NHỮNG KIỂU MỘ VIỆT-NAMPhần 24 · trang 361–376

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 361NHỮNG KIỂU MỘ VIỆT-NAM Ở trên, mới chỉ nói sơ qua về hình-thể các ngôi mộ từ Bắc vào Nam, với sự thay - đỏi đại-lược. Thực ra, xét kỹ, mộ Việt-Nam có nhiều kiều thay đổi lùy theo địa phương đã đành, nhưng cũng theo cả địa-vị xã-hội của người chết nữa.

Xét về ngôi mộ, ta phải phâu biệt ngòi mộ chính với những phần phụ thuộc gồm chu-vi mộ và lấm bia.

Thường mộ người mới chết, chiều đài 2 thước, chiều ngang nửa thước và chiều cao cũng nửa thước, đất đắp von-vót, nên trên đỉnh mộ thót hơn mặt dưới. Vấy là ngôi mộ hung táng, người niền Trung gọi là nấm dài.

Sau khi giỗ hết, việc cải táng được thực-hiện và lúc đó, xương khô được thu nhặt vào tều sành, do đó người ta còn gọi cải láng là sang tiều.

Khi cải láng. mộ thường đá! lòn, miền Trung gọi là Núm tròn. Nấm tròn chỉ thực tròn lại mấy lỉnh trung-nguyên miền Trung cho đến Khánh-Hòa, còn tại các nơi khác, hình chỉ ngắn hơn nấm dài, không tròn hẳn cũng không dài bẩn.

MỘ ĐẤT. - Những ngôi mộ cải-láng, như trên đã nói, lả những ngôi mộ vinh viễn và thuờng chỉ di chuyển tong mấy trường hợp đã đềrập rới.

Ngôi mộ này gồm núm mộ thường ngang đọc tứ 60 đến 80 phân, nếu là mộ tròn thi đường kính cũng vào khoảng đỏ. Nấm mộ của các quan- chie, nhất là các chức sắc trong làng và của những người giàu có thường đắp cao hơn và to rộng bơn, cơ khi lới 5,6 thước.

Nấm mộ dáng lòng chảo, đắp von vót, trên đỉnh thót hơn đưới, nhưng cũng đôi khi, nhất là tại miền Trung, nấm mộ hinh bánh dày, lức là dỉnh mộ phẳng. Ai đã có dịp đi qua các tỉnh miền Trung hẳn

Trang sách 362phải nhận thấy điểm này. Nhiều khi ở chung quanh nấm mộ có một vòng đất nện, giữ cho đất trên mộ khỏi trôi.

Nhiều gia-đinh quá nghèo, sau khi măn lang, tang chủ không đủ phương-tiện cải láng ngôi mộ, chi đành dấp lại thu gọn ngôi mộ theo hình những ngôi mộ cải-táng.

Chung quanh nắm mộ, ngoài vòng đất vện, trong khoảng chu-vi chừng nửa thước hoặc một thước, có khi có một nền đất, một bức tường đất hoặc một hàng rào le, c. lối vào mộ nơi đàng trước.

Ngay trước mộ, thường vó lắm hìa nhưng cũng nhiều mộ không có bia vi gia chủ thiếu phương tiện xây khác. Trước lối ra vào cửa tưởng đất hoặc rào trẻ, phần nhiền l trẻ gai, đòi khi có một binh-phong, đắp bằng đất hoặc bằng cây nhỏ, nhất là những cây cảnh có hon.

MỘ XÂY Mộ có thể đề nguyện dắp dất, hoặc có khi được xây gạch để giữ cho ngôi mộ được an toàn, không bị sụt vi mưa gió, đây không bị trôi, cây cối không mọc trên mộ, phạm lới xương cố người chết được.

Mộ xây có nhiều kiểu, tròn hoặc đãi tùy theo địa phương từ Bắc vào Nain. Cũng nên nói rằng nhiêu gịa-dinh tuy có đủ phương tiện xây mộ, bọ cũng cứ dể mộ đất, nhưng nấm đất toật cao, 'Tin theo phong-thủy, bọ không đụng chạm tời mặt đất, rà bọ cho rắng để mộ đất hợp với thiên-nhiên hơn.

