào trường.
Tại cồng trường, đã có lính sét hành lỷ của mỗi thí-sinh, ngăn cấm không ai được mang sách vở hoặc bài mẫu vào trường. Tập quyền lúc đó mới được trao cho đương-sự để làm bài thi.
Thí-sinh đi thẳng tới vi của minh, cắm lều kè chỗng trải chiếu ngồi án lót dạ chờ thi.
LÀM BẢI THI Khi toàn thể các sĩ-tử đã được vào vi của mịnh sau lễ xướng-danh nhập-trường, các quan trường mởi ra đầu bài.
Sĩ-tử làm bài trong suốt ngày nhưng giữa trưa thì phải tời nhà thập.
đạo đề xin đóng dấu Nhật-Trung vào quyền của minh ở nơi bài đang làm dở. Việc đóng dấu Nhật-trung cốt đề tránh sự thay quyền.
Lúc chép bài lên quyền, không được rập, sóa hoặc có vết ố đề tránh mọi sự đánh dấu và thông-đồng giữa quan trường với sĩ-tử. Nếu lỡ làm tì-ố hoặc có rập sóa sĩ-lử có thể trước một giờ nào trong ngày thi, xin thay quyền. Phải có sẵn một quyền mới đề đóng đấu kiểm-soát. Những quyền có vết ti-ố, rập sóa sẽ đương nhiên bị loại.
Trang sách 91Phải tránh phạm húy. Phạm Húy sẽ bị loại và còn bị tội nữa.
Trong lúc thi luôn luôn có người đi kiềm-soát ngán các sĩ-tử khỏi thông đồng với nhau hoặc tìm cách gian-lận gì.
Từ trên lầu canh đường tbập đạo, các vị giám-sát luôn luôn đề mắt tới các lều.
Khi gần lới giờ nộp bài thi, lại có ba hồi trống báo hiệu. Hết hồi trống thứ ba, hòm quyền bị khóa và đóng dấu lại, những quyền nộp sau phải để ngoài hòm, và những quyền này gọi là quyền ngoại hàm cũng đương. nhiên bị loại.
Tất cả sĩ-lử đều bỏ buộc phải nộp quyền dù bài làm không xong đề Hội-đồng giám-khảo cần xét xem sĩ-tử có phạm trường quy, phạm bủy hoặc hành văn bất thành văn lý không. Những quyền Ngoại hàm các quan trường cũng đọc kỳ như các quyển khác để xem có mấy lỗi trên không, vi phạm những lỗi này, thi rớt đã đành lại còn hị tai-hại nữa.
KHẢO QUAN CHẤM BẢI THI Sau khi thi xong, các quan trường phải lo việc chấm bài.
Lại phòng, tức là văn phòng của Hội-Đồng giám-khảo, tháo xi, mở hòm quyền, dọc phách, đánh số quyển và vẽ một vòng, nửa trên phách, nửa trên quyền ở nơi dọc, đề tiện sau này sắp khớp lại.
Các quyền chia cho các vị Sơ khảo chấm, rồi đến các vị phúc khảo, sau cùng đến các vị giám khảo.
Khi chấm các khảo-quan cho điêm : Ưu, đại binh, liều bình, thứ mác, thứ tép và liệt.
Quyền nào bị phê liệt thi bị hỏng. Các vị Phân khảo, xem lại các quyền bị đánh hỏng sơ-khảo đề vớt những thi-sinh xứng-đáng mà điềm lại quá nghiệt.
Tất cả những quyền chấm được cũng như những quyền được với đều do các vị Chánh Phó Chủ-khảo xét lại và cho điêm sau cùng. Các vị này ấn-định số sĩ-tủ trúng luyền.
Trang sách 92Điềm phê của Chánh Phó Chủ-khảo là điềm nhất định, không bị thay đổi dù có sự lầm-lẫn. Nếu có sự lầm lẫn mà triều đình phái giác ra thì Chánh Phó Chủ-khảo có tội. Bởi vậy, khi cho điểm các vị này bết sức cần thận và tin tưởng ở sự sáng-suốt của minh lắm.
Trong buồng chấm thi, các khảo quan chỉ được dùng son. Cấm ngặt không được mang mực đen vào trong phòng để tránh sự gian lận chữa bài cho sĩ-tử.
Các vị Ngự-sử cũng canh chừng các vị khảo quan một cách ráo-riết và vô-tư. Nếu có ai gian-lận, các vị Ngự-sử trinh tận nhà vua đề trị tội.
Kết quả của kỳ Kinh Nghĩa được yết trên những lấm bảng lớn cho những người qua được kỳ này vào các kỳ sau, và trên những lấm bảng nhỏ cho những người phạm trường quy hay phạm húy.
