TUYÊN ĐỨCPhần 16 · trang 226–239

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 226TUYÊN ĐỨC Miễn thông rào thác đổ Tuyên Đức cũng như Quảng Đức là một tỉnh mới của Cao Nguyên thành lập từ năm 1958. Cho tới nay tỉnh Tuyên Đức vẫn chưa có tỉnh ly, và các Cơ sở Hành chánh tỉnh còn được đặt tạm ở Đà Lạt.

Lịch sử Chính ra cũng giống như Quảng Đức, Tuyên Đức không có lịch sử, vì lịch sử của tỉnh này là lịch sử chung của mấy tỉnh miền Cao Nguyên mới được thiết lập trên đất Đồng Nai Thượng.

Tuyên Đức được thành lập do một phần lớn đất của quận Dran cũ, nay là quận Đơn Dương, nguyên thuộc tỉnh Lâm Đồng và một phần đất của Thị xã Đảlạt.

Trong lúc đầu, Thị Trưởng Thành phố Đàlạt kiêm nhiệm chức vụ Tỉnh Trưởng Tuyên Đức. Sau này hồi cuối năm 196I, tỉnh Tuyên Đức có một Ông Tỉnh Trưởng riêng biệt nhưng tỉnh ly vẫn đặt tại Đàlạt.

Ngược dòng thời gian người ta được biết vùng Tuyên Đức đã được những phái đoàn Thouard Cunhau và Cuynot đến nghiên cứu năm 1897, 18g8 và phái đoàn Ernest Outrey đến khảo sát năm 18gg. Sau đó một trung tâm Hành chánh được thiết lập ở giữa vùng Tuyên Đức - Đàlạt vào năm 1897 và một tỉnh được thành lập cạnh Đàlạt 6o cây số về phía Tây Nam vào năm 1899.

Cũng bắt đầu từ thời kỳ đó, đồng bào Kinh mới lên vùng

Trang sách 227này sinh sống làm ăn, rồi thấy khí hậu tốt lành, đồng bào Thượng địa phương hiền hòa, hiếu khách nên ở lại lập nghiệp.

Nhưng người Pháp dần dần ngăn chặn không cho người Kinh lên vùng này. Đến tháng 7 năm 1954, khi Hiệp định Genè- vẹ được ký kết, người Pháp phải rời bỏ vùng Cao Nguyên.

Người Bắc di cư vào lên đây định cư rất đông vào khoảng 12.630 người và thành lập những xã hay ấp rất quan trọng trong tỉnh như : xã Tùng Nghĩa, xã Lạc Lâm, xã Thanh Bình, ấp Phát Chi, số người này chiếm I/6 tồng số dân chúng trong tỉnh.

Vị trí Với một diện tích vào khoảng 4:704 cây số vuông, tỉnh Tuyên Đức nằm về phía nam dãy núi Trường Sơn trên cao độ 1.000m và giáp giới :

- Về phía Đông với tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận - Về phía Nam với tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng - Về phía Tây với tỉnh Quảng Đức - Về phía Bắc với tỉnh Darlac. • Địa thế Là một tỉnh của Cao Nguyên, phần lớn tỉnh Tuyên Đức đều là đồi núi. Có nhiều ngọn núi cao :

Núi Chu-Yan-Sin 2.405 thước Núi Bi-doup 2,267 thước Núi Lang Bian 2.163 thước Núi Yan-Cung-Klang 2.004 thước Núi Dan-Scha 1.956 thước

Trang sách 228I.948 thước Núi Hon-Nga Núi Chu-Yên-Du I.913 thước v.v...

Các núi này đều có cây cối rậm rạp bao phủ thành rừng, phần nhiều là rừng thông.

Về địa chất núi đồi gồm đá diệp thạch (schiste) và sa thạch (grès) biến thể, nhiều chỗ lại được bao phủ lớp đá huyền vũ nay đã mún ra thành đất đỏ. Đất ít đá lại pha thêm cát và một ít đất sét trắng nên rất thích hợp cho việc trồng trọt. Khi đồng bào Kinh lên đây khai khần lập ấp thì vùng này đã trở nên những nơi trồng cây ăn trái và rau hoa rất trù phú.