Mô trứng ngồng. -. Đây là những ngôi mộ xây tron hoặc hình gần như tròn, theo kiều mộ đất, chỉ khác là thay vi đất đấp, đây là gạch xây. Gần đày, nhiều ngôi mộ xây gián tiện hon, mộ vẫn đắp đát và có lớp xi măng đày phủ ngoài để đất khỏi tròi.

Mộ hình trứng ngỗng biến thể thình kiểu mai mai rùa hoặc kiều lá sen, vì được xây giống như chiếc mai rùa hoặc là sen, mai rùa và lá sen tượng trưng cho đạo Phật, những người nằm trong mộ là những Phật. tỉ.

Cũng có khi mộ xây hình gáy ngựa hoặc hình cổ ngựa gọi mã lạp.

Trang sách 363Mô nấm liêp. - Gọi tắt là mê liếp. Mộ này hình khối chữ nhật, xây gạch, chiều dài vào khoảng 2 thước, chiều rộng thước rưỡi và chiều cao độ 20 phân. Mặt mộ xây phẳng, có khi xây nhị cấp hoặc tam cấp.

Thỉnh thoảng cũng có ngôi-mộ xây trên mặt khum-khum. Ở giữa đỉnh mộ, có nơi đề cắm hương trong những dịp người nhà viếng mộ hoặc vào ngày lễ thanh-minh.

Có khi thay vì, nơi cắm bương trên đỉnh tuộ, người ta đặt ngay trước mộ một bình hương.

Nhiều gia-đinh xây hai ngôi mộ song song tại một khu đất, ngôi cụ ông và ngôi cụ bà. Hàng rào ngoài bao bọc cả hai ngôi mộ.

Mộ trúc-cách, long đình. - Những ngôi mộ liếp tại nhiều nơi được xây giống một ngôi nhà trúc, gọi là mộ trúc cách, hoặc giống một chiếc kiệu gọi là mộ long đình. Mộ trúc cách có thể có lầu hoặc không. Mộ có lầu gọi là trúc-cách cổ lâu.

Mộ trúc-cách và long-đinh là kiểu riêng-biệt của các vị quý-phái, các quan triều-thần và những người trong hoàng-lộc. Dân chúng xây lối mộ này có tội phạm-thượng. Gần đây, với cuộc sống mới, ai có tiền muốn xây mộ cho người chết ra sao cũng được, luật-pháp không bắt tội như xưa nữa.

Tháp. - Tháp là mộ của các tu-sĩ Phật-giáo. Các vị hòa-thượng, khi chết được lín-đồ làm lễ hỏa-táng rồi thu tro cốt đặt vào tháp.

Tháp có thế xây có lầu, hoặc không có lầu nhưng phần-nhiều vì lòng sừng kính các vị hòa-thượng, các tín đồ thường xây tháp có lầu.

Xá-lợi, tro cốt của các vị, được đặt vào một tầng lầu trên. Tháp cơ lầu có thể xây tới bảy tầng. Tháp xây theo hình bát giác, nhưng đôi khi cũng có tháp lục-lăng. Những tháp không có lầu gọi là bảo-châu, và những tháp có lầu gọi là bảo-tháp Mồ vô chủ. - Nhiều khi qua một con đường ta thấy một nấm mộ, có khi là nấm tròn, có khi là nấm dài,| đất sụt, cỏ mọc gần như trùm lấp, sạt góc đầu hoặt góc cuối. Đây là một nấm mờ vô chủ, không ai săn sóc. Mồ này, rồi đây, nấm sẽ thấp dần vì đất sẽ bị nước mưa

Trang sách 364cuốn đi cho đến một ngày ngôi mộ biến mắt, mặt đất san phẳng, cỏ cốt vẫn chôn dưới còn, luy xương hoang mọc chè lên. Mộ không đất.

Ngay ở các nghĩa địa cũng nhiều ngôi mồ vô chủ. Những người chết, trước đây, có người chôn, cất nhưng lâu về sau con cháu thân. thuộc không còn ai, mộ lị bỏ hoang.

Dân Việt-Nam giàu lòng bác-ái, đối với người sống cũng như đối với người chết, trong dịp Thanh minh, vẫn có những người cắm một vài nén hương vào một ngôi mộ hoang.

