QUẢNG ĐỨCPhần 15 · trang 216–225
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 216QUẢNG ĐỨC Cũng như Lâm Đồng, Quảng Đức là một tính mới của Cao Nguyên, mới được thành lập từ năm 1959 do sắc lệnh ngày 23.
I.1959 và gồm những phần đất nguyên trước thuộc các tỉnh Lâm Đồng, Darlac và Phước Long chia ra như sau :
Quận Daksong nguyên thuộc tỉnh Darlac, Xã Bích Khê nguyên thuộc tỉnh Lâm Đồng, Xã Bu Prang Sơ và xã Bu diên Wir nguyên thuộc tỉnh Phước Long.
Lịch sử Vùng Quảng Đức xưa kia là vùng chuyển quân của Chân Lạp đi đánh Chiêm Thành và Chiêm Thành đánh lại Chân Lạp.
Năm 1g1o, Ông H. Maitre mở một cuộc khảo sát lên miền tấy nam Cao Nguyên, khám phá ra Cao Nguyên Trung Ương mà Trung Tâm là vùng Ba Biên Giới 30 cây số về phía tây nam.
Năm 1932 Đại Úy Mallard khởi hành từ đồn Bandon ở Ban- mêthuột đi khảo sát về phía nam dọc theo sông Dah Dăm. Khi tới vùng Dakmil (Đức Lập ngày nay) thấy nơi đây đất tốt cày cấy được, Đại Uy Malladr xin thành lập một đồn ở đây để nghiên cứu vùng này và để kiểm soát dân chúng. Đồn này phụ trách, luôn cả việc Hành chánh và viên sĩ quan nói trên được cử làm Đại Úy Hành chánh.
Song song với việc thiết lập cơ sở này người Pháp cho thực hiện con đường nối liền Bandon với Dakmil dài 55 cây số lấy tên là liên tỉnh lộ số 6,
Trang sách 217Năm 1934 Đại Uy Hillard thay thế Đại Uy Mallard tiếp tục đi khảo sát về phía Nam đến vùng Buôn Bu Bulong đóng đồn tại đây đặt tên là Poste Maitre và đời cơ quan Hành chánh ở Dakmil xuống.
Năm 1941 cơ sở Hành chánh lại được dời về chỗ cũ cho tiện việc giao thông và liên lạc.
Năm 1945 đồr Dakmil bị quân đội Nhật tàn phá và chiếm đóng nhưng đến năm 1946 quân đội Pháp lại tái chiếm được vùng này và đóng đồn tại Ba Biên Giới thay thế đồn Dakmil.
Năm 1950 Pháp lại tái lập Đại Lý Hành chánh và đồn Ba Biên Giới được dời về Daksong.
Đến năm 1952, Đại Lý Hành chánh Daksong được đổi ra thành quận thuộc tỉnh Darlac và Ông Pierre Rambert được cử làm Quận Trưởng đầu tiên.
Sau hiệp định Genève 1954, người Pháp phải triệt thoái khỏi Cao Nguyên và Việt Nam nên quận Daksong được giao cho người Việt Nam đảm nhiệm : Quận trưởng đầu tiên là một người Thượng là Trung Uy Y Dhony.
Và đến năm 1959 quận Daksong được tách rời khỏi tỉnh Darlac và trở thành nòng cốt của tỉnh Quảng Đức, tỉnh ly lấy tên là Gia Nghĩa đặt tại 50 cây số phí Nam Daksong.
Vị trí Quảng Đức nằm giữa các vĩ tuyếm 13 độ 4 và giữa các kinh tuyến Đông Ba Lê 107 độ 13 và 108 độ 1o.
Với một diện tích 5.997 cây số vuông, Quảng Đức giáp giới :
Phía Đông với tỉnh Tuyên Đức
Trang sách 218Phía Tây với nước Cam Bốt Phía Nam với tỉnh Lâm Đông , Phía Bắc với tỉnh Darlac.
Địa thế Địa thế toàn tỉnh núi đồi liên tiếp theo chiều hướng từ Tây sang Đông Nam và cao từ 470 thước tới 840 thước. Tỉnh ly Gia Nghĩa ở cao độ 6ro thước.