Sông ngòi Tuyên Đức có nhiều sông suối, những sông suối này phần lớn đều chảy vào sông Đồng Nai, và đều không dùng thông thương được vì không những chảy qua các vùng núi cao mà lại có nhiều đá hoặc cồn cát nằm ở giữa dòng. Về mùa mưa, nước lại chảy thành ghềnh thác rất nguy hiểm.

Mãy con sông chính là : Sông Đa Nhim, sộng Cam Ly, sông Đa Dung và sông Krong Knô.

Sông Đa Nhim, dòng nước chảy mạnh ; phát nguyên từ vùng đồi núi Gia Rích cao 1.923 thước ở ranh giới ba tỉnh :

Khánh Hòa, Ninh Thuận, Tuyên Đức. Chính phủ đã cho xây đập trên giòng sông này ở Đơn Dương và lập nhà máy thủy điện.

Sông này có nhiều thác nổi danh nhất là những thác Liên Khương Gougah và Pongour.

Sông Cam Ly phát nguyên từ núi You Boggey cao 1.734 thước ở Dalat.

Sông Đa Dung phát nguyên từ vùng núi Lang Bian cao 2.163 thước với dòng nước chảy khá mạnh. Trên sông này có xây một

Trang sách 229cái đập ở suối Vàng và một nhà máy thủy điện ở Ankroet cung cấp điện cho Thị xã Đàlạt.

Cá ba dòng sông này chảy vào sông Đồng Nai ở ranh giới hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng.

Sông Krong Kno bắt nguồn từ núi Hòn Gia Lộ cao I.8I2 thước ở ranh giới ba tỉnh Khánh Hòa, Darlac và Tuyên Đức.

Krong Kno có nghĩa là sông Đực, đối với Krong Ana là sông cái.

Hai sông Đực, Cái được thổ dân Rhadé đặt tên và đều chảy qua địa phận tỉnh Darlac. Núi Hòn Gia Lộ và núi Gia Rích đều nằm trong dấy núi Bi Doup thuộc tồng Nhân Lạc, quận Lạc Dương.

Khí hậu Tuyên Đức ở một cao độ hơn Saigon 1.00o thước nhưng thấp hơn Đàlạt 500 thước, do đó khí hậu ở đây có khác khí hậu hai nơi kia, không quá nóng như ở Saigon và cũng không quá lạnh như ở Đàlạt. Thời tiết ở đây mát dịu quanh năm và chịu ảnh hưởng rõ rệt của hai mùa :

- Mùa năng từ tháng Ii đến tháng 4 dương lịch, có gió Đông Bắc, tương đối lạnh không mưa.

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng o dương lịch; có gió Tây Nam, mát và ẩm ướt, mưa nhiều.

Nhiệt độ thấp nhất về mùa lạnh là 6 độ 6 và cao nhất về . mùa nóng là 29 độ.

Về mùa mưa, có năm có mưa đá nhưng cũng rất ít, ba bốn . năm mới có một lần.

Dân cư Dân chúng Tuyên Đức gồm có người Kinh và người

Trang sách 230Thượng. Theo sự kiểm kê năm 1968, tổng số dân chúng toàn tỉnh là 82.395 người gồm 50.863 người Kinh và 31.532 người Thượng và ngoại kiều.

Đồng bào Thượng Tỉnh Tuyên Đức gồm các sắc tộc Koho, Chill, Sré, Mą Churu và Eaglai.

Giao thông Việc giao thông trong tỉnh tuy chưa được mở mang lắm nhưng cũng có đủ đường bộ và đường xe lửa.

Đường bộ Đường bộ có ba quốc lộ : Quốc lộ 20, Quốc lộ II và Quốc lộ 2I.

