Tài-liệu đọc thêmPhần 26 · trang 382–398
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 382Tài-liệu đọc thêm Trong dám tang, thường có văn điều của bạn-bè cùng những người thân thuộc.
Dưới dây là một mẫu văn diễu.
VĂN-ĐIẾU HẠC-SƠN CƯ-SĨ (Vừa là bạn vừa là thông-gia) Cơ trời biến chuyền, gây tang-thương đề khách luỗng ngại-ngùng ;
Vận nước loạn-ly, đường chiếu-đấu tưởng ông còn gắng gỏi.
Vần biết chuyền vần, hết khóm tre kia già, có khóm măng nọ mọc, nở nang bò cõi ngàn thu.
Cho hay định mệnh, hơn một ngày chẳng ở, kém một giờ không đi, chía rẽ âm-dương đôi lối.
Nhớ ông xưa :
Chất cổ người kim, Con dòng cháu dõi.
Báy nhiêu năm cửa Khổng sân Trinh, sôi kinh nấu sỉ, mong rập hời rồng-mây ;
Trải bao độ thành Tây, tỉnh Bắc, tiếp khách thừa dân, đề khảo đường thương-mại;
Nghiệp văn chương từng đec đẳng chốn khoa-trường :
Tài kinh tế đã tranh-dành nơi đô-hội ;
Bước công-danh đã dần, mong ông Nghè ông Cổng, võng lọng biền cờ đủng-đỉnh, cho phỉ - chí nam-nhi ;
Bậc phầm giá kém đâu, cũng cụ Cửu cụ Hàn, ngựa xe bằng sắc vỏ- vang, tỏ xứng danh thời-đại ;
Chuyện với bạn-bề toàn mạch sách, chứa chan kho chữ trong lòng ;
Trang sách 383Yêu cho con trẻ những kẹo đường, sủng-sẻng lủi tiền đầu gối ;
Hạnh-tư tao-nhã, thường giao-du nhiều khách phong-lưu ;
Cư-xử ôn-bòa, hay bố thí những người nghèo đói.
Rượu chè dùng ít, xềnh-xoàng chẳng thich xa-hoa ;
Bài bạc chơi qua, thua được không màng theo-đuởi ;
Cũng lắm lúc tính-linh cao-bứng, đến lửu-lâu ca-quán, tiếng trống chầu còn văng-vẳng bên tai ; 'Thường nhiều khi sơn-thủy nbàn du, tìm thắng cảnh danh lam, bài thơ bọa từng ngâm-nga trên suối ;
Cháu con đông-đúc, năm trai bốn gái, thành thất thành gia, Trại ấp phong-quang, lắm ruộng nhiều rừng, đủ cây đủ cối ;
Trai đã nên ông kia ông nọ, công-danh sự-nghiệp đường-hoàng, Rề chẳng phải bố đĩ bố cu, giáo-tập thương-gia tài giỏi. trần Đương nhà lan nếp tẻ đề-huễ, hiềm vì nội-tưởng sớm lánh cõi ai ;
Đỡ trưởng gấm hôm mai hiu-quạnh, gập ý trung-nhân lại nối giây ân-ái ;
Thấy thế-lình đảo-điên thêm ngán, xa thị-thành, về điền giã, dưỡng- lão an-nhàn ;
Nghĩ nhân loại đau ổm mà thương, xếp nho-giáo, học y-khoa, tầm phương cứu giai ;
Lòng hào-biệp xa gần nghe tiếng : ông chủ ấp Hạc-Sơn, Bậc lương-y già trẻ nhớ ơn: cụ lang người Hà-Nội.
Hay là thuốc trường sinh thiếu vị, thực-địa cố tịm.
Có lẽ thuật bất-tử đón thày, hoài-sơn đi vội.
Tưởng đến ông hưởng thọ sáu mươi bảy luổi mắt vẫn sáng trong;
Được tin bạn lâm chung mười bốn trọng đông, lòng càng sôi nổi.
Trang sách 384Than ôi / Đá lở giếng khô, Sao rời vật đổi.
Nước xuống bề khơi, Mây che núi tối.
Bóng bạch-thỏ qua sông, Mộng Hoàng-Lương trên gối.