Trông ngôi mộ-hoang ta biết ngay :

Sè sè nấm đất bên đàng, Ràu ràu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanl Lăng. - Mộ các vị để-vưrơng gọi là lăng. Lăng thường khi xây rộng và chiếm cả một khoảng đất lớn. Tại lăng có nhà thờ, nhà chứa các đồ lưu-niệm của vua và nhà các. phi-tần ở đề trông nom mộ phần.

Tại lăng, ngoài inộ vua còn có mộ hoàng hậu, mộ các bà phi, và có khi có cả mộ các bậc sinh thành và anh chị em vua nữa, như lắng vua Gia-Long chẳng hạn.

Chỉ mộ các vị đế vương mới được gọi là lăng, nhưng vì lăng bao giờ cũng đồ-sộ hoặc rộng-rãi to tát, nên trong dân chúng thấy ngôi-mộ nào chiếm một khoảng đất rộng có nồ mả, có đền thờ "đều gọisai là lằng : Lăng Ông đề chỉ mộ đứcjTá-quân Lê-văn-Duyệt, Lăng Cha Ca đề chỉ mộ Cha Cả.

Tâm. _ Chính nghĩa chữ Tầm là nằm nghỉ, nhưng vỉ quen đùng với chữ lăng; chữ rầm biến nghĩa và dùng đề chỉ ngôi mộ của các hoàng- tử, công-chúa, phi-tần.

Tấm không có đền thờ, nhà cửa như lăng.

THÀNH MỘ Ngôi mộ không phải chỉ gồm có nấm mồ trong có xác hoặc hài cốt

Trang sách 365người chết, mà còn gồm cả những gi liên quan tới nấm mở ở chung quanh. Người là gọi ngôi mộ là một ngôi đất chính vì vậy.

Chung quanh mộ có thành mộ, lức là có bức tường xây bao học chu-vi mộ và các công lác phụ thuộc. Những mộ đất, thành mộ là một lũy tre nhỏ, hoặc một hàng tin cây trồng chung quanh, thường là cây có hoa nhir dâm bụt, găng gai v.v...

Các công lác phụ thuộc phải lễ cửa mộ, bình phong che mộ, sân bải đường, eó khi thêm hương án hồ nước và cả miều thở thần nữa.

UYNHI-THANH Sống về mờ vờ mã, không ai sống về cả hút cơm, người Việt Nam đối với người chết củ một sự sản sóc chu đáo về ngôi mộ ; la lin rắng âm phần có yên ôn lốt đẹp, người dương mới lm ăn Mịnh vượng được. Đề che-chở cho ngôi mộ, nhất là những ngôi mô được kồ là phát, con cháu đắp đất vun cho ngôi mộ ngày một to lớn đã đành, nhưng chung quanh ngôi mộ cách xã chừng trên dưới một thước, mộ xây hay mộ đất đều có bức trờng hoặc hàng rào cây bao bọc.

Bức tường này chữ gọi là Uynh thành.

Uynh-thành có thể xây vòng tròn, xây theo hình chữ nhật, bình vuông, lục làng, bát xiác hoặc bình bồ đục. Có thể xây đơn hoặc kếp.

Uynh-thành xây tròn gọi là viên thành, bình bở dục gọi là Uynh-thành yên ngựa, hình vuông và hinh chữ nhật gọi là khuông thành.

Có khi uynh-thình không theo hẳn một kiều nào, đằng trước tròn đẳng sau vuông, hoặc đằng trước sẻn gỏc thình nửa lục lăng đằng sau vuồng. Uynh-thành xây tôy theo ý muốn của thân-nhân người chết và cũng tùy theo sự chỉ dẫn của \các thầy địa-lý.

Uynh-thành xây cao lừ 10 đến 80 phân cho dân giả, từ thớc ruỡi đến thước lám cho các ông Hoàng bà chúa. Trờng uynh thành bề dày tùy theo gia chủ, nhưng thường xây đắp từ 20 phân trở lên.

Cửa mộ. - Dằng trước uynh-thành là cửa nộ. Cửa mộ có nhiều kiếu, có khi đơn giản, có khi xây cất tí-mỉ.

Trang sách 366Cửa lưõng tụ là kiểu giản dị, có hai cột trị bai bên lỗi ra vào ngôi mộ.