Quốc lộ 20 nối liền Saigon với Đàlạt, chạy qua tỉnh Tuyên Đức trên một quãng dài 40 cây số. Trên đoạn đường này có đèo Prenn dài 1o cây số ở ngay sát cửa ngõ vào Đàlạt.

Quốc lộ II nối liền Đàlạt với Phan Rang chạy qua Tuyên Đức trên một quãng dài 42 cây số rưỡi và đi qua quận lỵ Đơn Dương.

Trên đoạn đường này có hai đèo : đèo Trạm Hành dài to cây số và đèo ngoạn mục, trước người Pháp gọi là Bellevue dài 30 cây SỐ.

Quốc lộ 21 nối liền Quốc lộ 20 với Quốc lộ II, chạy qua thung lũng Đơn Dương, dài 27 cây số.

Ngoài ba Quốc lộ trên, còn có liên tinh lộ chạy từ ngã ba Liên Khương đến Banmêthuột dài 98 cây số tính đến phà Krong Kno. Lại có đường nối Dankia Banmêthuột với Đàlạt và dài 80 cây số.

Đường xe lửa Đường xe lửa từ Đàlạt đi Tourcham có 53 cây số chạy qua

Trang sách 231tỉnh Tuyên Đức với các ga : Đa Thọ, Cầu Đất, Trạm Hành, Đơn Dương và Eo Gió (Bellevue).

Thủy lộ Mặc dầu Tuyên Đức có 4 con sông, nhưng sự đi lại trên những con sông đó không được vì những lý do đã được trình bày ở mục sông ngòi.

Đường Hàng Không Hiện nay ở Tuyên Đức có một phi trường ở Liên Khương với một đường bay dài 1.480 thước và rộng 40 thước trang bị các dụng cụ tối tân để có thể tiếp nhận được cả các loại phi cơ lớn, ngày cũng như đêm, trời tốt cũng như trời xấu.

Hãng Hàng Không Việt Nam trong mãy năm gần đây có vào khoảng 1.08o chuyến bay hàng năm với số hành khách ước lượng 20.000 người.

Tổ chức hành chánh Tỉnh Tuyên Đức có 3 Quận và một cơ sở Phái viên Hành chánh.

Quận Đức Trọng có 4 tồng (Hai Kinh và hai Thượng) gồm II xã (6 Kinh và 5 Thượng) với 6o ấp (26 Kinh và 34 Thượng).

Quận Đơn Dương có 4 tổng (2 Kinh và 2 Thượng) gồm 9 xã (4 Kinh và 5 Thượng) với 92 ấp (32 Kinh và 6o Thượng).

Quận Lạc Dương có 3 tổng (1 Kinh và 2 Thượng) gồm 8 xã (2 Kinh và 6 Thượng) với 26 ấp (6 Kinh và 20 Thượng).

Cơ sở Phái viên Hành chánh Damrong có 3 xã Thượng trong đó có xã Romène không có dân. Cơ sở này thuộc Quận Lạc Dương.

Tông cộng toàn tỉnh là II tổng, 27 xã và 178 ấp.

Trang sách 232Đứng đầu tỉnh là một vị Tỉnh Trưởng có hai Phó Tỉnh Trưởng Phụ tá về Hành chánh và Thượng vụ.

Ngoài Tỉnh Trưởng còn có một Tiểu Khu Trưởng để lo các vấn đề Quân sự. Để điều hành công việc, Tỉnh Trưởng có Văn phòng và các Ty Sở chuyên môn giúp việc.

Đứng đầu các Quận có các Quận Trưởng. Riêng cơ sở Phái viên Hành chánh Damrong đo một Phái viên Hành chánh đứng đầu trực thuộc Quận Lạc Dương.

Phong tục Các người Thượng tin tưởng ở thần quyền, và thờ các thần linh về sông, núi, rừng, lửa v.v... Hàng năm họ có tổ chức cúng tế thần linh, giết trâu, bò, lợn, gà và uống rượu cần.

Các đồng bào người Kinh đa số theo đạo Phật và đạo Gia Tô, nhưng cũng có người theo đạo Tin Lành và đạo Cao Đài.