Phút đương kim hóa cổ, tấm hinh-dung giá đề lòng gương ;
Bỗng vừa có ra không, trên bài-vị bương bay đượm khói.
Sao không sống đủ trăm năm đề dự thành công cách-mạng, hưởng cuộc thái-bình;
Đã vội về chi chin suối chóng được bội-diện chánh thê, trọn duyên túc-trái.
Đề phòng loan lạnh lễo, luống những ngậm-ngùi, Còn bóng hạc mịt-mùng, biết đâu tim-lõi.
Đến nỗi xóm giềng ngơ-ngân, vắng tiếng vắng tăm.
Ngán thay nhà cửa bàng-hoàng, nhớ ăn nhớ nói.
Cảnh ngọc cũng sầu Người vàng khôn đổi ;
Con cháu thảm thương, Bạn bè viếng hỏi.
Vậy thì sống có tinh hoa Chắc rằng thác không mê-muội.
Chỗ thông-gia tưởng-nhớ, đem điếu văn gọi lại hồn xưa.
Phận cổ-hữu thênh thang, thoát trần tục nhẹ nhường mây nổi.
Hương hồn thanh-tủ, ngao-du uyền lãng bồng thanh.
Thần khí anh-linh, phù-hộ gia-trung tộc-nội.
Ô hô, ai tai !
Chiều Dương NGUYỄN-CÁC PHỤNG (Sơn Nhân nhàn bút)
Trang sách 385Và dưới đây là một mẫu văn-tế :
VÀN-TẾ VỢ Hỡi ơi !
Mây buồn che phủ, Gió thảm thầm reo.
Cuộc trăm năm dâu bề đã nhiều, núi Kinh Bắc (1) hiện càng chua xót.
Đời một giấc nắng mưa cũng lắm, mây Phong Châu (‹) bỗng chuyền sầu ưu !
Nhố em xưa :
Vẻ người thanh lịch, Giáng điệu yêu kiều.
Tính hiền thảo, dưới nhường trên kính, Nết ôn hòa, chồng mến con yêu.
Trách trời già độc địa, đau đớn nhà Thung, thân hiếu nữ sớm cuộc đời từ giã. (3) Căm đất rộng nghiệt cay, quạnh hiu con đỏ, phận mẹ hiền mau cõi chết phiêu diêu !
Cha già thương sót Chồng góa phiền đau Nào đâu lúc thăm cha vui vẻ, săn sóc giờ ăn xiấc ngủ Còn đâu khi đằm thắm chiều chồng, hỏi han mọi việc đủ điều.
Trách Nam Tào Bắc đầu chua tử ghi sinh, lúc biên chép chẳng nương tay thư bút.
Buồn Ngọc để, Như Lai quyền cao đức cả, phép nhiệm mầu không ân tứ khuê lưu.
Trang sách 386Khiến ngày nay:
Cửa nhà vắng vẻ, Con cháu gieo neo ;
Vườn trước sân sau lạnh lùng quạnh quẽ, Bữa ăn giác ngủ ngao ngán đìu biu.
Đàn con dưới cánh, mong mẹ hiền tuổi hạc càng cao, đợi ngày chúc dâng Khải tửu. (4) Lũ cháu bên minh, tưởng bà ngoại sức loan còn mạnh, vui mừng hưởng sự nâng niu !
Nào ngò đâu :
Hai ngày trọng bệnh Một buổi u sầu Em ra đi bỏ chồng con thêm cháu ngoại với hận lòng tê tái.
Anh ở lại nhìn cửa nhà cùng vườn ngõ, nặng niềm nhớ thương đau.
Vắng nụ cười ưu ái sân Lai, từ sớm đến chiều, trai gái thấy bâng khuâng ngơ ngác;
Đặc ảng mây mịt mù núi Dĩ, bết ngày lại tháng, lớn bé đều ủ rũ buồn rầu !
Ba mươi năm ân ái, tinh vợ chồng khắng khít tháng ngày, thêm tuổi thọ càng thêm bền chặt.
Bốn mươi sáu bưởng dương, nghĩa sinh tử chia phôi giây phút, sầu ly biệt sầu mãi dài lâu !