Cửa hình khu-ốc, hai bên lối ra vàn, thay vì hai cột trụ, uynh thành uốn xoáy trôn ốc. Của hình khuốc thường xây vào các viên thành, bờ tường chỗ cửa mộ cao hơn lên đôi chút.

Cửa giao-long nhang nhác hình con giao-long.

Cửa uốn trông giống nhi một cỏng làng, hoặc cổng ngõ một nhà giàu.

Cửa miếng khánh trông nhang nhác như chiếc khánh.

Cửa long đình trông nhi chiếc kiện.

Bình-phong. - Mộ có hai loại binh-phong : bình phong tiền và bình- phong hậu.

Bình-phong tiền ở trước cửa nộ đề che giả cho hướng mộ, giống như những chiếc bình phong thường. Bình-phong không trang-hoàng gi, ngoài những đường chỉ kẻ theo mép xây. Tực cho rằng mọi sự trang- hoàng trên bình phong có thể phạm lới ngôi mộ.

Bình phong hậu ở đằng sau mộ, thường đây là uynh-thành xây cao lên, có khi dần dần, có khi đột ngột cao lên ở ngay đúng mé sau mộ. Bình-phong hậu chắn hướng gió chạm tới mạch mộ.

Sân bút-đình- - Đây là khoảng dất nhỏ ở trước mộ. Trong những ngày tuần tiết, giỗ chạp, trong những dịp cúng bái lế lễ, con cháu người chết làm lễ tại nơi đây. Những dịp tặng phong, con cháu cũng tế-lễ tại sân bái đinh sau những cuộc tố lễ tại nhà. Khi ngôi mộ động chạm, con cháu cũng tới đây lễ tạ.

Sân bái đinh rộng hẹp tùy theo địa vị của người chết. Xưa có luật-lệ ấn định rõ kích thước của sân này.

Hương án. — Truớc mộ, có khi có chiếc lương ân xây bệ đất trên có đặt lình lương. Nơi dây dừng đề đặt đô lễ trong những dịp cúng tế. Nhiều khi, ngoài chiếc hương án tiền, phía sau mộ còn có thêm hai bên chiếc hương án nhỏ hơn, giống như chiếc ghẽ dùng trong những dịp cúng lế lớn có nhiều dờ lễ.

Trang sách 367St si nấm dất bán dàng •Mô hung-tang (NAms dait Ráu ráu ngọn só nứa váng nửa ruon NAm hèy xày Nit tròn Trid erite sty etd s Nám tròn «by lam-cil Mó trức main su lâu tg toop dírih e 55 DETETA Bêo thâu Bĩa Thap Các kiều miộ

Trang sách 368Hồ. - Tại các lãng vua chúa, các ngôi mộ các quan triều thần, thường có hồ nước bán nguyệt hoặc chữ nhật.

Miếu thở thần. - Mỗi người chết trước khi chôn đều có cúng Thổ- thần nơi an-táng. Người chết đã chiếm một phần đất thuộc quyền quàn-trị của Thổ-thần. Đề tạ ơn Thổ thần cho .hương-hồn người chết được nương-nhờ cảnh-thổ, tại các lăng thường thêm miếu Thổ thần.

Có nơi gọi miếu này là miếu Bà Hậu-thổ.

BIA MỘ Người sống khi nhỏ tuổi, mỗi người đều có giấy khai-sinh, khi đến tuổi thành niên đầu có thẻ cản-cước, đó là luật lệ ngày nay; xưa kia tuy không có các giấy tờ trên, nhưng mỗi người có mỗi tên riêng, và tên này phần biệt người nọ với người kia.

Chúng ta thử đến một nơi mộ địa. Mả nằm như bát úp, đố làm sao chúng ta phân biệt được ngôi mộ nào của ai nếu ngôi mộ đó không có một tấm bia ghi tên người khoất.

Tấm bia mô rất quan trọng. Đổi với ngôi mộ lấm bia cũng như thẻ căn cước đối với người sống. Đành rằng tại các bãi tha ma, và ngay tại cả các nơi nghĩa địa có tổ chức, phần lớn các ngôi mộ không có bia, nhưng vì những ngôi mộ đó được thân nhân chăm giữ, họ nhỏ rõ đó là mộ của ai, chết ngày nào, năm nào nên tấm bia đối với họ không cần- thiết ; hơn nữa có khi khả năng tài-chính không cho phép họ dựng bia, hoặc vì hoàn-cảnh không thuận-tiện nên bia không dựng được.

