TANG-LỄ CÁC VỊ ĐẾ VƯƠNGPhần 21 · trang 332–335
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 332TANG-LỄ CÁC VỊ ĐẾ VƯƠNG Về hôn lễ, đã có nói qua về việc các con cái vua chúa lập gia-đình, nay nói tới lang-lễ không lẽ bỏ qua lang-lễ các vị để vương.
Cũng như trong việc cưới, việc lang, dù là vua chúa cũng phải theo phong-lục nước nhà, tuy-nhiên trong việc áp-dụng có nhiều điều dị- biệt cũng cần biết.
LỜI TRỐI-TRĂNG Trước khi vua chết, trong lúc hấp hối, Hoàng-Thái-lử và các vị Triều thần, nhất là các vị được nhà vua muốn phó thác hậu sự, đều tự- lập quanh giường bệnh đề nhận lời trổi-trăng của nhà vua.
Có một vị quan bộ Lễ ghi chép những lời cuối cùng của nhà vua đồ tuân hành.
Cùng với các quan Triều-thần nói trên, có cả một số nhân viên dự dể lo tang-lễ.
THẮT HỒN-BẠCH Khi nhà vua chút hơi thở cuối cùng, nhân viên bộ Lễ dùng lụa trắng thắt hồn-bạch, gọi là Thần-bạch. Thần bạch cũng thắt giống như hồn-bạch trong dân-gian.
LỄ MỘC-DỤC — LỄ PHẠN-HÀM Mình nhà vua cũng được tắm gội bằng nước lá ngũ-vị. Sau lễ Mộc dục là lễ Phạn bàm. Người ta đặt vào mồi nhà vua thay vì những dồng tiền, toàn hạt trai và ngọc quý.
Lẽ tất-nhiên trong những lễ này cũng như mọi lễ về sau đều có khắn tế theo tục-lệ.
Trang sách 333LỄ KHÂM LIỆM Có lễ Tiều-liệm và Đại-liệm.
Trong lễ Tiểu liệm, con cái mặc quần áo cho vua cha, dùng lua trắng để liệm. Sau đó xác vua cha được khiêng đặt trên một chiếc giường, trải chiếu-hoa kê ở phía Tây phòng ngủ nhà vua.
Nhà vua lúc này đã mặc bộ quần áo thiết triền, với bên trong các quần áo quý khác. Một cuộc tế-lễ được tổ chức đề dâng yến-tiệc lên hương hồn nhà vua.
Sau đó là lễ Đại-liệm. Áo quan được đặt tại mé Đông ngự-phòng.
Trên áo quan có trải chiếu hoa và một chiếc thảm hoa. Con cháu và các quan đại thần lại tế một chầu thứ bai, dâng yến lễ lêu nhà vua.
Sau đó xác nhà vua được khiêng đặt vào áo quan.
Lễ nhập quan đã xong, các quan từ nhị phẩm trở xuống mới được phép vào dự lễ. Các hoàng-tử, công-chúa, hoàng-buynh, hoàng đệ và các quan đều lễ nhà vua hai lễ rưỡi, vừa lễ vừa khóc. Lúc này các hoàng- hậu phi-tần cũng khóc-lóc lễ bái. Kế đó, nắp quan-tài được đóng lại. Lại một tuần tế theo lễ-tục.
LỄ PHÁT-TANG Hoàng Thái-tử ra chỉ dụ phát tang. Từ giờ phút này người trong hoàng-tộc, các quan triều-thần văn võ, quân lính và thần dân phải chịu tang. Lẽ tất-nhiên lễ phát-lang chỉ cử-hành sau các lễ thiết linh-sàng. linh-tọa và lập minh-tinh.
Tang đã phát ra, tại các tỉnh cũng như ở kinh-đô, các quan đều phải mặc tang phục theo chỉ-dụ ấn-định.' Cũng có cáo tiên-vương và tiên tổ như thần dân để xin phép đặt bải vị nhà vua vào nhà Thái-miếu.
Sau đỏ quan-tài được khiêng lới điện Hoàng-Nhân, mé phải sân Triều và ở đây minh-tinh được trương lên.