Theo bản thống kê cuối cùng của hàng tỉnh, số người Kinh theo các tôn giáo như sau :

Đạo Phật 60% Đạo Gia Tô 32% Đạo Tin Lành 5% Đạo Cao Đài 1% Các đạo khác 2% Phong tục và tập quán của người Thượng rất phức tạp, trong đời sống còn mang nặng nhiều điểm chưa mấy tiến bộ, Họ sống giữa rừng núi, thiếu đường giao thông để tiếp xúc với xã hội bên ngoài. Về mỗi sắc dân, chúng tôi đã trình bày ở phần thứ hai với đủ phong tục và tập quán.

Trang sách 233Nói riêng về tỉnh Tuyên Đức người Churu tiến bộ hờn cả.

Họ ở gần miền duyên hải, chịu ảnh hưởng của văn minh Cham và đã sớm tiếp xúc với người Kinh. Người Chill người Mạa và người Srê so với các sắc tộc khác cũng đáng gọi là tiến bộ.

Ngày nay, với sự giao tiếp giữa Kinh và Thượng, các đồng bào Thượng đã chịu ảnh hưởng phần nào nếp sống của người Kinh. Nhiều đồng bào Thượng đã dùng y phục theo người Kinh.

Có điểm đáng quý ở các đồng bào này là họ rất hiếu khách.

Mỗi khi có khách lạ tới nhà, họ tiếp đãi rất ân cần niềm nở.

Họ thường mời khách uống rượu cần và dành cho khách nghỉ ngơi ở những gian nhà sàn rộng rãi, sạch sẽ.

Kinh tế Nền kinh tế Tuyên Đức so vởi các tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng có vẻ phát đạt hơn, nhờ các hoạt động canh nông và kỹ nghệ của tỉnh.

Canh nông Nông sản chính của Tuyên Đức là lúa nhưng sự sản xuất trong tỉnh cũng không dễ dàng. Dân chúng trong tỉnh trồng ba thứ lúa khác nhau, trên một diện tích trung bình 1.550 mẫu Tây. Ba giống lúa là :

- Lúa sạ, canh tác từ tháng 5 tới tháng 12 dương lịch, năng xuất trung bình 500 kilô một mẫu tây, toàn tỉnh trồng 90 mẫu loại lúa này với các giống Koiton, Koine và Koimibar.

- Lúa cấy, canh tác từ tháng 5 đến tháng 12 dương lịch, năng xuất trung bình từ 2.000 đến 2.500 kilô một mẫu tây ; toàn tỉnh trồng 320 mẫu với các giống lúa hạt nhỏ, hạt to và lúa thơm.

Trang sách 234- Lúa rầy, canh tác từ tháng 4 tới tháng 12 dương lịch, năng xuất trung bình 1.500 kilô một mẫu tây ; toàn tỉnh trồng 320 mẫu với giống lúa lốc.

Để giúp đỡ dân chúng có nước cày cấy, tỉnh Tuyên Đức hiện có 3 đập nước ở Quận Đơn Dương: đập Karango, Prongó và M'rang.

Một đập thứ tư được dự định kiến tạo ở ấp Đường Mớp, xã Lạc Nghiệp, quận Đơn Dương.

Ngoài lúa ra, Tuyên Đức còn có các họa màu phụ : 30.000 tấn Rau cải sản xuất hàng năm 13,500 tăn Khoai lang sản xuất hàng năm 3.150 tấn Khoai tây sản xuất hàng năm I 200 tấn.

Hành tây sản xuất hằng năm Lại còn ngô sắn, lạc, tỏi và các cây ăn trái : chuối, đu đủ, mạn, xoài.

Về các cây kỹ nghệ có trà, số sản xuất hàng năm là 350 tấn với một diện tích 620 mẫu tây.

Tuyên Đức cũng sản xuất cả cà phê với một diện tích 650 mẫu tây, hàng năm được 135 tấn.