Tấm bia dựng ở cuối mộ hoặc đầu mộ tùy theo tục-lệ địa-phương.

Riêng đổi với các bảo-châu và bảo-tháp, bia dựng ở đằng trước.

Bia thường dựng lộ thiên, nhưng đôi khi cũng có nhà bia, nhà bia có thề có gác hoặc không. Gác nhà bia thường chỉ xây đề tăng vẻ trang- trọng, hoặc đôi khi cũng có đặt trong đó bình hương.

Bia của các bậc đế vương, các quan đại thần và của các người đã được phong thần mới có nhà bia, thường dân phải dựng bia lộ-thiên.

Luật-lệ xưa như vậy, ngày nay luật-lệ này không còn được tôn trọng

Trang sách 369nữa, nhất là ở các nơi đô thị, ai có tiền muốn xây mộ tạc bia ra sao tùy ý.

Trước đây bia bằng Hán tự, viết dọc và thường gồm từ một đến ba hàng chữ.

Nếu bia chỉ có một hàng, chữ sẽ viết ở giữa bia theo chiều dọc, thường chỉ gồm tên họ và chức tước người khuất. Ở đây tục kiêng tên đã nói ở đầu lập sách này lại được áp-dụng. Người ta chỉ tạc vào bia tên hiệu cùng với những chữ Quý công, hoặc Phủ quân, hoặc Quý hầu hoặc Tướng công cho đản ông: Nguyễn Quý-công chi mộ ; Nhuận phủ Hà Phủ- quân chỉ mộ V.V...

Nếu người chết còn độc thân, người ta khắc chữ lang thay cho tên : Tương-Đức Hà lang chi mộ.

Đối vởi đàn-bà, tên được khắc thay bằng mấy chữ Quý-nương hoặc, Thuận-co : Đào quý-nương chỉ mộ, Đinh-thuận-cơ chi mộ.

Quê-hương người chết cũng có khi được khắc trên bia : Bắc-Ninh tỉnh Vũ-Giàng huyện, Thị-Cầu xã, Nguyễn-ngọc phủ mộ.

Ở đây chữ phủ thay cho tên cũng như những chữ Quy-công, Phủ. quân v.V...

Ở nhiều bia mộ có ghi cả chức tước : Cố phu Thát y vện Đặng-s7 Lang thụy Mẫn-Trục lự viết Nghĩa phả chi mộ.

Tại tấm bia này, chữ phủ trên thay cả tên lự. Có khi chữ phủ cũng dùng đề thay cả lên biệu nếu người lập bia muốn kiêng tên hiệu của người khuất.

Từ trên chỉ nói tới bia có một bàng chữ. Bia có hai hoặc ba hàng chữ cũng rất thường có.

Nếu có hai hàng chữ thi một hàng nhỏ hơn ở bên tả hoặc bên bữu dòng chính. Nếu có bà hàng chữ, thì hai hàng ở hai bên tá hừu đều nhỏ hơn hàng chính ở giữa, hàng bên hữu cao gần ngang hàng chính, hoặc cũng có khi ngang hàng chính, còn hàng bên tả bao giờ cũng thấp hơn hai hàng kia. Hàng bên bữu ghi ngày sinh, hàng bên tả ghi ngày lử của người khuất, giống như trong bài-vị Cỏ nhiều

Trang sách 370CỬA MO XÁY Me aulle Hình 1 : Lưỡng trụ — Hình 2 : Khu ốc - Hình 3 : Giao-long Hình 4 : Cửa uốn - Hình 5 : Miếng khánh - Hình 6 : Leng-Đinh

Trang sách 371trường-hợp, hàng bên hữu ghi ngày tháng lập bia, còn bàng bên tả gbi tên người tạc bia.

Ngày nay, tại các ngôi mộ người ta cũng dựng bia, nhưng bia được ghi bằng chữ Việt thay cho Hán Lự, và thường chỉ mang tên người khuất, quê-hương, ngày sinh và ngày tử của người này. Đôi khi cũng có ghi chức tước.