Thôi lừ đây:
Am dương đôi ngả Kẻ khuất người còn, Giá hạc vân du, em về nơi vĩnh cửu Trần ai tục lụy, anh ở trấn Phiên An ; (5)
Trang sách 387Tìm lại kỷ niệm xưa, lập ảnh cũ, chỉ xem bình ngắm bóng.
On đến yêu đương trước, tấm tinh còn, đành mến cháu nuôi con !
Nỗi xa xót, con thương cháu nhỏ, nén hương trầm càng nhắc nhở sớm hôm, đau lòng trẻ dại, Cảnh bùi ngùi, chị khóc em buồn, lúc thăm viếng thêm não nùng châu lệ, khổ hận người thân !
Than ôt !
Tình chung chăn gổi, Đầu ấp má kề, Trung trinh tiết hạnh, Trọn nghĩa phu thê, Tưởng cùng tuế nguyệt, Vui chữ xướng tùy, Nào ngô đôi ngả.
Vĩnh biệt chia ly !
Thương thay ! (6) 1) Kinh Bắc, quê của người chồng. 2) Phong Châu, quê của người vợ. 3) Người chết còn cha gid. 4) Khải tửu, rượu chúc thọ 50 tuổi. 5) Sàigòn. 6) Bài nầy của noạn giả làm khi rọ là Nguyễn-Thị-Uân từ-trần ngày 12 tháng 11
Trang sách 388Tài-liệu đọc thêm TANG LỄ ĐỒNG BÀO THƯỢNG hôn-lề Tôi đã có dịp trình-bày cùng bạn đọc những phong-tục về tinh các của các sắc dân đồng-bào Thượng miền Nam nước Việt từ miền Trung cho tới khắp Nam-Việt.
Gần đây đồng bào Thượng đã di-cư nhiều về vùng quốc-gia và đã gần gũi chúng ta nhiều hơn. Chúng ta có nhiệm vụ phải hiều biết kỹ-càng những anh chị em đó đề có thể giúp-đỡ bọ một cách hữu. hiệu.
Chúng ta đã biết hôn lễ với mọi lề-lối của từng vùng qua từng sắc dân, chúng ta cũng nên biết sơ-lược và tang-lễ của họ. Tang-lễ có khi dán-dị, có khi phước tạp tùy lừng bộ-lạc và cũng lùy từng địa-phương với sắc dân. un của bọ mạng nộng tnh-chất dị đoan mêta Tannt ay ta càng thấy nhiều hơn trong tang-lễ.
Các sắc dâu Thượng nào, ở vùng nào đã nói sơ qua ở bài hôn lễ, đây xin không nhắc tới nữa, và chỉ xin lần lượt nói về tang-lễ của từng sắc dân theo thứ tự đã dùng trong bài hôn-lễ :
Người TEU Người SÉDANG Người CHÀM Người BAHNAR Người DJARAI Người ROCLAI Người RHADÉ Người KOHO Người M'NONG Người STIENG
Trang sách 389Về người Chàm, cũng sẽ có mục nói riêng về tang-lễ của người Chàm Châu-Đốc.
NGƯỜI TEU Khi một người Teu chết, cả làng xã kéo đển giúp đỡ, người giúp gạo, người giúp rượu, người giúp tiền, và ai không có gì thì giúp công.
Ngày hôm đó cả làng nghỉ việc và cả những làng lân-cận cũng nghỉ việc đề chia buồn.
Người Teu thuộc bộ-lạc Vân-Kiêu và Tồi-Ôi tỉnh Quảng-Trị, mỗi khi có người chết, gia chủ phải lo-liệu làm lễ mang thi-hài xuống tầng dưới đề cách một đêm, - người Teu cũng ở nhà sàn như phần lớn người sơn cước. Ngày hôm sau thi-hài được đem ra một khu rừng có ít người lui tới, chôn lút một nửa quan tài xuống. Ba năm sau, thân nhân mới lấy cốt mang về liệm lại, lúc bấy giờ mới mổ trâu, heo, gà làm ma rồi đem cải-táng nơi khác. Lần cải-táng này chôn sâu xuống đất lấp lại, đất được san bằng dề không ai biết ngôi mộ ở đâu.
Người Teu ở Thừa-Thiên và Quảng-Nam phong-lục khác hẳn. • ra Khi thân-nhân có người đau nộng, gia quyến phải lo-liệu mang nhà làng, nếu đề chết ở trong nhà, bị làng phạt vạ.