Lâm sản Ngoài những cây được trồng trọt, với rừng núi bao la, tỉnh đã sản xuất hàng năm một số gỗ và lâm sản đáng kê gồm : Huỳnh đàn, trắc bách, diệp, cầm lai, ngô tùng, sao, bạch tùng, thông tre, nhựa thông, bột nhang...

Mục súc Việc chăn nuôi tại Tuyên Đức rất phát triên. Theo thống kê năm 1963, tại khắp tỉnh dân chúng nuôi :

Trang sách 2354.000 con trâu dùng trong. việc cày bừa và kéo gỗ. 5.100 con bò 10.000 con lợn 5o0 con ngựa.

Ngoài ra, có nơi nuôi cả dê cừu. Gà vịt cũng được dân chúng trong tỉnh nuôi nhiều.

Ngư nghiệp Tuy là một tỉnh ở vùng núi, nhưng ở Tuyên Đức hàng năm các sông hồ cũng cung cấp được từ 60o đến 800 tấn cá.

Cá có nhiều ở hồ lớn, hồ đập Suối Vàng rộng lối 120 mẫu tây thuộc quận Lạc Dương và hồ Đa Nhim rộng lối 1.00o mẫu tây thuộc quận Đơn Dương.

Trong mấy năm gần đây, dân chúng có nuôi nhiều loại cá : cá chép, cá phi, cá giếc, cá trôi, cá hạc ngư...

Khoáng sản Cho tới ngày nay chưa có mỏ kim loại nào được tìm ra ở địa hạt tỉnh, nhưng trong tỉnh có nhiều hầm đất sét trắng, đá xanh và cát sạn rất hữu ích trong việc xây cất nhà cửa, đường sá, cầu Thương mại . Tuyên Đức bán ra rau cỏ, lâm, sản và mua vào những phầm vật chế hóa.

Hiện thời trong tỉnh có hai ngôi chợ lớn.

Chợ Đơn Dương tại xã Lạc Nghiệp, quận Đơn Dương Chợ Tùng Nghĩa tại xã Tùng Nghĩa, quận Đức Trọng.

Trang sách 236Kỹ nghệ Tại Tuyên Đức hiện nay có các trung tâm kỹ nghệ sau đây đáng kể :

- Công ty trà Cầu Đất, xã Xuân Trường quận Đơn Dương chế hóa trà, - Công ty lò gốm Vĩnh Tường, xã Hiệp Thạnh quận Đức Trọng, hàng năm sản xuất gần 4.000.000 bát đĩa và đồ sành đỏ sứ.

- Công ty cà phê Bắc Hội, xã Thạnh Mỹ, quận Đơn Dương, chế hóa cà phê.

- Công ty Trường Thanh nông nghiệp, quận Đức Trọng.

- Nhà máy thuy điện Đa Nhim.

Ngoài những cơ sở lớn trên, trong tỉnh có mấy hãng cưa, lò làm bánh mì, xưởng sửa chữa xe hơi v.v...

Cũng phải kể tới các tiểu công nghệ như dệt vải, đan các đồ dùng bằng tre của đồng bào Thượng.

Xã hội Cũng như đối với các tỉnh khác ở Cao Nguyên vấn đề xã hội ở Tuyên Đức luôn luôn được lưu ý tới, về mặt giáo dục cũng như về mặt y tế.

Giáo dục Hiện ở Tuyên Đức việc giáo dục đang trên đường mở mang.

Về bậc Trung học, tỉnh có hai trường công lập ở Đức Trọng và Đơn Dương. Ngoài hai trường trên các tư nhân có mở thêm năm trường tư thục, hai ở quận Đức Trọng và ba ở quận Đơn Dương.

Trang sách 237Về bậc Tiều học, tỉnh có tất cả Ii trường Tiểu học và 12 trường sơ cấp công lập. Bên cạnh các trường này còn có 8 trường Tiểu học và 12 trường sơ cấp tư thục.

Ngoài các trường trên, tỉnh còn có o lớp bình dân giáo dục tại 3 quận, lại còn những trường ở các ấp Đời mới tổng cộng 54 trường.