Những sĩ-tử đã qua kỳ Kinh-Nghĩa cũng chia thành từng vi để thi các kỷ sau với những thể-lệ như kỳ Kinh Nghĩa lừ lúc đầu cho đến khi chấm bài.
Sau ba kỷ thi ai được một ưu hay một bình thi được lhi kỳ phúc. hạch.
LỄ XƯỞNG DANH Sau khi các bài thi đã chấm xong hết, và các vị Chánh Phó Chủ-khảo đã ấn-định số trúng tuyền, sẽ có lễ Xướng-Danh rất long-trọng.
Tới dự lễ Xướng-Danh này ngoài các quan trưởng còn có lất cả các đại quan trong vùng tới dự.
Hội-đồng giám-khảo ăn bận trièu phục, ngồi trên khán đài trước cửa trường.
Một truyền lệnh-sứ bắc loa gọi tên các vị Tân-khoa, đậu cử-nhân với đủ làng xã.
Trước cửa trường thi, các sĩ tử đều có mặt với đông đủ người nhà và bạn hữu.
Trang sách 93Ai ai cũng hồi-bộp đợi chờ ! Nợ sách đèn đã trả xong chưa và hiện có được lấy phấn vua thoa mặt, hưởng ơn vũ lộ của triều đình, hay còn long-đong số phận theo đuổi sách đèn, hồ bút, hổ nghiên bỗ lều, hổ chồng ?
Một tên truyền-lệnh-sứ loan xa, được nhắc lại mấy lần, rồi có tiếng " Dạ » vang.
Tân-khoa trình diện triớc hội-đồng giám khảo, được ban lọng và mũ áo, Tân-khoa lạy bai lạy các phòng sư nghĩa là những ông thầy đã chấm mình đỗ, hiểu tài năng của mình, rồi đứng vào hàng riêng.
Sau khi xướng danh xong các Cử-nhân, bảng danh-sách được niêm- yết tại cửa Giáp.
Các thí-sinh đậu Tủ-Tài không được xưởng-danh và cũng không có mũ áo và lọng. Bản danh-sách Tú-Tài niêm-yết bên cửa Ất.
Người ta xúm đông vào bảng danh sách Tú-Tài này để kiếm tên mình, vì trượt Cử nhân mà đậu Tú-Tài vẫn là đậu.
Các vị Tú-Tài mới đậu, tuy kỳ sau còn phải thi, nhưng cũng tự lấy làm thỏa-mẫn, vì kê từ nay, dù sac, cũng đã là chân Khoa-Muc, và nợ sách đèn cũng không mang tiếng.
LỄ BÁI-MẠNG VÀ YẾN-TIỆC Sau lễ xưởng danh, các quan trường liền dẫn tất cả các vị tân khoa Cử-nhân tới Vọng-Cung, ngôi nhà làm để bái-vọng nhà Vua khi có lễ, tại các tỉnh.
Nơi đây, cả khảo-quan lẫn các vị tân-khoa đều làm lễ Bái-mạng tức là lễ Nhà Vua, khi nhà vua không có đấy.
Sau đó, vị Tổng Đốc đại-thần tỉnh-trưởng liền đặt yến-tiệc mời tất cả Hội-Đồng khảo thi lẫn các vị Tân-khoa.
Trong bữa tiệc này không có diễn-văn, nhưng các vị tân-khoa được các khảo-quan và các tỉnh-quan thử tài thi phú.
Trang sách 94THI HỘI Theo chỉ-dụ năm Minh-Mệnh lục niên, các khoa thi Hội được ấn định hàng năm vào tháng 3 những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lức là sau năm có kỳ thi Hương.
Được dự kỳ thi Hội những chân Cử Nhân, Giám-Sinh, Giáo-Thụ, và Huấn-Đạo.
Các chân Tú-Tài và Ấm-sinh muốn dự thi phải xin phép và phải được phép của Triều-Đình.
Thi Hương mở vào mùa thu là mùa hải quả, tbi thi Hội mở vào mùa xuân là mùa muôn cây nấy lộc. Người xưa chọn mùa thi rất có ý nghĩa.
Khoa thi Hội gồm 4 kỳ :
Kỳ nhất : Kinh Nghĩa, It nhất 3 đề.
Kỳ nhỉ : Chiếu, Biều, Luận.
Kỳ ba : Thơ ngũ-ngôn bát cú, một bài và Phú tám vần, một bài.
Kỳ tư : Văn sách Những sĩ tử đậu thi Hội mới được dự kỳ thi Đình.
Điềm tính theo phân, bài nào không được một phân thi bị loại.
Muốn trúng-cách phải được tất cả 8 phân cho 4 kỳ.
THI ĐÌNH Những thí-sinh đậu thi Hội được dự thi Đinh.
Trong kỳ thi Đình, các quyền thi đều do toàn thể Hội-đồng Giảm- khảo chấm và đệ nhà Vua duyệt.