Xác chết được chôn theo ven khe suối, đầu suôi theo dòng nước chảy.
Sau ba năm, bốc mộ, cốt được bỏ sang chiếc hòm khác, chôn lại và có làm nhà mồ.
Mỗi kbi trong làng có người chốt, để tỏ dấu buồn rầu, cả làng cũ đi rầy năm ngày. Đó là những trường-hợp người chết bệnh, còn nếu có người chết bất-đắc kỳ tử như chết trôi, cọp bắt, bị bắn hay sót đánh cả làng cho là điềm gở, họ bỏ làng đi nơi khác.
Sau lần cải láng, - người chết bệnh, - người chết sẽ không còn được ai nhắc nhở tới nữa, và từ đó bị chìm vào lãng quên.
Trang sách 390Trong tang-chế, nam trọng, nữ khinh.
đè tang vợ 2 tháng.
Vợ phải đề tang chồng một năm, chồng chỉ Tang để kề từ ngày cằi-láng.
NGƯỜI SÉDANG Việc ma chay đối với người Sédang rất phức lạp và rất hại cho vệ- sinh chung. Họ tin rằng người chết chưa là hết.
Khi có người chết, thân nhân nhờ dân làng vào rừng đẵn cho một khúc cây lo dùng làm áo quan. Người ta đục lỗ vào khúc cây đề đút người chết vào. Ao quan trông hình thù như cái mũ và nắp đậy giống như mái nhà.
Tùy theo gia đinh giàu nghèo sẽ mổ trâu bò cúng lế từ 3 đến 5 ngày, trong lúc cùng lễ, xác chết vẫn đặt trong nhà.
Cúng lễ xong, áo quau trong có xác chết được khiêng tới đặt trên một lùm cây, tại một khu rừng ít người qua lại. Nếu không có lùm cây nào ưng ý, sẽ đóng bốn chiếc cọc đề đặt áo quan lên !
Mỗi khi trong làng có người chết, cả làng ở hẳn trong nhà ba ngày, và cũng cấm người ngoài không ai được vào trong làng, sợ hồn người chết đi theo phá hoại !
Trong khi thây ma còn quân trong nhà, người Sédang cúng lễ và ăn uống ngay bên cạnh.
Người chết được người sống chia của cho.
Áo quan đề trên lùm cây một thời-gian sau đó mới được chôn cất. Chôn cất xong, đám tang mới kể là bết. Người nhà thương tiếc người chết, đèm đèm đèn đuốc ra mộ đọn cỏ.
Hàng nằm tới ngày tết Thanh-minh vào tháng ba dương-lịch, thân - nhân người chết ra mộ khóc lóc thảm-thiết, rồi sửa-sang cho ngôi mộ.
Tang-lễ của người Sédang xét ra rất phiền phức và trái vệ-sinh. Họ là một sắc dân chậm tiến chính vì họ bị trói buộc vào những phong-tục tập quán cổ xưa đầy dị đoan, như qua tang lễ ta đã thấy.
Trang sách 391NGƯỜI CHÀM MIỀN TRUNG Việc tang-chế của người Chảm tùy gia phong-kiệm, giàu có thì chôn bằng áo quan, nghèo-túng thì dùng vỏ cây rừng quấn cũng được.
Một người Chàm chết, cả gia-đình òa lên khóc. Bà con chòm xóm nghe thấy tiếng khóc biết có người qua đời bèn rú lên kế-lế, rồi kéo nhau tập-trung tới nhà người chết.
Người chết được đặt lên một chiếc vỗng có ủ chiếu kín.
Bà con suôi-gia được lin đem chén, đĩa, chăn, gối, chiếu mền đến cho.
Để tạ ơn, gia chủ mồ trâu giết beo cho dâu gia làm lễ, rồi sau đó cùng ăn uống. Một phần đuôi, lai, mắt, mũi trâu đem theo với đám tang ra mộ cúng cho người chết.