Cuộc tiếp-xúc giữa dân-tộc Việt-Nam ta với nền văn-minh Áu-Mỹ đã mang lại nhiều sự đổi-thay trong nếp sống của chúng ta và những sự đổi-thay này đã chi-phối cả những cái gi liên-quan tới người chết.

Tang-lễ ngày nay đã bị giản đị-hóa rất nhiều, bao nhiêu cuộc tế-lễ bị bãi-bỏ, nhiều người bảo-thủ dù muốn cố giữ cũng không được ; tang- chế và tang-phục cũng khác xura, nhiều người đề đại-tang trong những bộ y-phục thiếu hẳn vẻ tang-tóc nó chứng-minh sự đau-đớn thương- nhớ của người sống đối với kẻ qua đời, và thời-gian đề tang nhiều khi người ta cũng tự-động rút ngắn ; nhiều điều cấm-kỵ trong thời-gian đề tang, nhất là đại-tang, không còn được tôn trọng: người ta sống cho người sống, người ta ít bận tâm lới người chết. Nhiều cô gái đã lấy chồng trong lúc còn tang cha, cũng như nhiều chàng trai đã cưới vợ khi đang tang mẹ.

Cả đến mồ-mả ngày nay cũng khác xira. Chiến tranh đã gây hoang- phế nhiều vùng và người ta đã ở chen chúc tại nhiều nơi chật chội khác, như vậy làm sao có được một ngôi mộ với đủ mộ-thành, sân bái- đình, tiền-hậu bình-phong. . Giờ đây cũng ít ai nghĩ tới xây kim-lĩnh, và cũng chẳng còn mấy người tự sắm lấy cho minh cỗ hậu-sự.

Chết thì phải chôn, chôn đã có nghĩa-địa. Tại nơi đây mồ-mả được sắp thành hàng, một tấc đất là một tác vàng, các hiểu chủ cũng không thể mua một khu đất rộng đề tạo cho người khuất một ngôi mộ khang-trang như thời trước. Ngoài ra, với sự chết chóc của chiến-tranh số mồ vô chủ càng nhiều hơn. Luật-lệ về kích-thước, bình-thề của mỗ. mả thời xưa cũng không còp được áp-dụng ! Ai muốn đắp mộ đát, cất mộ xây tùy ý, tùy khả-năng tài-chính ! Mộ to nhỏ cũng không ai bắt. bẻ, ai muốn làm nhà mồ, cửa mộ, nhà bia ra sao cũng được. Và cả

Trang sách 372đến mộ bia cũng không còn như xưa nữa. Chữ Việt đã thay chữ Hán, và hình thức bia cũng đổi thay nhiều. Trên nhiều ngôi mộ, cùng với bía xi-măng đã có thêm cả ảnh người khuất ! Kề cũng tiến-bộ, nhưng nhiều cái của thời xưa cũng đáng tiếc !

Thay vì uynh-thành, binh-phong, ngày nay tại các nghĩa-địa, có đằng những ngôi mộ được xây trang-hoàng như một biệt-thự, trước, đằng sau có chậu cảnh, có núi non-bộ, có vườn hoa nhỏ !

Đấy là nói những ngôi mộ, mỗi ngôi một đất, còn tại các ngôi mộ chung đất, ngôi nọ trồng lên ngôi kia như những căn nhà lầu chúng. cư, cũng có xây cất, nhưng sự xây cất do bản quản lý nghĩa địa phụ- trách và thu tiền của các hiếu-chủ có người chết chôn cùng một mộ !

Tình-trạng chật-chội này, nhất là tại đát thánh Đô-thành khiến cho các hiếu-chủ dù có muốn trang-hoàng cho ngôi mộ của cha ông cũng không sao được.

Có người đã lắc đầu khôi-hài :

- Người sống ở bin đinh, người chết cũng chôn bin-đinh !

LĂNG VUA GIA-LONG vua Nói về các kiếu mộ xây, trên đây có đề cập tới lăng của chúa. Mỗ mả thường, nấm dất hay nấm xây, ai cũng đã có dịp trông qua, nhưng rất nhiều người chưa từng được viếng các lăng tầm của các đế-vương cũng như của các ông hoàng bà chúa. chúa, dưới đây xin Đê tạo một ý-niệm sơ-lược về lăng vua phác sơ qua lăng vua Gia-Long, ngôi lăng đồ-sộ vĩ đại nhất ở Huế, tuy không cầu-kỳ như lăng vua Khải-Định, không đẹp-đễ như các lăng vua Minh-Mệnh, lăng vua Tự-Đức và không thanh-tú như láng vua Thiệu- Trị.