Thi Đình chỉ có một bài Đối sách rất dài, nghĩa là trả lời một câu hỏi về luân-lý, chính-trị, hành-chánh, v.v...
Đề thi Đình do nhà vua lựa chọn.
Những thí-sinh được điểm cao đậu Tiến-sĩ, còn điềm thấp đậu Phó. bằng.
Trang sách 95Dưới Triều Nguyễn không có Trạng-nguyên, Thám-hoa, Bảng-nhỗn và Hoàng-giáp.
Xin nói thêm là về đời vua Quang-Trung, thi Đình có dùng chữ Nôm, nhưng liếc thay lệ này không được nhà Nguyễn giữ lại.
ĐIỀU-HÀNH THI HỘI VÀ THI ĐÌNH Việc điều hành hai khoa thi Hội và thi Đình cũng tương tự như khoa thi Hương, chỉ hơi khác đôi chút.
Thành phần các khảo-quan vẫn đo nhà vua chỉ-định.
Việc chấm bài khác với thi Hương. Số thi-sinh tương đối ít, nên chỉ có một văn phòng thơ lại độ 40 người, phải chép lại lất cả những quyền thi hợp-lệ và không ngoại-bàm, nhưng không chép lại tên họ và chỗ ở của thí-sinh.
Bài do loàn Hội đồng cùng chấm không chấm thẳng ngay vào quyền mà chấn qua các bản chép lại trên, như vậy cốt tránh mọi sự thiên-tư.
Những quyền chấm đậu phải đệ trình nhà vua, và danh-sách các tân. khoa trúng-tuyền sẽ ấn-định theo sự phê duyệt của nhà vua.
Không có lễ xướng danh những người đậu, nhưng có lễ Truyền-Lô tại điện Thái-Hòa long-trọng hơn.
Nhà vua hôm đó ngự-triều, có đủ mặt văn võ triều-thần.
Vị Chánh Chủ-khảo tâu nhà vua về kết quả của kỳ thi.
Vị giảm-thị đã cho mời tất cả các tân-khoa lại và nhân danh nhà vua phát cho mỗi người một bộ áo mũ triều đình có cân đai, một lá cơ và một tấm biên.
Các ông tân-khoa ăn vận triều-phục. Quan Thượng-như bộ Lễ sẽ tiến- dẫn các ông vào sân Rồng quỳ trước bệ vàng nghe xướng-danh rồi lễ nhà vua, Bảng danh sách các ông Tân-khoa được niêm-yết ở lầu Phủ-Văn 3 ngày.
Trang sách 96Lễ Bộ Thượng-thư đặt tiệc ngay tại Bộ đề thết đãi, ở đây khảo-quan và tân-khoa lại làm lễ bái-mạng để tạ ơn vua.
Sau bữa tiệc, mỗi vị tân khoa phải làm một biều tạ ơn.
Một bia đá kỷ-danh các vị tân khoa được dựng kỷ-niệm.
THĂM VƯỜN NGỰ-UYỂN Các lân-khoa được nhà vua cho đi thám vườn Ngự-Uyền và sau đó là cuộc đi thăm kinh-thành.
Lễ-bộ Thượng thư và các vị Giám-thị hưởng dẫn các tân khoa trong cuộc thăm này. Các vị tân-khoa trong bộ triều phục mới tinh, áo gấm lam thêu rồng gợn thủy-ba, đai ngọc với những tấm gương nhỏ lấp-lánh, mũ cánh chuồn, cưỡi trên những con ngựa đủ yên cương đi dong khắp vườn Ngự, có người theo bầu che lọng rủ ngủ ngũ-sắc. Màu áo quần sặc- sỡ hòa hợp với màu xanh là cây trong vườn rất đẹp như tăng sự hân. hoan của mọi người.
Các vị tân khoa lúc đó được các nàng công chúa, các vị tiều thư xa xa đứng ngắm. Các ngài đã Đại Đăng khoa còn chờ Tiều Đăng khoa.
Mỗi vị tân khoa được phép hái trong vườn Ngự-Vuyền một bông hoa theo ý minh lựa chọn. Bông hoa này đã có thợ kim hoàn trong cung đánh lại bằng vàng đề tân-khoa cài lên mũ, trên tai bên trái.
Thăm vườn nhà vua xong, các vị lân khoa lại được quan Thượng-thư dẫn đi coi phố xá khắp kinh thành, và qua đường tha hồ dân chúng ngợi kbeu.
VINH-QUY BÁI-IÔ Cũng như nhiều nước ở phương Đông ngày xưa, sự thi đậu, đại-đăng- khoa ở nước Nam ta rất được tôn-trọng : Thi-cử xưa kia khó-khăn, ba năm mới có một khoa, số sĩ-tử được chấm đậu không nhiều.