Người chết đề trong nhà lâu hay chóng tùy gia cảnh giàu nghèo. Xác chết còn để trong nhà còn có ăn uống, bà con làng nước còn kéo nhau tới dự. Trong khi đó, xác chết cứ nằm nguyên trên chiếc võng có chiếc chiếu ủ kin. Đề lâu lẽ lất nhiên xác chết biến thể và có nước chảy ra với mùi nặng nồng-nề, nhưng thân nhân người chết không ai đề ý tới mùi khó chịu này. Đề cho nước chảy ra khỏi tràn khắp nhà, một chiếc nồi to được đề dưới võng đễ hứng nước đó.
Nồi nước này, lúc đưa đám, người con trưởng hoặc tang chủ phải đội lên đầu mang ra đỏ vào huyệt.
Đám tang, có ngưrời cìm đuốc đi trước, đến thi-hài người chết rồi đến bà con đi theo khóc-lóc kể-lễ.
Người Chàm iào buyệt không sâu lắm. Chỉ vào khoảng độ 1 thước 20. Nhà mồ làm trước khi chôn. Huyệt thường đào gần mộ người mẹ người chất.
Người chết được người sống chia cho một phần của cải, nồi chén, bát đĩa, quần áo, ve chai, ống nước v.v... Những của cải này dành hẳn cho người chết, người sống không được dùng tới, bởi vậy người ta phá hỏng đi rồi bỏ ngoài mộ.
Trang sách 392Chôn cất xong, thân nhân người chết sẽ kiêng-cũ một ngày ở luôn trong nhà, không ra ngoài và cũng không mua bán gì.
Sau đám táng, có nơi như vùng Ba-Tơ, tỉnh Quảng-Ngãi, người chết bị lãng quên không còn ai nhắc tới, cũng có nơi như tại Binh- Thuận, Ninh-Thuận, Khánh-Hòa v.v.., thân quyến vần không quên người chết, hằng săn sóc tởi mộ phần, hàng năm nhớ cả ngày giỗ củng bái. Cả những ngày mùa lúa mới, con cháu cũng mang đồ lễ tới dâng cúng tại mộ.
Người Chàm có những khu nghĩa-địa riêng, thường được chọn trên những khu đổi cao-ráo mà ở đây không ai khai-phá hoặc trồng-trọt gì.
NGƯỜI CHÂM CHÂU-ĐỐC Cũng là người Chàm, nhưng đồng-bào Chàm ở Châu-Đốc phong-lục không giống người Chàm miền Trung-Việt.
Tang-lễ người Chàm Châu-Đốc cử hành như sau :
Từ khi hấp hãt đến lúc chết. - Khi bay lin một bệnh-nhân đang hấp- hối, một số người láng-giềng được huy-động đến cùng nhau đọc thánh- kinh Coran với sự tin tưởng rằng khi ngho kinh như vậy, tri óc bệnh- nhân sẽ được sáng-suốt và sẽ chết với đầy đủ đức tin của người Hồi- giáo.
Lúc chết, một người thân sẽ lấy nước vuốt mặt cho bệnh nhân.
Người nhà khóc lóc, các vị bô-lão khuyên nên bớt khóc-lóc và thương lấy người đã chết.
Đào huyệt. - Hung-tin được thông báo cho hàng xóm. Mọi công việc hàng ngày đều ngưng, các thanh-niền đi đào huyệt cho người xấu số ở nơi họ-hàng người này lựa chọn.
Người ta thường lựa chọn khoảng đát chung quang Thánh-đường xã Châu-Giang, nhưng vì ở đây chật chội, người la đành phải chôn ở nơi khác, nơi khác thường là tại đất nhà. Mộ người Chàm Châu-Đốc, không cần gần mộ mẹ như người Chàm miễn Trung.
Trang sách 393Huyệt đào sâu hơn đầu người, theo hướng Đông-Tây. Dưới cùng, ở mé Nam có khoél một lỗ đặt vừa tử-thi, - như vậy tử thi nằm ở cạnh huyệt. Khi đặt tử thi vào lỗ khoét đó rồi, một lấm ván được dùng để chận lại ngăn hẳn tử-thi với huyệt.
Đám tong. - Không có quan-tài. Theo tín-ngưỡng tử-thi phải nằm nghiêng minh trèn đất, mặt hướng về phía Nam, đầu phía Tày, chân phía Đông, một ngón chân cái chấm vào đất.
Tử thi không quàn lâu trong nhà, người chết thường được chôn ngày trong ngày.
