NGƯỜI SÉDANGPhần 3 · trang 6–27

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Thiếu bản chữ của 1 trang trong phần này (27). Xin đọc các trang ấy ở bản chụp.

Trang sách 6NGƯỜI SÉDANG (Sơ-đàng) I. Giới thiệu I. Địa vực cư trú và dân Số Miền cực bắc Kontum là nơi sinh sống của những đồng bào sơn cước trong sắc tộc Diế và hai sắc tộc nhỏ là String Duan.

Càng xuống phía Nam đồi núi thấp dần, lối giao thông tương đối ít hiểm nghèo, trắc trở hơn, do đó lõi sinh hoạt của các sắc tộc Thượng nơi đây cũng biến dạng ít nhiều tùy theo địa vực sinh sống.

Sống bên cạnh người Diế là đồng bào thuộc các sắc tộc Sédang. Người Sédang thường sống ở thung lũng các ngọn núi cao, ít cheo leo hiểm trở hơn các làng người Diế. Họ qui tụ nhiều nhất ở quận Dakto, Toumorong, một phần phía nam quận Daksut đến phía tây bắc quận Hậu Đức (Trà My) ở Quảng Tín. Theo tài liệu năm 1967 thì hiện nay sắc tộc Sédang chính cống có 26.120 người.

Sédang là tên do người Bahnar dùng để gọi các đồng bào Sédang và ngày nay đã trở nên thông dụng.

Tên chính của sắc tộc này là Handea, nhưng ở phía đông Kontum họ gọi trạnh là He Đang (Hơ-đàng).

Ngoài ra, người Sédang nào ở khu vực rừng rậm được gọi là người Kmrang (Kờ-mờ-ràng) như ở vùng phía nam Quần Sơn, Ngọc Linh vùng ở giữa sông Poko và Psi. Người Sédang ở vùng rừng thưa phía đông nam quận Dakto và đông bắc quận Kontum được gọi là người Tôdrah (Tơ-đờ-ra).

Trang sách 7Ngoài sắc tộc Sédang thuần túy, trong miền này chúng ta còn thấy có vài sắc tộc nhỏ khác pha giống với người Sédang sống rải rác ở các nơi. Các sắc dân này tuy tiếng nói có nhiều khác biệt nhưng xét về huyết hệ, phong tục và căn bản ngôn ngữ thì họ cũng thuộc giòng Sédang. Họ có vào khoảng 14.887 người.

Như vậy tồng số người Sédang lên tới 41.000 người.

Người Halang (Hà-lang) :

Ở phía tây nam Daksut dọc theo sông Daksou sống rải rác những làng thuộc sắc tộc Hà Lang. Chúng ta gặp lại người Hà Lang này ở vùng biên giới Việt Lào phía tây bắc quận Kon- tum. Ở đây người Hà Lang qui tự đông hơn miền Daksou. Người Hà Lang thuộc giòng Sédang lai Djarai và bị ảnh hưởng người Lào. Hiện nay có một số người Hà Lang sống ở bên đất Ai Lao.

Người Hà Lang ở phía Bắc được gọi là người Hà Lang Sédang. Tiếng nói của người Hà Lang là tiếng nói của người Sédang pha với tiếng Djarai.

Tòng số người Hà Lang là 2.516 người.

Người Kyon (Kỳ-ông) :

Ở cạnh biên giới Việt Lào ở phía nam Daksut và tây bắc Dakto có một nhóm người lai Dié, Sédang và Halang. Nhóm này họp thành một sắc tộc phụ gọi là sắc tộc Kyon, tổng số ước độ 548 người.

Người (Rơng-gao) :

Phía tây nam quận Dakto, tây bắc quận Kontum, ở giữa địa vực cư trú của sắc tộc Sédang và sắc tộc Bahnar, có người Rơngao sinh sống. Người Rơngao là người lai giống Sédang và Bahnar.

Trang sách 8Tổng số người Rơngao vào khoảng 9.123 người.

Người K'tua (Kờ-tua) :

Người K'tua là người lai Sédang và Bơnom sinh sống ở ranh giới Kontum Quảng Tín, tổng số ước độ 2.700 người. 2. Gốc tích và tính tình Người Sédang thuộc về giống Indonésien (Anh-đô-nê- diêng) nói tiếng Môn Khmer (môn-kờ-me).