Mỗi khoa-thi, tại các cổng-trường thi đều có treo mấy chữ đại tự.
Thiên-Tử Cầu Hiền chứng tỏ người đỗ đạt được quý trọng bực nào.
Trang sách 97Một vị hàn nho hôm trước, bôm sau đã trở nên ông Nghè, rồi mai đây được ơn vua lộc nước sẽ làm cha mẹ dân.
Chính vì vậy nên các ông Tâo-khoa khi Vinh Quy Bát Tô được đón rước rất trọng thể.
Đậu Tủ-tài được hàng xã đón rước.
Đậu Cử-nhân được hàng lổng đón rước.
Đậu Đại-khoa nghĩa là từ Phó-bằng trở lên được hàng huyện đón rước !
Thật là vinh-dự.
Mỗi người đậu đều được bảo tin về làng, Hương chức trong làng vội vàng cử người đến gặp vị Tâo khoa đề xin ấn-định ngày vinh-quy.
Đến ngày ấn định, đám rước được tổ chức sẵn và đón đợi vị Tân. khoa ở đầu làng, đầu lổng hoặc đầu buyện tùy theo sự đỗ đạt của vị này.
Đậu Đại-khoa, nhất là đậu Tiến-sĩ đám rước long-trọng lắm, xưa ta gọi là Đám Rước Ông Nghè.
Nhưng đù ông Nghè, ông Cử hay ông Tú đám rước cũng cử hành lộng lẫy. Đi đầu là cơ quạt rồi đến các đồ bát-bửu lộ-bộ. Kế đến cờ biền của vua ban nếu đậu Đại-khoa.
Sau cờ biền là đến kiệu vồng có che lọng của thầy học và cha mẹ ông Nghề, rồi mới tới ông Nghè.
Ông Nghè đi trước, bà Nghè đi sau đúng với câu ca dao :
Võng anh đi trưái, cũng nàng đi sau.
Đi dọc đường, trống đánh báo-biệu cho dân chúng biết. Dân chúng kéo nhau ra xem mặt ông Nghè. Ông Nghè sung-sưởng vì đã nhờ có kết quả sự học mà dương thanh-danh, hiền phụ-mẫu.
Dân chúng cũng mừng, và vui-vẻ đi rước ông Nghè, ông Nghè đã chứng-lỏ rằng làng, tổng mình là đất văn học.
Về tới nhà, Tân Khoa lệ tả-tiên và lễ đực Khổng-Tử.
Trang sách 98Sau đó là tiệc khao hàng Huyện, hàng Tổng hay hàng Xã, tùy trường hợp.
Lệ khao này tuy có tốn-kém, nhưng có ngại chi, họ-hàng bạn-bè, làng nước ai cũng vui lòng tới mừng và giúp-đỡ về tài-chính nếu cần.
Vinh-quy bái-tổ xong, Ông Nghè chở lệnh vua đi nhậm chức.
VÀI Ý-NGHĨ VỀ LỆ THI-CỬ XƯA Qua các chi-tiết về tổ chức và điều hành các khoa-thi ngày xura, ta thấy rằng việc thi-cử đã được tổ chức một cách hết sức chặt chẽ để lấy sự công bằng làm đầu.
Bao nhiêu sự mưu-đồ chạy chọt đề được đậu, nhưng bọc-lực kém, đều không được. Các vị Ngự-sử, các vị giám-thị luôn luôn có mặt tại trường thi, tại Thí-Viện, từ lúc ra đầu bài đến lúc chấm thì đã khiến cho các sĩ-tử cũng như quan trường không ai có thề có ý thiên-tư hoặc cầu thiên tư được.
Các vị Ngự-sử sẽ không ngần-ngại trinh với triều-đình những sự gian-lận nếu có, và các bài thi chấm tới ba lượt đã khiến cho những bài kém không sao lọt khỏi từ Sơ-khảo qua Phúc-khảo đến Ciám-khảo.
Ngoài ra, những bài xứng đáng cũng không sợ bị bỏ rớt, vi nếu các vị Sơ khảo quá nghiệt đã có các vị Phân khảo xét lại và vớt lên.
Mỗi khi thi xong, các quyển thi đều phải gửi về triều đinh để kiềm- soát lại, nếu có điều gì ám muội, thể nào cũng phanh-phui ra, và các người liên-can không sao tránh được sự trừng phạt của phép vua luật nước.
Các thí-sinh phải tin ở lài minh và nếu chẳng may thi hỏng đó là số phận, không bao giờ họ mảy-may oán trách quan trường bất công.
Họ chỉ tự an-ủi bằng mấy chữ Học Tài Thi Phận và cố gắng đợi khoa Saul.