Láng vua Gia-Long bắt đầu xây từ năm 1815, mãi tới tháng 5 năm 1820, nghĩa là sau khi nhà vua chết ba tháng mới hoàn-thành.

Lăng xây giữa một khu như hoang-vu, chân ngọn núi Thiên-Thọ, trông tuy giản-dị nhưng vĩ-đại và như muốn ngự-trị hẳn trên giữa khu

Trang sách 373rừng nủi này. Mọi kiển trúc đều hướng về phương Nam và ăn rộng ra hai bên. Chung-quanh có 35 ngọn núi thông mọc rườm-rà. Trong lăng có tượng đá, có đền thờ và lăng được xây ở giữa một bức uynh-thành rất kiên-cỗ.

Qua tám bản-đờ ta thấy rằng muốn đi tới lăng phải đi theo dòng Sông-Hương tới bến vua Ngự, người ngoại quốc gọi là bến Gia-Long.

Từ đây theo con đường Đế lộ, con đường xưa kia dùng đưa đám vua Gia-Long, du khách sẽ đi tới đền Minh-Thành, thở nhà vua và Chánh phi, sau đó sẽ tới lăng Thiên-Thọ nơi nhà vua và Chánh-phi an nghỉ giấc cuối cùng. Qua Đế-lộ, trước khi đến đền Minh-Thành và lăng Thiên-Thọ, du-khách phải qua dãy nhà của các quan coi lăng, rồi tới lăng Quang-Hưng, lăng một bà"

Thứ-phi của chúa Hiền-Vương. Lăng Quang-Hưng có uynh thành xây cao 2 thước, dài 15 th 70 và rộng 12 th 50, có tiền-hậu binh-phong.

Đền Minh-Thành thờ nhà vua và bà Chánh-phi là Thừa-Thiên-Cao hoàng-bậu. Đền xây trên nủi Bạch, một trong 14 ngọn nủi chầu vào lăng Thiên-Thọ. Đền có hai căn, mái đôi. Tại căn trong, dài 22 th 20, sâu 7 th 60 có treo lấm biền sơn ghi mấy chữ : Cát nhật, Giao-Long thập- tứ (1815). Trong cùng có bài vị nhà vua và Chánh-phi Thừa-Thiên- Cao hoàng-hậu. Tại đền này có lưu-giữ nhiều đồ dùng kỷ niện của nhà vua. Trước đền có một sân bái-đình rộng lát gạch, nơi tế lễ trong đám tang và những ngày ky-nhật.

Du-khách tiếp-tục đi từ đền Minh-Thành, rẽ sang bên trái, qua mấy cồn núi là tới lăng Thiên-Thọ, lăng nhà vua và Thừa-Thiên-Cao hoàng- hậu. Trước mộ có hai hòn giả-sơn ; hai bên cây cỏ xanh tươi, núi cao chập-trùng.

Nhà vua nằm bên mộ trái, và hoàng-hậu Thừa-Thiên-Cao bên phải.

Hai giả-sơn trước mặt to cao bằng nhau, xây đá, có mái che ăn iền với hai ngôi mộ, hai ngồi mộ này tọa-lạc trên ngọn núi gọi là Chánh-Trung sơn. Cách mộ đúng 6 th 40 là uynh-thành kiều ngựa chu-vi 133 thước và cao 3 th 30, phía đằng trước bơi thấp hơn.

Trang sách 374Đằng sau lăng là núi Thiên Thọ, trên nủi thông mọc xanh rì. Có hai cột kính thiên cao 15 thước ở ngay chân núi.

Chung quanh núi Thiên-Thọ có 34 ngọn núi khác đều chầu vào lăng, 14 ngọn bên tả, 14 ngọn bên hữu và 6 ngọn đằng sau.

Chân núi Thiên-Thọ có hai ngọn suối chạy quanh mộ rồi qua trước đền Minh-Thành.