Người Sédang cao lớn, khỏẻ mạnh da ngăm ngăm đen tính tình thật thà nhưng nóng nảy và hiếu chiến. Khi mới tiếp xúc, ta tưởng người Sédang thô bạo, dã man,.., nhưng thật ra họ là những người rất tốt, giàu nghị lực và thành tín.

Địa thế sinh sống ở những nơi đồi núi nghèo nàn chưa được khai thác, đã tạo cho con người Sédang một sức tranh đấu dẻo dai. Trải qua nhiều thế hệ, họ đã phải tranh đấu với thiên nhiên, với thú rừng và bệnh tật và nhất là với các sắc tộc lân cận để giành lấy miếng ăn, giành lấy những ngọn đồi, một khoảng núi để làm đất sinh sống. Những gian khổ đó đã làm cho họ khắc khổ, giỏi chịu đựng. Bản tính này mất dần ở những người Sédang sống dưới miền thấp ; đất đai phì nhiêu, sinh hoạt dễ dãi làm cho những người này trở nên vô tư và rộng rãi.

Người đàn ông Sédang phần nhiều là những chiến binh dũng cảm và thiện chiến. Họ quen xông xáo trong rừng và chiến đấu hăng say không hề biết mệt. Các sắc tộc lân cận và đồng bào miền xuôi từ lâu vẫn xem họ là một giống người hiếu chiến, hung dữ. Ngày trước người Bahnar vẫn lo sợ bị người Sédang đến cướp phá nên làm thành những làng chiến đấu có hàng rào kiên cố để phòng thủ. Tiếng đồn đến các làng người Chiêm Thành ở Phan Rang, người Chàm vẫn thường gọi người Sédang là những ông « ba bị» để dọa con nít hay khóc.

Trang sách 9Trong thời Pháp thuộc, người Sédang nổi tiếng là cương ngạnh và người Pháp đã phải vất vả rất nhiều mới thu phục được sắc tộc này trong mấy mươi năm gần đây.

Một khi đã thu phục được họ và nếu khéo hướng dẫn thì người Sédang sẽ trở thành những kẻ hợp tác trung thành và đắc lực. Quen chiến đấu trong rừng núi, giỏi chịu đựng sơn lam chướng khí, thông thuộc đường lối hiểm trở họ dễ dàng trở nên những chiến sĩ du kích lanh lợi và gan đạ.

Hoàn cảnh thiên nhiên đã tạo cho người Sédang tinh thần anh dũng đó. Một năm họ chỉ đủ ăn trong những tháng đầu mùa, tháng 8, tháng 9 là mùa đói kém của người Sédang ; đàn bà, trẻ con phải vào rừng đào các thứ củ đế ăn trừ bữa. Cuộc sống nghèo năn đó đã làm cho họ quen chịu đựng và trở thành khắc khổ với chính mình và mọi người. Các làng Sédang phía Nam sống trong vừng đất đai rộng rãi hơn, lại thường tiếp xúc với người Bahnar, người Kinh và người Thượng ở Ai Lao nên đời sống có phần dễ dàng hơn các làng.

ở phía Bắc.

II. Nếp sống cá nhân I. Quần áo Trái với người Dié thích những mầu sắc giản đị, người Sédang lại chuộng những màu sặc sỡ. Những tấm vải của người Sédang thường được kết hợp bởi nhiều màu sắc và bao giờ cũng có những sọc dài màu đỏ đậm.

Cũng như tất cả các đồng bào Thượng khác, người đàn ông Sédang đóng khố và ở trần, họ cũng mặc áo và quấn chăn trong những lúc đi xa hay về mùa lạnh.

Người đàn bà mặc váy ngắn và ở trần đôi khi mặc áo cánh cụt tay.

Trang sách 102. Trang sức Người Sédang, đàn ông cũng như đàn bà đều đề tóc dài, cài lược trên đầu. Đồ trang sức của họ là những chiếc khuyên nặng trìu lủng lẳng ở tai, những chuỗi hạt cườm quấn quanh cò và những vòng đồng cố hữu rủng rỉnh ở cườm tay. Tuy nhiên lối trang sức của người Sédang tương đối giản dị hơn người Dié.

Cũng như người Djarai, Bahnar, ngày trước, trai gái Sédang có tục lệ mài răng. Con trai hay gái đến tuồi 15 đều phải được cưa răng để được gọi là trưởng thành và có duyên. .