Đến các đề thi cũng không bao gió bị lộ. Các quan trường không
Trang sách 99ai dám hán đề thi, và các sĩ lử cũng không bao giờ dám nghĩ đến việc mua đề thi.
Tr uyện Học Tủ, ngày nay có, xưa cũng có, và có nhiều kẻ làm sẵn Bài Tủ bán cho thí sinh học thuộc lòng, nhưng đây chỉ là sự đoán trước, không phải là sự gian lận.
Kỷ-luật xua thật nghiêm minh; đem so với những vụ Lộ Đề Thi ngày nay, người ta không khỏi lắc đầu.
Về việc lọc ta phải nhận rằng nay hơn xưa ở sự tô chức chương- trình và cả ở học-chế nữa.
Ngu yên-tắc chính-giản của ta xura, nghĩa là giản-dị-bóa mọi việc về hành chính, đã được áp-dụng trong việc lổ-chức giáo-dục.
Trường học được mở tự-do ai có sức cứ mở. Các trường công chỉ dùng đễ bổ-khuyết các trường tư.
Chương-trình học, như ta dã biết thực ít ỏi, chỉ có Tứ thư, Ngũ kinh, Chế, Chiếu, Biều, Thi, Phú và văn sách. Không có Toán học, trử mấy khoa thi sau cùng, không có Khoa học và cũng không có ngoại ngữ, chữ Hán không kề.
Nhưng xưa học là học đạo làm người, phương Đông bao giờ cũng nặng về luân lỷ đạo địc, ta đừng lấy chi làm lạ.
Kể lừ năm 1917, việc học đã được sửa đổi lại bởi người Pháp, và chương-trình học lễ lất nhiên gồm đủ môn bơn xưa.
VIỆC HỌC DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC Nghị định ngày 21.12.1917 của viên Toàn Quyền Đông Dương ẩo định lại việc học tại Việt Nam, nhưng sự thực việc cải-cách học-chế người Pháp đã áp dụng một cách khéo-léo từ-từ.
Đầu tiên việc học chia làm 3 bậc :
Bậc Ấu-học Bậc Tiều -học.
Bậc Trung-học.
Trang sách 100BẬC ẤU-HỌC Việc học tại các làng xã với các trường chính-quyền lập nên. Tại các trường này dạy Hán-Tự thêm Quốc-Ngữ. Học hết bậc ấu-học các học sinh phải đi thi, và bằng cấp bậc này vẫn gọi là bằng Tuyển sinh như cũ. Chương trình có Hán Ván và Quốc-Ngữ.
BẬC TIỀU-HỌC Các trường Tiều học dạy các Tuyển sinh được mở tại các Phủ-Huyện.
Có các vị Giảo-thụ và Huấn đựn trông nom. Chương-trinh vẫn dạy Hán. vàn và Quốc ngữ, nhưng học rộng hơn. Lại có dạy thêm Nam Sử ngoài Tử-thu, Ngũ-kinh. Các học trù có thề tình nguyện học thêm chữ Pháp.
Trong thời này, tại bậc Tiểu-học không có dạy câu đối, thơ, phú, văn, bát cổ.
Học hết bậc Tiều học. Học-sinh cũng phải qua kỷ thi, và văn bằng vẫn gọi là bằng Khoa-sinh như trước.
BẬC TRUNG-HỌC Các trường Trung học mử dạy các khóa-sinh và do các vị Đốc-học điền khiển. Vẫn dạy chữ Hán và chữ Quốc-ngữ, thêm chữ Pháp bắt buộc.
Học bết bậc này, các khóa-sinh thi kỷ thi Thi-sinh.
CÁC TRƯỞNG KHÁC Ngoài ba bậc học trên, tại Huế có mở trường Hậu-Bỏ đề đào tạo các quan-lại hành-chinh và học-chinh. Lại có trường Quố: Học để đạy chữ Pháp.
Ở Hà-nội, lúc đó có trường St-Hoon lương đương với trường Hậu-Bở Bảo Hộ tương đương với trường Quốc-Học.
Ở các tỉnh, cùng với các trường dụy Hán học theo bậc Trung học nói trên, tại các tỉnh ly, lúc đầu, về sau tụi các phù ly. và huyện ly, có các
Trang sách 101trường Tiêu-học Pháp-Việt. Các học-sinh các trường này học hết chương-trình phải qua kỳ thi bằng Co-Thủy. Tốt-nghiệp bằng Cơ-thủy, học-sinh được theo học trường Quốc-học hoặc Bảo-hộ.
Hản-học và Pháp-Việt-học cứ song song cùng đi như vậy cho đến khi nền học cũ tàn hẳn.
Tại Nam-kỳ, việc học được tổ-chức lại trước hai xứ Bắc và Trung-kỳ.