Trước bết, những người thân lắm rửa sạch sề cho tử thi. Sau đó, người ta bọc tử thi vào 3 lần vải trắng thay cho áo-quan. Vải trắng xé chứ không cất và cũng không may.
Tại nơi cùi trõ và đầu gối có bỏ một lớp bông, lại có rắc bột băng phiến và long-não.
Một số người được mời đến cầu nguyện cho người quá vãng và chứng cho rằng tử thi đã được sửa soạn đúng theo nghi thức.
Tử thi được đặt trên một lấm ván, các thanh-niên khiêng đi. Nếu huyệt ở xa, sẽ dùng cáng có nui che bên trên thay cho lấm ván.
Đảm tang đi không kèn, không trống, thỉnh-thoảng lại ngừng lại đề vong-hồn người chết nhắn nhủ với cỏ cây.
Mộ khúng xây, chỉ đấp đát, dủ tang chủ giàu hay nghèo. Hai đầu mộ có tấm bia đá khắc tên người quá vãng và ngây chết Sau đám láng - Ngay buổi tối hôm đưa đám, mọi người tụtập tại tang-gia để đọc kinh. Suốt lử khi chôn, cho đến ngày thứ 40, gia-chủ thuê một người dọc Thánh Kinh thường xuyên bên mộ, cần nhất lúc mặt trời mọc vả lúc mặc trời lặn.
Có làm tuần cho người chết vào các ngày thứ 3, thứ 7, thứ 10, thứ 30, thứ 40 và thứ 100 sau ngày láng. Và từ đỏ nửa năm cúng một lần.
Trong những ngày tuần, mọi người đọc Thánh-Kinu trước hương trầm nghi-ngút. Kinh đọc xong họ dùng cơm.
Trang sách 394Khi có đồ ngon, vật lạ, người ta cùng cầu kinh cúng người chết, bất kể ngày nào. Những việc cúng kiến này thay ngày giỗ.
Người Chàm Châu Đốc chết ở xã nào chôn ngay ở xã ấy, ít khi di chuyền từ làng này sang làng khác. Mộ chỉ chôn một lần không cải táng.
NGƯỜI BAHNAR Người Bahnar, khi trong làng có người chết, cả làng bỏ đi nơi kbác phố mặc việc lang cho gia-đinh tang chủ.
Người Bahnar dựng đứng người chết, cột vào một góc nhà, đem đồ. lễ, gà, lợn đặt trước xác chết lễ bái và khóc-lóc. Đồng thời có đánh thanh-la, đánh trống, thởi kèn.
Thân nhân tỏ lòng thương-tiếc người chết một cách rất lạ-lùng ; đàn ông lấy lửa đắp vào ngực bay lấy dao bàm vào ngực ; đàn bà đập đầu vào cột có khi đến vũ đầu. Vi lục-lệ kỳ-khôi trên, nhiều khi có người chết theo người chết nếu không có người can.
Đồ lễ sau khi củng vái được ngả ra ăn trước mặt người chết, vừa ăn người sống lại lấy thức ăn lên vào mồm xác chết.
Cuộc lễ được kéo dài tùy theo gia cảnh, một hai ngày hay hơn nữa.
Lễ xong, lử thi được đặt vào áo quan, một thân cây khoét rỗng và đưa đi chôn.
Trước giờ hạ huyệt, thân-nhân làm lễ tạ thở-địa.
Những người chốt vi trận mạc, bị ám-hại hoặc vì bành-hạ, theo tin tưởng của người Bahnar sẽ được lên trời.
Mộ người Bahnar đắp cao và chung quanh có hàng rào.
Người chết được chôn cất xong, người làng mới trở về làm ăn như cũ.
Ngôi mộ được người nhà sào-sóc trong một nam. Sau đỏ họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đấy không còn ai ngỏ tới.
Trang sách 395Lễ tạ mả có thể cử-hành ngay sau khi chôn cất nếu tang-chủ quá nghèo. Chôn cất xong là thôi, người nhà cũng như dân làng không ai nhắc nhở tới người quá cố nữa vì mộ đã tạ rồi.
Lệ đề tang được quy-dịnh một năm trở lên. Người có tang bỏ hết mọi đồ trang-sức, cắt tóc ngắn đề phân biệt với mọi người.