Tuy nhiên, những làng Sédang sống bên cạnh quốc lộ hay trong các ấp Chiến lược ngày nay đã bỏ dần những tục lệ xưa lệ cũ có hại đến sức khoẻ.

Quan niệm thầm mỹ về hàm răng cũng đã thay đổi hay là cảm thấy thẹn thò mỗi khi tiếp xúc với người Kinh nên ngày nay một số những người lỡ mài răng hồi trước đã làm lại những hàm răng giả bằng nhựa hay vàng tây thay thế. 3. Rượu, thuốc Người Sédang ở miền núi cao gió lạnh lẽo sương nhiều nên rất thích hút thuốc và uống rượu; đàn ông hút ống vố, đàn bà hút thuốc điếu bằng lá cuốn rất lớn. Rượu chỉ được uống trong khi hội hè đình đám gặp gỡ nên người Sédang thường tồ chức những cuộc cúng lễ, hẹn gặp gỡ đê ngả những ghè rượu ra ăn uống say sưa.

IlI. Đời sống xã hội 1. Xã giao :

Bản tính hiếu khách đã trở thành một tập quán chung của đồng bào Thượng. Những người khách lạ miền xuôi có dịp lên đây trở về đã tha hồ thêu dệt những chuyện ly kỳ quyến rũ chung

Trang sách 11quanh bản tính hiếu khách của người xứ Thượng. Tuy nhiên nếu đã đi qua nhiều sắc tộc khác, đã được tiếp đón tưng bừng từ buồi ban đầu, thì khách hẳn ngạc nhiên khi bước vào một làng Sédang; trong khi khách đi rảo quanh làng, đồng bào Sédang vẫn bình thản làm việc như không để ý gì đến khách cả. Ớ đây không có cái cảnh cả làng chạy ra ríu rít đón tiếp khách lạ như ta thường thấy ở vài sắc tộc khác. Muốn được người Sédang đón tiếp ta phải nói rõ cho họ biết mục đích thăm viếng. Sau đó chúng ta sẽ được họ tiếp đãi chu đáo thật tình. Tính thờ ơ này chúng ta cũng đã gặp khi qua các làng người Dié. Người Sédang rất chiều chuộng khách, những làng ở phía Nam thường liên lạc mua bán với người sơn cước bên Lào nên nhiều nhà có đủ chăn nệm tốt; phần nhiều họ ít dùng, chỉ cuốn cất vào và khi có khách thì đem ra dùng.

Ngoài ra đế tỏ lòng quí mến khách, tại một vài nơi, người chủ làng đi kiếm một vài quả trứng gà thật tốt để tặng khách.

Có người giải thích tục tặng trứng gà là một tập quán phát sinh từ thời Pháp thuộc. Hồi đầu, mỗi khi các quan chức nhà nước bảo hộ đến thăm một làng nào thường bắt dân làng cung phụng đầy đủ. Dân làng phải góp gạo, trứng gà, heo dê... để đãi khách.

Dần dần tục đó trở thành thông lệ, làng nào nghèo nàn thì chỉ góp gạo nếp, trứng gà thôi, lâu dần quen đi và trở thành tập • quán xã giao dù khách không đòi hỏi, chủ làng cũng đi kiếm trứng gà để cho khách dùng.

Muốn rõ tính tình thuần túy của đồng bào Sédang ta phải đi vào các làng xa xa trong những miền thung lũng cheo leo, nơi biệt lập chưa bị ảnh hưởng văn minh thị thành.

đây họ sống Những làng Sédang sống rải rác cạnh quốc lộ hay trong các ấp chiến lược không giữ nguyên bản chất cổ truyền trong phong tục và tập quán của họ nữa. 2. Nhà ở Người Sédang thích sống ở những nơi cao, nhưng so với

Trang sách 12người Dié thì địa vực sinh sống của người Sédang còn thấp hơn.

Trong lúc người Dié thích sống trên các đỉnh núi thì người Sédang lại sống ở khoảng lưng chừng núi hay trong các thung lũng. Khác với các làng Bahnar và Diarai, làng người Sédang thường có hàng rào bao bọc xung quanh có trồng hai công nhỏ đề ra vào.

Nhà ở của người Sédang cũng là những kiểu nhà sàn nhỏ, hình chữ nhật, mái lợp lá hay tranh, tàng trên cao hơn mặt đất hai hay ba thước, từng dưới chứa củi và nuôi gia súc.

Làng nào cũng có một nhà Rông là nơi sinh hoạt, hội họp của dân làng.