CHƯƠNG-TRÌNH GIÁO-DỤC SAU KHI HÁN-HỌC CÁO-CHUNG kế từ khi nền Hàn-học tàn hẳn, các lớp học của các ông Đồ chỉ còn lai-rai trong các thôn xã, các lớp học công không còn nữa, người Pháp lúc đó mới tổ-chức chặt-chẽ việc giáo-dục Pháp-Việt tại Việt-Nam.
Việc học chia ra :
- Bậc Tiêu-học - Bậc Trung-học - Bậc Đại-học - Công-nghệ-học.
BẬC TIỀU-HỌC Bậc Tiều-học chia ra làm ha cấp và mỗi cấp đều có kỳ thí tốt nghiệp với văn-bằng riêng.
So học. - Cấp cuối cùng của Tiểu-học, hạn học ba năm, qua ba lớp : lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba.
Chương-trình dạy học bằng quốc-ngữ. Ngoài môn Việt-văn, có học luân lý, cách trí, vệ-sinh, toán pháp, sử ký, địa-lý. Chương-trình này dạy tại các trường xã, thôn hoặc liên xã và mấy lớp đưới ở các trường phủ, huyện và lỉnh. Ngoài phần chương-trinh trên, mỗi tuần lễ dạy thêm mấy giờ chữ Pháp và chữ Hán.
Trang sách 102Học hết lớp ba, học-sinh phải thi bằng So-hoc Yếu-lưọc tương-đương với bằng Tuyền-sinh thời trước.
Kỳ thi Sơ-học Yếu-lược gồm 2 phần : thi viết và vấn-đáp.
Thi viết có : một bài ám tả với câu hỏi, bài ám-tả cũng lấy đề cho điềm chữ viết. Bị năm lỗi thì bị loại.
- Một bài toán đố dễ với bốn phép tính - Một bài luận quốc văn.
Thi vấn đáp gồm những câu hỏi về quốc văn, và tất cả các môn học.
Ngoài ra, nếu thi-sinh đã học Hán-tịị hoặc Pháp tự có thề tình nguyện thi thêm hai môn này Tiều-học. - Trên cấp Sơ-học là cấp Tiều-học. Hạn học cũng là ba năm qua các lớp :
- Lớp nhi năm thứ nhất - Lớp nhì năm thứ hai - Lớp nhất.
Chương trình học lại các môn ở cấp Sơ-học, nhưng học bằng Pháp- tự, có học thêm Quốc-văn và Hán-tự. Tại các Phủ, Huyện và Tỉnh ly đều có mở trường Tiều-học lir lớp nám cho đến lớp nhất.
Học hết lớp nhất, bọc trò phải thi bằng Co-Thủy gọi là bằng So-họe Pháp-Việt.
Kỳ thi Sơ-học Pháp-Việt cũng gồm 2 phần thi viết và thi vấn đáp.
Thi viết gồm 4 bài.
- Ám-tả với câu hỏi, chấm luôn cả chữ viết. Bài nầy có 5 lỗi trở lên thì bị loại.
- Luận Pháp văn về tả cảnh, thuật-sựị, viết thư bay bình-luận dễ-dàng.
- Tinh đố : Hai bài toán về bỗn phép tinh, về đo lường thông dụng, về hợp kim dễ hoặc về vốn lãi.
Trang sách 103- Vẽ, hoặc nũ công cho các nữ sinh. Bài thi vễ, các thí-sinh có thề chọn bài Hán-tự thay.
Đủ điểm trung binh 10/20 thì được vào vấn-đáp. Thí-sinh sẽ được hỏi về bết các môn đã học, đều bằng tiếng Pháp.
Đáng chú-ý là ở chương-trình tiều học này về Sử gồm cả Nam-sủ lẫn Pháp-sử. Lúc đi thi giám khảo hỏi về cả hai môn này.
Vào vấn đáp, thí-sinh nếu được 10/20 điềm trung-binh thì đậu.
Điềm thừa ở kỳ thi viết có thể bù vào ký thi vấn-đáp.
Cao-đẳng Tiều-học.- Các học-sinh đậu bằng Tiều-bọc được theo học ban Cao-Đẳng Tiều-học. Ban này học trong 4 nám :
Năm thứ nhất Năm thứ nhì Năm thứ ba Năm thứ tư Cuối năm thứ tư có kỷ tốt-nghiệp đề lấy bằng Thành-Chung, còn gọi là bằng Cao-Đằng Tiêu-hpc.
Chương-trinh bậc Cao-Đẳng Tiều-Học dạy bằng Pháp văn gồm các môn :
Ngữ-học Pháp.
Lịch sử Pháp và Việt Nam.
Toán : số học, đại số và hình học, cả hình học phẳng lẫn không gian.
Vật-lý, hóa-học, vạn-vật, luân lý.