Đàn ông Bahnar có một lối tỏ lòng thương tiếc vợ thực là kỳ lạ.
Ngoài việc lấy lửa đắp vào minh còn tự tay cầm dao rạch vào đù thấu xương. Vợ cả chết rạch bốn nhát, vợ lễ chết, rạch bầy nhát. Có làm như vậy mới lỏ hết sự thương tiếc vợ, và các cô gái mới khâm. phục và mới ưng thuận lấy làm vợ kế sau này.
NGƯỜI DJARAI Cũng như người Sédang, người Diarai tin rằng người chết chưa phải là bết, do đó người chết được dự phần chia đồ đạc với người sống.
Khi có người chất, gia-đình nhờ dân làng kiếm hộ một khúc cây to đem về đục lỗ theo chiều dọc như hình một chiếc mỡ dài. Người chết được đặt nằm vào lỗ trong cây, và khi chôn lật ngửa lên. Chiếc áo-quao không có nắp, như áo quan người Sénang.
Xác chết đặt trong áo-quan, quân tại nhà từ 3 đến 8 ngày tùy theo gia-cảnh. Trong khi quan, có mở trân, giết bò hoặc lợn gà củng lễ và mời dân làng än uống, giàu lễ lớn nghèo lế nhỏ.
Tại những gia-đình khá-giả, lễ cúng kéo dài, xác quản trong nhà đến trương lên rữa ra mới được đem chôn. Đồ đạc được chia gồm phên, la, bát đĩa, nồi niêu cũng được đem đề trên mộ và bị phá hủy đề phòng người khác lấy mất. Đồ đục trong nhà được chía đều cho người chết, nhiều khi vi sịt phân chia này, những dễ dùng còn lại phải hủy bỏ vi không đủ bộ.
Ngôi mộ được sữn-sóc, dọu cỏ trong ba näm liền. Sau đó có lễ bỏ mả, và từ đó mộ bị bỏ hoang, người chết cũng đi vào quên-lãng.
Trong vòng ba năm, nếu trong gia-đình có người nào chết, người
Trang sách 396đỏ sẽ được chôn chung vào áo quan của người chết trước. Có nhiền trường-hợp, một vài tháng sau, trong nhà đã có ngirời mệnh-một, mộ người chết trước được đào lên đề đặt người chết sau vào cùng quan-tài.
Khi đó, xác người chết trước đã rữa thành nước, họ liền múc hết nước đổ ra ngoài, bởi xương để vàn một góc, lấy chỗ liệm người mới chết vào.
Những người phụ trách công việc múc xác lường uống rượu thật say đểề làm việc này cho đũ sợ.
NGƯỜI ROGLAI Người Roglai, nếu là gia-thuộc của chủ làng hoặc những người có thế lực trong làng, khi chết thi-hài được chôn trong một áo quan bằng thân cây khoét rổng. Thường dân, xác chết phải bỏ bằng vỏ cây.
Tang-lễ người Roglai rắt dản-đị.
Người chết được chia gia-sản với người sống, gia-sản chia đôi, người chết một nửa kể cả tiền nong, gia-súc và vật-dụng.
Tiền bạc và gia-súc được giữ ở trong nhà nhưng sẽ chỉ dành vào chi tiêu ngày lễ cúng bỏ mả đương sự Lễ cúng bỏ mả có ý-nghĩa người sống từ giã người chết. Lễ này được cử-hành sau mùa gặt hái đầu tiên tinh lừ ngày người chết qua đời. Mùa gặt hái hoàn-lất, mọi người đều rảnh-rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh-đình lắm. Có giết trâu mỗ bò, mời thây cúng làm lễ cho người khuất rồi đãi làng nước.
Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không được ai săn-sóc nữa.
NGƯỜI RHADÉ Khi có người chết, người nhà gióng thanh-la lên. Nghe tiếng thanh- la, làng nước tới chia buồn và lo việc chôn cất giúp.
Người Rhadé kiêng việc làm sẵn áo-quan. Có người chết, tang- chủ mới nhỏ người lên rừng đẫn cây về đẽo cổ thọ.