Y tố Tuyên Đức hiện có 4 bệnh xá và bốn nhà hộ sinh có đủ nhân viên gồm cán sự y tế, nữ hộ sinh quốc gia, tá viên điều dưỡng, y tá v.v... phụ trách.

Các tố chức xã hội khác Về mặt xã hội phải kể cả các nơi tập trung đồng bào Thượng lánh nạn chiến tranh. Hiện có nhiều ấp được thành lập để các đồng bào này gây dựng lại cơ nghiệp : Đamé, Đơng Tiêng Liên, Phi-Liêng, Suối Thông, Hang Roi v.v...

Ngoài ra dân chúng lại tổ chức hợp tác xã và các hiệp_ hội nông dân để giúp đỡ lẫn nhau.

Thắng cảnh, cổ tích và du lịch Tuyên Đức không có những di tích lịch sử ngoại trừ ba ngôi đền cổ : Kreyo, Sopmatronghay và Msré ở xã Loan quận Đơn Dương do người Chàm xây cất trước đây ở một nơi rừng núi âm u, lối vào rất hiểm trở.

Không có những nơi cổ tích, nhưng thắng cảnh lại rất nhiều để dụ khách có thể đi thăm :

Đèo Ngoạn mục (Bellevue) Dài 20 cây số trên quốc lộ II, nằm trên dãy núi ngăn

Trang sách 238cách Phan Rang với Tuyên Đức. Phong cảnh Đèo rất đẹp.

Đứng trên Đèo có thể nhìn thấy cả bãi bề miền Duyên hai Trung Phần.

Hồ và dập Đa nhim Thuộc quận Đơn Dương, cách thị xã Đàlạt 36 cây số. Đập Đa Nhim là một công trình thủy điện đại quy mô, mỗi năm có thể cung cấp 840 triệu KVA điện lực.

Đập Suối vàng Cách Đàlạt 18 cây số, đập xây bằng đá theo vòng cung rất đẹp lại có hồ chứa nước.

Thác Datania Cách Đàlạt 3 cây số trên quốc lộ 20, ngay khoảng Đèo Prenn.

Thác Prenn và vườn thú Cách Đàlạt to cây số nằm sát bên quốc lộ số 20.

Thắug cảnh Bồng Lai Cách Đàlạt 27 cây số, cạnh quốc lộ 20 và cách Phi trường Liên Khương độ I cây số.

Thác Liên Khương Gần Phi Trường Liên Khương, cách Đàlạt 29 cây số trên đường Đàlạt đi Saigon.

Thác Gougah Cách Thị xã Đàlạt 37 cây số trên đường Đàlạt đi Saigon Thác Pongour Cách Đàlạt 50 cây số trên đường Đàlạt đi Saigon, ở khoảng cây số 250, rẽ vào một đường đất ước độ 7 cây số thì tới nơi.

Trang sách 239Tất cả những thác nói trên đều có một vẻ rất hùng vĩ, và phong cảnh lại nên thơ, khiến du khách ai đã qua thăm sẽ ghi nhớ mãi mẫi.

Tỉnh Tuyên Đức là một tỉnh có nhiều hứa hẹn tương lai, nơi hấp dẫn rất nhiều du khách vì khí hậu mát mẻ, dễ thích hợp hơn Đàlạt, lại có nhiều thắng cảnh danh tiếng thuận tiện cho những cuộc đi chơi cắm trại và có nhiều con thịt để săn bắn đặc biệt như hồ, min...

Thêm vào đó lại có hồ Đa Nhim rộng 10o mẫu để có thể nuôi cá và tiếp tế nước ngọt cho toàn vùng.

Đất đai lại rất thuận lợi cho việc trồng trọi đặc biệt nhất là những rau hoa trước kia phải nhập cảng như khoai tây, hành tây, tỏi tây, glaieul, tulipe v.v...

Núi rừng Tuyên Đức lại còn có loại thông 2 lá để làm cô-lô- phan, dầu nhựa thông và loại thông ba lá dùng làm bột giấy.