Hai dãy núi cao nằm ở phía Đông :
- Dãy Nam Nung trên địa phận quận Đức Lập cao tới trên 1.500 thước với các ngọn núi cao hơn cả sau đây :
Núi Nam Nung 1.505 thước.
Núi Nam Jerbri 1.544 thước. 1.158 thước.
Núi Lonlo - Dãy Tchirke, cao nhất tỉnh nằm dọc theo sông Đồng Nai về phía Đông Nam, có các ngọn núi :
Núi Tadoung 1.971 thước.
Núi Tchirke I.638 thước. 1.473 thước.
Núi Tadra Núi đồi toàn tỉnh đều là đất đỏ, có rừng rậm rạp, ngoại trừ vài nơi có đá ong trồi lên trên mặt đất như vùng Ba Biên Giới, xã Nghi Xuân. Ở những nơi này chỉ có cỏ tranh hoặc đồi trọc.
Ở bến phà Kinh Đức, quận Khiêm Đức, dọc theo sông những đồi núi đất đỏ có nổi Đồng Nai, có nhiều thông, và giữa lên những mỏm núi diệp thạch (schiste).
Theo địa chất, tỉnh Quảng Đức có thể chia thành ba khu vực :
Trang sách 219- Khu Đức Lập, Đức Xuyên địa thế tr: ơng đối bằng phẳng nhiều chỗ đất thịt sình lày.
- Khu Kiến Đức, nhiều đồi trọc đi sỏi đỏ cằn cỗi, khó trồng trọt.
- Khu Khiêm Đức, nhiều đá vôi, nhiều đèo, đáng kể hơn là Đèo 7 cây, dài 7 cây số. Khu này có nhiều suối rất tốt cho việc trồng tỉa.
Sông ngòi Quảng Đức có hai con sông chính :
Sông Krong Kno ở phía Đông phân ranh giới với tỉnh Dar- lac. Về mùa khô, sông này có thể lưu thông được bằng thuyền nhỏ, nhưng về mùa mưa, sông có nhiều thác, việc lựu thông rất nguy hiềm.
Sông Đa Dung ở phía Nam phân ranh giới với Lâm Đồng, cũng có những đặc tính như sông trên.
Ngoài hai con sông ra, Quảng Đức có nhiều dòng suối hẹp và ngắn.
Trong khu vực Đức Xuyên và Quận Đức Lập, ngoài các • khe suối còn có nhiều hồ rộng như hồ Esno, hồ Ekrong Đạt.
Những hồ này có rất nhiều cá và khả dĩ thành một mối lợi của địa phương nếu được khai thác đúng mức.
Khí hậu Là một tỉnh vùng Cao Nguyên ở cao độ trung bình 700 thước, Quảng Đức có một khí hậu quanh năm mát mẻ và tốt lành. Nhiệt độ trung bình là 20 độ nhưng về tháng I và 2 thời tiết lạnh hơn và xuống tới 15 độ. Ầm độ trung bình là 75 độ và cao nhất là 8g độ trong tháng 8.
Trang sách 220Do ảnh hưởng của gió mùa, nên ở Quảng Đức có hai mùa rõ rệt :
I) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, nhưng trời nhiều mây và mưa nhiều về tháng 7, 8, g. 2) Mùa nắng từ tháng II đến tháng 4 nhưng trời nhiều sương mù về buổi sáng.
Dẫn cư Dân chúng gồm một số người Kinh và người Thượng.
Người Kinh ở tỉnh ly, và các địa điểm dinh điền, tổng số lên tới 13.872, đa số được di cư từ miền Trung tới.
Về đồng bào Thượng, tổng số toàn tỉnh, theo cuộc kiểm tra dân số thực hiện năm 1967, lên tới 19.204 người gồm : : 13.553 người M'nong : 4.581 người Maa : 1.070 người Rhadé - Đồng bào M'nong ở về phía Tây và phía Bắc tỉnh trong các quận Đức Lập, Kiến Đức và một phần quận Khiêm Đức.
Tùy theo thổ ngữ sai biệt ít nhiều và sự pha trộn với các sắc dân khác người ta phân biệt :
M'nong Nong ở Kiến Đức, Khiêm Đức M'nong Bong ở Tuy Đức, Poste-Maitre, Ba Biên Giới M'nong Preh ở Đức Lập M'nong Burung ở Dakmil.
