Tài-liệu đọc thêmPhần 14 · trang 260–263
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 260Tài-liệu đọc thêm VẤN-ĐỀ NHÀ Ở THÔN-QUE MIỀN NAM . Từ cái nhà ở thành thị sang cái nhà ở thôn quê, xét kỹ, la thấy có những cần dùng khác nhau trong đời sống, nó đòi hỏi những cách xếp đặt cái nhà cũng khác nhau.
Người trung-nông và phú-nông (có chừng 5 đến 20 mẫu) thường phải có ít là 2 con trâu cày, hài con bò kéo xe mà họ nhốt ngay ở trái nhà đề phòng trộm. Nhà lại có một gian đề chứa phân trâu, một gian để chứa nông sản hạt giống, một gian bếp và để nông cụ ngoài những gian đề thờ tự, tiếp khách, ăn, ngủ.
Phân trâu ở miền Nam đã bết sức cần cho nhà nông. Người ta phải để hàng năm cho khô và nỏ, đồng thời đi tiều vào đó, đỏ nước vo cơm thừa canh cặn vào cho ngấu thêm, khi đem dùng thì nghiền phân nhỏ tơi ra trộn với phân vôi, bảnh dầu, phân cò (phân hóa-học hiệu con cò).
Còn nông cụ là những thí kềnh-càng như cái máy quạt lủa lớn gần bằng cái xe taxi, khi nào cần quạt thi khiêng ra sân, với cái đề đập lúa và hứng lúa ấy, to bằng cái xe ba gác, khi nào gặt thi khiêng ra ruộng không kể cái bừa dài hơn 2 thước, cái thang để leo đỗ lúa vào cót đề dành, cái cần vọt đề mắc trên giếng lấy nước tưới...
Hạt giống thì đựng trong những bao lớn, bao nhỏ và treo lên, sợ chuột cũng như sợ để sát mặt đất thì ẩm-thấp...
Nông-sản thi nào là khoai mì phơi đề làm bột, lủa thì đã đành, còn khoai lang, bí đao, bí đỏ...
Tắt cả những thứ ấy người dân quê vẫn đề dồn hết cả vào cùng một cải nhà ở ba gian hai trái của mình sắp đặt đại khái như sau đây :
Trang sách 2611) Tủ thờ 2) Bộ ngựa 3) Nơi tiếp khách 4) Cái vồng 5) Buồng ngủ của con 6) Chuồng trâu 7) Kho lúa và nông-sản 8) Phân trâu 9) Bếp 10) Chỗ chứa nông cụ 11) Hiên 12) Hạt giống.
Từ bao nhiêu đời nay, ở như vậy họ không cảm thấy gi là mất vệ-sinh vi chính họ rất ít ốm đau và hết sức khỏe hơn những người ở tỉnh nhiều lắm, nhất là khỏe hơn những người hay nói đến vệ sinh.
Cái nhà tuy thế thường cài then khóa cửa, họ ít khi ở nhà mà suốt ngày ở đồng ruộng. Đi cầu không thành một vấn đề đối với họ. Còn cống rãnh, nhất là những nhà ở đồi, nước chảy suôi xuống ruộng thì lại càng không thành một vấn đề gì hết.
Vậy vấn đề nhà ở thôn quê phải đặt ra theo khía-cạnh khác không phải khía-cạnh vệ-sinh.
Xét vê phương-diện xã-hội :
Cách bố-trí nhà ở như đã nói không dùng cho chế-độ đạt gia-đình.
Thường các con trai lớn lấy vợ là cha mẹ làm riêng cho một cái nhà ở nơi khác để ở, chỉ con út ở lại với cha mẹ cho đến lúc cha mẹ chết thì được hưởng cái nhà ấy.
Thành ra có những ông bà đến cảnh già thì trơ-trọi và buồn vô cùng. Lắm khi vào một nhà vắng teo như vậy chỉ có hai ông bà già nấu-
Trang sách 262nướng hầu-hạ lẫn nhau, còn con cái lớn dắt nhau đi ở tận đâu đâu, ta cảm thấy thương cái tuổi về chiều ấy của họ.
Xét vê phương-diện giáo-dục :
Cha mẹ già trong xã-bội nông nghiệp là một cái kho kinh-nghiệm mà con cái ở riêng nơi khác thi không được hưởng và học hỏi thêm.
Cho đến tính-tinh, những người thiếu tình thương của cha mẹ già ủ- ấp, thiếu ý-niệm giây rễ nhiều đời truyền nối nhau, tính-tinh ấy cũng đã mung lung đến phiêu-liu bừa-bãi, dễ lăng-mạn rất hại cho cuộc sống xã-hội.
Xét về phương diện kinh-lế :
Khi xưa người Việt từ miền Bắc và Trung tới đây, một nơi đất quá rộng, thì cần phải chia người của gia-đinh ra, đề mỗi con khi lớn, có vợ thì đỏng ở một chỗ xa mà giữ lấy ruộng dất và mở-mang thêm mãi ra.
Chinh-sách nhất thời ấy chỉ có ích trong giai-đoạn đầy người Thủy Chân Lạp. Sang đến thời nay, đâu đó đã an bài rồi, tbì chính-sách ấy rất thiệt về kinh-tế gia-dình.
Các con túng-thiếu thi sản gia tài đã chia sẻ rất sẵn tay ký bán dễ đi nơi khác làm an, không có một cái tinh quê hương nào níu họ lại với miếng đất mà ông cha họ đã rỏ mồ-bôi ra để khai phá. Cho nên những người có thần thế, và có lực về tiền tài mới đễ đề có những dồng ruộng cò bay thẳng cánh mà lung-lạc đời sống kinh-tế của nhân-dâu.
Xét như thế, chúng la thấy rằng phải chữa cái nhà ở thôn-quê miền Nam bàm theo ý dựng cho chặt chẽ lại chế độ đại-gia đinh.
Trong nhà cần có chỗ nằm ngồi cho các ông bà già, chỗ riêng cho con cái, chỗ học hành chơi-bời cho trẻ con, chỗ để nông-sản thứ cần thoáng khí cũng như thứ cần .kin đáo, chỗ đề nông-cụ gọn gàng trật tự mà không sợ trộm cắp, chỗ để chứa phân mà không hại đến vẻ
Trang sách 263đẹp của cái nhà, chỗ chuồng trâu bò tiện canh-gác mà không hôi-bám, chỗ làm việc vặt trong bếp và trong nhà, chỗ bầy tủ thờ, tiếp kbách khi tiếp năm ta người cũng như khi tiếp vài ba chục người.
Thật là cả một vấn-đề khó-khăn đề quau-niệm mà tìm một kiều nhà cho thích-đáng.
Vậy nhà ấy nên như thế nào ?
Xin các quý vị kiến trúc-sư, kỹ-sư cùng các nhà chuyên-môn về nông-học và các độc-giả góp ý-kiến vào trong việc xây dựng chung này.
CAO-THẮNG Xây Dựng Mới số 2 — tháng giêng 1958.