Trang sách 334LỄ ĐĂNG-QUANG của vua kế vị Quan tài đã đặt tại điện Hoàng-Nhân.
Hoàng-Thái-lử tới lễ-yết đề nhận lờ di chiếu, kế đó làm lễ đăng-quang lài điện Thái-Hòa đề triều thần tôn lên làn vua kế vị. Trong nước không thể một ngày không vua được. Hoàng thái tử phải cần vối ngôi đã, việc Lug-lễ sẽ tính sau. Kể từ ngày đăng quang lân quân hưu lại điện Quang- Minh trong suốt thời kỳ tang-chế. Hàng ngày có buổi chấu, tân quân phải sang nhà Tả-phương, có đi làn lọng cò guạt, nhưng làn lọng cờ quạt này chỉ được dùng màu vàng mà không có thêu-thùa gi. Trong những buổi chầu tân quân mặc áo trắng, đội khán trắng vải to, còn càe quan mặc áo vải lo đen, khăn trắng cũng bằng vải to.
CHIÊU-TỊCH-DIỆN Nhà vua cũng hàng ngày làm lễ chiêu-lịch-diện đâng cơm rượu cho luọng hồn vua cha, nhà vua phải đích thân cử lấy lễ này, và chỉ trong turờng-hợp bất-khả kháng mới ủy cho một vị hoàng-tử trực đồng huyết. lững. Nếu xác vua cha quận tại điện lâu ngày thì trong những ngày sóc inng, vua và triền thần phải có lễ-tế chiêu lịch diện dâng cơm rượu cho hưrng-bồn vua khuất.
Các hoàng tử phải thay phiên nhau trong công việc này, và bất cứ :", nếu không có phận sự đều không được lui lới điện Hoàng-Nhân.
IK ĐẶT TÊN THỤY Một quyền số vàng gọi là kim sách được thiết lập. Sổ này có 9 tờ giấy rang y dài 6 tác, cao 3 phân 4 ly và rộng 5 phần 1 ly. Các quan triều Hàn phải cáo Trời, Đất tại đài Nam-gian và đồng thời cũng cán với các v• liên-vường, tiên-hậu. Lại phải cáo cả với Thần Nông, vì thần coi về Nông-nghiệp tại Đông-phương. Hai quan đại-thân mang dâng hon-sách, và ngự-ấn tới bàn thờ ; hai vị quan phụ-lá đọc tên Hiệu v, lên Thuy nhà vua đã được ghi trong kim-sách. Đoạn tân quân tới
Trang sách 335trước giường vua cha làm lễ đâng tên Hiệu và lên Thụy, sau đó các tên này được ghi vàn Minh-tinh.
Lễ nghi xong, lân-quân ra sắc dụ để kế công trạng của cha và tuyên-bố đặt lên Hiệu và lên Thụy.
CỬ HÀNH ĐÁM TANG Tên Hiệu và tên Thụy của vua cha đã đặt xong, bộ Lễ có nhiệm vụ kén ngày để củ hành đám láng. Ngày đã được kén chọn, các quan trong triều, văn-từ Thiêm-sự, võ lừ Thống chế trở lên đều phải để tâm lo-liệu đám láng.
Bộ Lễ thông sức cho dân làng các xã đám táng sẽ đi qua đề hương- chức đặt hương-án làm lễ, đồng thời trước đấy cũng có lễ cáo trời đất tại đài Nam-giao, cũng như cáo các vị Tiên vương và Thấn- Nông.
Trong đám-táng vua Gia-long cử hành ngày rằm tháng tưr năn Canh-tý, vào ngày Kỷ-hợi (:6-5-1920), vua Minh-Mệnh đã thân tới đền Minh-Thành để tế sơ Ngu và làm lễ yên-vị cho vua cha.
Sau đó lại có lễ cáo trời đất, các vị Tiên vương và Thần-Nông.
Rồi các cuộc tế Ngu liếp tục như tục-lệ đã ấn định.
Xét ra, về phương diện phong-tục, tang lễ một vị đế-vương cũng không khác tang-lễ một người dân bao nhiêu. Tất cả những điều ghi trong sách lễ đều áp dụng, chỉ khác ở chỗ có thêm những lễ-nghi! liên quan tới Triều-đình.