Qua đền Minh. Thành, khi du-khách đi khỏi một hồ nước là đền bà Thánh Mẫu, vị thần-lính cai quản khu rừng núi này mà hàng năm vào ngày 20 tháng giêng âm-lịch có mở bội rất to. Muốn tới đền phải qua một cầu khỉ, có tên là cầu Cây Quạ, còn gọi là cầu non Thùy, ngọn đồi ở dưới chân có dựng đền bà Thánh-Mẫu.

Từ đền Thánh-Mấu, du-khách theo con đường mé bên phải Đế-lộ, sẽ tới lăng Thiên-Thọ-bữu. Đây là nơi an-nghỉ cuối cùng của bà Thứ- phi, vợ thứ hai của nhà vua, mẫu thân vua Minh Mệnh, tức là Thuận- Thiên Cao hoàng-bậu, thất-lộc ngày 2-10-1816, lhọ 81 tuổi. Lăng Thiên.

Thọ-hữu xây trên ngọn Thuận-Sơn, uynh-thành chữ nhật và rộng 82 thước mé bên trong.

Từ lăng Thiên-Thọ-bữu đi trở ra về bên trái vẫn theo bở hồ thì tới đền Gia-Thành, thò Thuận-Thiên-Cao hoàng hậu. Trong đền có rất nhiều quý-vật.

Từ đền Gia-Thành đi về mé lay trải theo bở hồ nước, ta sẽ tới lăng Trường-Phong. Ta có thể tới lăng này bằng con đường đi ngay từ bỏ sông Hương. Đây là lăng của chúa Nguyễn-Phúc Chu được Nguyễn Triều truy tặng Túc-Tôn Hiếu-Ninh Hoàng-Đế và trong sử-sách quen gọi là Ninh Vương. Lăng có uynh-thành, bình-phong, xây trên đồi cao, phái leo 15 bực xây mới tới.

Nếu đi từ đền Gia-Thành đi về mé tay phải trở ra theo một con đường nhỏ là lăng Thoại.Thánh, láng của thân-mẫu vua Gia-Long được truy tặng là Hiếu-Khang hoàng-hậu. Bên phải lăng Thoại-Thánh, cách một quãng xa là đền Thoại-Thánh. Đền này rộng lớn, bề mặt 03 thước, sâu 108 thước và cao 3 th 70. Trước đền có sâo bái-đinh cũng rộng 63

Trang sách 375thước, sâu 16 thước. Về mé tay trái đền Thoại-Thánh là mộ của Ngọc.

Tú công-chúa, chị ruột vua Gia-Long.

Cách đây không xa về mé tay phải là lăng Hoàng-Phi Vĩnh-Mậu vợ chúa Nghĩa-Vương (1687-1691). Bà Vĩnh-Mậu sinh ra Minh-Vương và bà được truy tặng là Hoàng-bậu Hiếu-Nghĩa.

Qua những dòng mô-tả làng Gia-Long, hẳn ta phải thấy rằng đủng như đã nói ở trên, làng là mộ các vị đế vương, chiếm một khu đất rộng, có nhà thờ và ngoài ngôi mộ chính của vị đế vương đương nhân còn có cả mộ hoàng-hậu, mộ các bà phi, mộ cha inẹ và đôi khi mộ anh chị em vị đế vương nữa.

Hiều biết lăng vua Gia-Long, ta cũng có thể có một ý-niệm sơ-lược về các lăng lầm của ta. Ngày nay viết lên những dòng này, tôi rất cầu chúc các bạn một ngày kia sẽ được đích thân đến viếng các lăng tẩm tại Huế.

Trang sách 376VỊ-TRÍ LÁNG VUA CIA LONG 1 - Đế lộ 2.- Đường di 3 - Đường di 4 - Nhà viên quan canh gác lăng S - Để lộ tả, đưa tới đện và lăng 8 - Lăng Quang-Hưng 7 - Ngã ba đường 8 - Đèn Minh-Thành 9- Lăng Thiên-Thọ 10 - Thiên-Thọ Sơn 11 - Nhà bia 12 - Lăng Thiên-Thọ hữu 13 - Đèn Thánh Mâu 14 - Đên Gia Thành 15 - Lăng Trường-Phong 16 — Lăng Hiếu-Khang hoàng hậu 17 — Đền Thoại-Thánh 18 - Lăng Ngọc-Tú công chúa 19 - Lăng Vinh - Mạu hoàng phi 20 - Bén Gia-Long