Có học thêm cỉ Hán-lự và Quốc-văn. Ngoài ra lại có môn vẽ, Các nữ sinh không học vẽ thì học nữ-công.
Các trường Cao-Đảng Tiều-học được mở tại các thủ-phủ các xử và tại một vài tỉnh lớn. Ở những nơi như Hà nội, Huế, Saigon có rất nhiều trường tư được mở ra để dạy chương-trình bậc này,
Trang sách 104Về kỳ thi bằng Thành-Chung, các thí sinh cũng phải thi hai phần thi viết và thi vẫn đắp.
Thi viết gồm các bài :
- Ám-tả với câu hỏi, chấm luôn cả chữ viết.
- Luận : Pháp văn nghị-luận luân-lỷ hoặc văn-chưrơng. Hai đề thí-sinh chọu một đề, mấy năm về sau, lừ năm 1935, bỏ lệ ra hai đề thi mà chỉ còn một đề.
- Toàn : Hai bâi tính.
- Lý-hóa : Một câu hỏi giáo-khoa và một bài tírh.
- Vạn-vật.
- Vẽ, hoạc Hán-lự, - Nữ sinh thi Thủ công - Luận Việt-ván Tuy thi tất cả 7 bài, nhưng các bài ám-tả và luận Pháp-văn được chấm trước. Chỉ những thí sinh nào được điễm trung binh 6/20 về hai bài này, các bài khác mới được chấm tới.
Khi tất cả các bài đã được chấm, thí sinh được đủ điểm trung bình 10/20 thi được vào vấn đáp.
Năm nào thí sinh đậu hài viết ít quá, Hội Đồng Giám-Khảo sẽ lùy tiện vớt thêm một số.
Trong kỳ vấn đáp, thi sinh bị bỏi về tất cả các môn đã học.
Thi sinh nào đủ điểm trung bình 10,20 thị được đậu. Điềm thi viết thừa có thể phụ vào điềm vấn đáp Nếu hai bằng Sơ-học yếu lược và Cơ-thủy, không phân thứ hạng các thi sinh thi đậu, thì bằng Thành chung các thỉ sinh có thê đậu :
Thứ: khi đủ điêm trung bình 10/20 Bình thứ : khi được 12/20 Bình : khi dược 11/20 Ưu: khi được 16/20 Tối-ưu với lời ban khen của Hội-Đồng Giám-Khảo khi được 18/20.
Trang sách 105BẬC TRUNG-HỌC Trên cấp Cao-đẳng Tiều-bọc là bậc Trung-học, hạn học là ba năm.
Chương trinh phỏng theo ba lớp sau cùng của chương trinh trung-học Pháp tương-tự như chương trình Tú-Tài ngày nay, và khi đậu được gọi là Tú-Tài bản xử (Brevet de Capacité équivalent au Baccalauréat Métro- politain).
Cũng như Tú-Tài ngày nay bằng Tú-Tài bản xứ có hai phần, phần I và phần II.
Chương trình dạy bằng chữ Pháp, nhưng có dạy Việt-Ngữ và kề đỏ là một sinh-ngữ.
Thi cũng có thi vấn đáp và lhi viết ở cả hai phần.
Lúc đậu cũng có phân hạng từ Thứ đến Tối ưu.
Trong khi thi Viết, bài Pháp văn, Nghị luận luân lý hay văn chương phải được ít nhất 6/20 mới được chấm các bài khác và cũng phải đủ điềm trung bình mới được đậu.
Các trường Trung học trước đây chỉ có mở tại Hà-nội, Huế và Saigon.
BẬC ĐẠI HỌC Các học sinh đậu Tú-Tài cả hai phần được vào Đại-Học.
Đại-học mở tại Việt-Nam lừ năm 1919 lúc đầu là những trường Cao Đẳng đề đào tạo các nhân viên chuyên môn cho Chinh Phủ. Về sau mới ruở các trường Luật khoa, Ý-khoa và Dược khoa Đại-học.
Mãi tới năm 1938, mới có mở thêm các trường Nông Lâm và Công- Chính. Sau đó mới có trường Khoa-học.
CÁC TRƯỜNG CÔNG-NGHỆ Cùng với việc học chữ, người Pháp có mở các trường Công-Nghệ thực-hành lại các (hủ-phủ, hoặc một vài tỉnh lớn gọi là trường Bách-Nghệ với mục-đích đào-lạo một số thợ-thuyền chuyên-môn Ở Tuyên-Quang và Biên-Hòa cỏ mở trường Canh-Nông Thực-hàn h.
Trang sách 106NỀN HỌC PHÁP Song song với nền học bản-xứ người Pháp có trường riêng cho trẻ Pháp học, nhưng một số trẻ Việt cũng xin được vào học các trường nầy.