- Đồng bào Maa ở về phía Đông tỉnh, trong các xã Bích Sơn, Bích Khê giáp với tỉnh Lâm Đồng.
Trang sách 221- Đồng bào Rhadé ở về phía Bắc tỉnh trong vùng Đức Xuyên.
Giao thông Quảng Đức có các đường giao thông sau đây nối liền Gia Nghĩa với các tỉnh khác, và với các thị trấn nội tỉnh.
Quốc lộ 14 nối liền Saigon Banmêthuột và dọc theo ranh giới tỉnh Quảng Đức trên i một khoảng dài 130 cây số. Đây là trục giao thông chính của hàng tỉnh.
Đường liên tỉnh 18 kép nối liền quận ly Di Linh tỉnh Lâm Đồng với Quốc lộ 14, chạy qua thị xã Gia Nghĩa, dài roi cây số.
Đường nội tỉnh từ Gia Nghĩa đi Kiến Đức nối liền Quốc lộ 14 tại ngay quận ly Kiến Đức với đường liên tỉnh 18 kép nói trên tại Thị xã Gia Nghĩa, dài 23 cây số.
Đường nội tỉnh từ Gia Nghĩa đi Đức Xuyên, dài 60 cây số.
Ngoài mấy đường chính yếu trên, trong tỉnh có một số các đường lộ nhỏ không quan trọng mấy, phần lớn những đường này mới được mở trong khuôn khổ nối liền các xã ấp.
Trên đây là các đường bộ. Đường thủy của tỉnh này có thể kể hai con sông chính, tuy sự lưu thông trên những con sông này, như đã trình bày ở mục sông ngòi rất nguy hiêm.
Nói đến sự liên lạc với bên ngoài, tưởng cũng nên nói • tới hai phi trường quân sự của tỉnh :
- Phi trường Nhơn Cơ, ở cách Kiến Đức 8 cây số về mé bên trái đường Kiến Đức - Gia Nghĩa.
- Phi trường Gia Nghĩa trong khu vực tỉnh ly,
Trang sách 222Tổ chức hành chánh Quảng Đức có 3 quận và một Cơ sở Hành chánh thiết lập tại Đức Xuyên.
Quận Kiến Đức có 5 xã Quận Khiêm Đức có 5 xã Quận Đức Lập có 5 xã Cơ sở Hành chánh Đức Xuyên có 3 xã.
Tông cộng tất cả 18 xã. Mỗi xã lại phân chia thành nhiêu ấp. Tông cộng số ấp toàn tỉnh ngày nay là 88 ấp. Các ấp này đều là những ấp đời mới được chính quyền lưu ý trên phương diện xây dựng nông thôn.
Đứng đầu tỉnh là một vị Tỉnh Trưởng có các Phụ Tá về Hành chánh, và Thượng vụ Lại có các Ty Sở chuyên môn đám trách các công việc hàng tỉnh.
Phong tục Mỗi sắc dân đồng bào Thượng đều có phong tục riêng (xin xem phần thứ hai về các sắc dân).
Về tôn giáo, một số lớn đồng bào người Kinh theo đạo Gia Tô. Hiện nay trong toàn tỉnh có 7 nhà thờ, số giáo dân cả Kinh lẫn Thượng tổng cộng trên 6.500 người.
Phật giáo cũng có khá đông tín đồ. Trong tỉnh có tất cả 6 ngôi chùa và số phật tử cả Kinh lẫn Thượng lên tới gần 4.000 người.
Đạo Tin Lành cũng có cơ sở tại tỉnh Quảng Đức : 7 nhà thờ với gần 500 tín đồ.
Các đạo Cao Đài và Hòa Hảo cho tới nay chưa phổ cập tới tỉnh này.
Trang sách 223Kinh tố Nền kinh tế hàng tỉnh chỉ trông cậy nhiều về nghề nông và các lâm sản.