Trang sách 397Nhà giàu, người chết được chôn bằng 2 áo quan. Chiếc thứ nhất phải làm gấp để đựng tử-thi trước khi trương rữa, chiếc thứ hai làm cần thận đẹp-đẽ hơn thường phải năm bảy ngày.
Tang lế thường kéo dài, phần đề chở áo-quan, phần vì tục-lệ. Gia- đình giàu có, người chết có khi 15 ngày mới an táng xong, người nghèo cũng phải năm bảy ngày.
Trước khi chôn cất có cúng lễ, giết trâu bò, mời làng nước. Chôn cất xong, dân làng tự-lập chung quanh mộ, khóc lóc, kể lễ đến hai ba ngày mới thôi !
Trong hai ba ngày khóc-lóc, tang chủ phải đãi ăn uống như khi chờ đợi áo-quan và cúng lễ.
Mộ được đắp to như tổ-mỗi và có trang hoàng thô-sơ. Cạnh mộ là những của cải người sống chia phần cho người chết : chum vại, bát đĩa.
Tang ma của bỗ mẹ do người con gái lo, và người con gái này được thừa kế gia-tài.
Tại một vài nơi gắn biên-giới Darlac, người Rhadé có tục quật mờ.
Người chết mới chôn được vài tháng, nếu trong nhà có người ốm đau, họ mời thày cúng xem quẻ, nếu quẻ bói bảo rằng Thần Đát không bằng lòng cho người chết chôn tại đấy, họ sẽ quật mồ lên và quăng xác vào ring.
Người Rhadé cũng có lệ bỏ má vào sau mùa gặt năm sau. Người nhà ra mộ khóc-lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ-niệm của người chết cũng chìm dần vào dĩ-vãng.
NGƯỜI KOHO Khi có người chết, gia-đinh người Koho lo-liệu làm áo-quan ngõ-hầu xúc-tiến việc củng-lễ Được tin, người làng đến giúp-đỡ trong mọi việc, từ đóng áo-quan đến khâm-liệm.
Áo-quan tương-lự như của người Sédang, làm bằng một khúc gỗ khoét giống chiếc mỗ, có nắp. Khi khâm liệm thân-nhân thổi một nồi xôi lớn, dùng đề nhét vào các khe nắp.
Trang sách 398Xác chết người Koho đề trong nhà hai ba ngày.
Tục người Koho, mỗi gia đình chỉ có một mả, tất cả mọi người chết đều chôn chung một hố, người chết sau nằm đè lên ngưrời chết trước.
Mà là một hỗ rộng lớn, trên có làm nhà che.
Dân Koho không có tục chia của. Họ chỉ liệm những đồ dùng của người chết vào quan-tài.
Người Koho cúng giỗ người chết vào một hoặc hai nam sau.
Trong ngày qiỗ, thân quyến mời dân làng và đến thảm mộ lần cuối cùng nếu không có người chết tiếp.
Chồng cũng như vợ, để tang nhau một nẩm. Trong thời gian đó, nểu chồng tục-huyền hoặc vợ tái giá phải sửa lễ xin gia đình người chết.
Khi vợ chết, con cái trao cho cm gái vợ nuôi, nếu vợ không có em gải thì trao cho em trai. Người em gái hoặc em trai này, nuôi các con chị được hưởng hết gia-tài của hai vợ chồng chị làm nên. Người đàn ông phải trở về gia-đình nhà minh với hai bàn lay trắng, - dân Kobo, xin nhắc lại theo chế-độ mẫu-hệ.
NGƯỜI M'NONG Tang lễ của người M'nong giống lang-lễ của người Rhadé, duy cỏ điều khác là cả gia-đình đều chung một mỗ như người Koho.
NGƯỜI STIENG Người Stiêng mỗi khi có người chết, việc đầu tiên là mởi bà con lối xôm lới ăn uống, sau đó mọi người dắt nhau vào rừng đốn gỗ đẽo quan-tài.
Khi xác chết được đặt vào quan tài rồi, tang-quyến lại cùng người làng ăn uống luôn hai ngày nữa, có giết lợn, mỗ gà rất linh-đinh. Rồi đám tang được cử hành đưa người chết tới nơi an-nghỉ cuối cùng. Các nhà giàu, an-táng người chết xong, lại mời người làng ăn uống thêm bữa nữa.