Có từ bực Tiều-học đến bết bậc Trung-học với các bằng tốt nghiệp Tiêu học, Trung-bọc và Tú-tài.
Bằng Tú-tài này gọi là bằng Tú-tài Pháp đề phân biệt với bằng Tú-tài Bản-xứ nói trên.
Nên chú ý là kể ti khi việc học được người Pháp cải-tô lại, các nữ-sinh cũng được dự các ký thí, không như thởi trước các kỷ thi chỉ dành riêng cho nam-sinh.
VIỆC HỌC NGÀY NAY Học-chế ngày nay, kề lir ngày thu hồi nền độc lập đã cải tô nhiều lần, và hiện nay chia làm 1 bậc :
Tiều-học Trung-học Đại-học Cao-học BẬC TIỀU-HỌC Bậc Tiêu-học có bằng Tiều-học.
Ngày nay học trò trường công có đủ điêm trung bình ở hai lớp nhi và lớp nhất được miễn thi Tiều học. Kị thi chỉ mở cho các học- sinh trường công không đủ điểm trung bình ở hai lớp nhì và nhất và các học-sinh trường lư.
Chương trình học bằng tiếng Việt gần giống như chương-trình Tiều học xưa, kỳ thi chỉ có thi viết.
Trang sách 107BẬC TRUNG-HỌC Bậc Trung-học chia làm :
- Trung-học độ-nhấl-cấp học 4 năm. Đệ thất, đệ lục, đệ ngũ và đệ tứ. Có 2 ban : ban Phở-thông và ban Kỹ-thuật.
Bằng cấp của cấp này gọi là bằng 'Trung-học Đệ-nhất-Cấp.
- Trung-học Đệ nhị-Cấp học 3 năm :
Đệ tam, đệ nhị, và đệ nhất cũng có hai ban : ban Chuyên-khoa và han Kỹ-lhuật.
Học hết lớp đệ nhị, thí sinh thi bằng Tú-tài phần I.
Đậu Tủ-Tài phần 1 lới được lên bọc lớp đệ nhất và cuối năm đệ nhất thì lhi Tú-tài II.
Tại các kỳ thi Trung học Đệ nhất-cấp và Tú-tài I chỉ có thi viết, thi Tủ-tài II, có thi vấu-táp về sinh-ngữ.
BẬC ĐẠI-HỌC Các học sinh đậu Tú-tài I1 được vào học các trướng Đại-học đề thi bằng Cỉ-nbân hoặc bằng kỹ-sư.
BẬC CAO HỌC Trên bật: Đại học là bậc Can học dành cho các sinh-viên đã đậu bằng Cỉt-nhân.
Tốt nghiệp bậc Cao bọc là bằng Tiến sĩ.
CÔNG-NGHỆ HỌC Cũng có các trường dạy nghề song song với các trường đạy chữ.
KẾT LUÀN Tôi xin ngừng ở đày để kết luận. Có lẽ sẽ có bạn đọc cho rằng tôi đã quá sơ-lược khi nói tới học-chế và thi-cứ ngày nay. 'Tôi cũng nhận
Trang sách 108thấy vậy, nhưng tôi tìn rằng việc học ngày nay trong chúng ta ai cũng đã hiểu nhiều, vả chăng ngày nay chúng ta còn dang ở thời bỷ rò rẫm để cải lổ, đợi khi nào hoàn-loàn, tôi sẽ nhắc lại kỹ lưỡng hơn.
Qua những trang trên chúng la nhận thấy rằng việc học của nước ta đã tiến rất nhiều lừ đời nhà Ngô và bình, và với mỗi triều đại mới, sự học lại được sửa đỗi đề đi đến chỗ được gọi h hoàn bảo.
Tuy nhiên ta phải nói rằng rái học thời xưa của ta là cái Học Khon Cử, trọng từ-chương hơn thực tế. Nên học khoa-củ này đã khiển cho chủng la chậm tiến, chuộng hư-danl, ưu cải vỏ hơn cải chất.
Tới thời Pháp thuộc, chúng la lại qua một giai đoạn Nhồi Sọ.
Người Pháp muốn đạo lạo những nhân viên để phục vụ họ hơn là mở. mang nền gián dục của một Quốc Gia. Họ đã kim hãm sự học rất nhiều.
Rồi đến cái học ngày nay của chúng la ! Chúng ta đã tránh được hai lỗi của thời xưa là học khoa-cử và học nhồi sọ chảng ?
Chúng ta đã thực hiện một nền gián đục dàn chủ chua? Bố là điều chúng la mong mỏi lắm, và Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã nhiều lần sửa đổi chương trình về bọc cũng như về thi để đạt tới mục đích cao quý này.
Và cho lới ngày nay, khi tập sách này dang ấn hanh, tháng 8-1965, một sự cải tổ mới đang được nghiên cứu !