Canh nông Người Thượng đốt rẫy cấy lúa rừng và người Kinh thường trồng các hoa màu phụ. Kể từ năm 1g6o, có nhiều cây kỹ nghệ được trồng tại các khu trong tỉnh, như cao su, keenaf, gai, sơn Trong rừng có nhiều gỗ tốt như giáng hương, gõ, bằng lăng, sao...
Đồn điền Quảng Đức có mấy đồn điền chính :
Société d' Exploitation Agricole Darlac trông được trên 200 mẫu tây cà phê, 10o mẫu tây trà và 300 mẫu tây trầu.
Sở Trà Bu-Prang trồng trên 6o mẫu Tây canh-ki-na và 20 mẫu Tây trà.
Đồn điền Charpentier trồng trên 30 mẫu Tây cà phê:
Ngoài ba đồn điền trên còn vài đồn điền nhỏ của người Việt • Nam trồng tất cả vào khoảng 20 mẫu Tây cà phê.
Khoáng sản Cho tới ngày nay, trong tỉnh chưa thấy có mỏ kim loại nào.
Chỉ có những hầm đá đỏ, đá xanh, đất sét.
Tại một vài nơi có cát tốt dùng trong công việc xây cất.
Mục súc Tuy Quảng Đức có nhiều đồi cỏ, nhưng sự chăn nuôi không có gì đáng kể. Các đồng bào Thượng họ chỉ nuôi một số ít trâu
Trang sách 224bò, còn người Kinh, mới di cư tới chưa kịp để ý tới việc chăn . nuôi, ngoài một số ít gia đình mỗi nhà nuôi một đàn gà vịt dăm bảy con.
Tại các khe, hồ, suối tuy có cá, nhưng không đủ để có một nền ngư nghiệp thịnh vượng.
Trong rừng có dã thú như hươu nai, chồn thỏ và đôi khi có cá cọp.
Kỳ nghệ Không có gì đáng kể, ngoài các tiểu công nghệ của người Kinh cũng như người Thượng.
Thương mại Không mấy quan trọng. Tỉnh bán ra cà phê, mua vào các vật liệu chế hóa và thóc gạo.
Xã hội Vì là một tỉnh mới nên vấn đề xã hội được các giới có trách nhiệm đặt nặng và cố mở mang tuy dân số ít.
Giáo dục Hiện nay ở tỉnh có một trường Trung học công lập ở ngay thị xã Gia Nghĩa, có các lớp từ đệ thất tới đệ tứ. Tông số nam nữ học sinh vào khoảng 150 em.
Về bậc Tiểu học tại toàn tỉnh có 22 trường công lập tổng số 2.265 học sinh và 2 trường tư thục với hơn 400 học sinh.
Y tế Tại thị xã Gia Nghĩa có Ty Y Tế. Một bệnh xá đã được tổ chức. Tại các Quận đều có phòng phát thuốc với y tá trông nom.
Trang sách 225Thắng cảnh, cổ tích và du lịch Quảng Đức không có di tích cô tích nào đáng kế, ngoài cột trụ Ba Biên Giới do người Pháp dựng lên bên cạnh Quốc lộ 14 nơi cây số 251 + 800, đánh dấu nơi giao điểm của ranh giởi ba xứ lúc bấy giờ là Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Mên.
Cột được xây bằng sành, cao độ 3 thước và phía ngọn có chia ra bạ nhánh chỉ ba hướng của ba xứ. Dưới chân cột có chạm trổ hình tử linh.
Về thắng cảnh thì có nhiều, nhưng những cảnh đẹp lại nằm trong vùng hẻo lánh di chuyển khó khăn. Tuy nhiên có hai nơi du khách có thế viếng thăm dễ dàng là :
- Thác Nghi Xuân nằm phía tay mặt con đường Gia Nghĩa, Đạo Thông ở cây số 42. Thác này gồm 2 tằng cao hơn 10o thước, nước chảy mạnh quanh năm trông rất hùng vĩ và ngoạn mục.
- Hồ Esno thuộc vùng Cơ sở Hành chánh Đức Xuyền. Gần đó có nhiều mai vàng rất đẹp.
Du khách tới thăm tỉnh Quảng Đức sẽ đi theo những trục lộ xuyên rừng và thường gặp mang, nai, heo rừng chạy băng qua hoặc từng đàn khi, vượn líu lo trên cành hai bên đường.