Ở những làng Sédang phía Bắc Dakto, Daksut, nhà Rông là nơi thanh niên chưa vợ đến ngủ ban đêm. Có làng làm đến hai nhà Rông : nhà Rông con trai và nhà Rông con gái, nhà Rông con gái nhỏ hơn, là chỗ ngủ hàng đêm cho những người con gái chưa chồng. Người Sédang vùng Dakto trở xuống phía Nam không theo phong tục này. Ban đêm trai gái trong làng vẫn ngủ tại nhà riêng của mình.

Nhà Rông cũng là nơi tiếp khách, là nơi cho khách ngủ lại ban đêm. Nhà Rông là một kiêu nhà sàn lớn hơn nhà thường và kiến trúc công phu hơn, mái cao dốc thẳng. Tuy nhiên kiểu nhà Rông của người Sédang mái thấp và rộng hơn kiểu nhà Rông của người Bahnar.

Nhà của người Sédang cũng có cửa để đóng lại lúc ban đêm hay khi mưa gió, ban ngày ít khi họ đóng cửa vì ở đây không có nạn trộm cắp. Thường ngày, cả làng đi làm rầy hay về chợ đổi chác thực phẩm, trong làng chỉ còn những người già cả, đau yếu và trẻ con. 3. Cưới xin Cũng như người Djarai, Bahnar... người con trai chưa vợ

Trang sách 13đêm đêm phải đến ngủ tài nhà Rông. Người con gái thì không bắt buộc, tuy nhiên ở một vài làng có nhà Rông dành riêng cho con gái thì đêm đêm các thiếu nữ phải đến ngủ tại đây.

Trong vấn đề ái tình trai gái, người Sédang có vẻ cởi mở tự do. Với một bản chất mộc mạc đơn thuần và sống trong hoàn cảnh phóng khoáng gần gũi thiên nhiên, người thanh niên nam nữ của núi rừng không bị dồn ép trong những ý tưởng hắc ám xấu xa. Thêm vào đó tục lệ phần nhiều khắt khe nên những chuyện ái tình lăng nhăng vụng trộm ít khi xảy ra ở những sắc tộc xa xôi này.

Trong vấn đề hôn nhân và tổ chức gia đình, người Sédang cũng như người Dié và những Sắc tộc phía Bắc Kontum đều theo chế độ phụ hệ. Tuy nhiên di tích mẫu hệ vẫn còn sót lại đôi phần trong phong tục của các sắc tộc này. Người Sédang cũng như người Dié chỉ có tên mà không có họ do đó không thể nói là con cái lấy họ mẹ hay cha. . Về việc hôn nhân, chúng ta thấy hai Sắc tộc nói trên có những tập tục gần giống nhau. Khi hai người trai gái quyến luyến nhau, chàng hay nàng đều có thể được nhờ mai mối đến hỏi trước cũng được. Nhưng phần nhiều là người con trai đi cha hỏi trước. Nhà trai nhờ một mai mối đến ngỏ ý định cho mẹ nàng. Nếu bên gái bằng lòng, bà mai để lại cho cô nàng một chuỗi cườm làm của ra mắt. Gia đình nhà gái cũng nhờ bà này về trao lại cho chàng một chuỗi hạt cườm khác. Thế là đôi bên đã thỏa thuận và lễ cưới sẽ cử hành một tháng sau.

Khi cưới tùy theo sự đòi hỏi của nhà gái và sự đồng ý của người con trai mà sắm lễ vật dẫn cưới ; đồ lễ có thể là vải, khố, chiêng, ghè...

Ngày cưới chàng rễ theo cha mẹ cùng vài người thân thuộc trong gia đình mang lễ vật sang nhà gái. Đến nơi, họ phải bày rượu và gà mang theo để cúng các vị thần linh. Theo người

Trang sách 14Sédang, đó là thần Seang-Long, vị thần cây cối thường ngự trị trên một cây đa tên là Long-Trai. Trong buồi lễ họ cầu xin Seang-Long phù hộ cho đôi vợ chồng mới cưới được lành mạnh mãi.

Sau khi cúng vái xong gia đình đôi bên cùng nhằm thịt gà uống rượu. Khi mãn tiệc, mọi người trong họ nhà trai ra về, nhưng chàng rễ cùng bố mẹ mình ở lại nhà gái thêm một thời gian nữa. Một tháng sau mới đón cô dâu về nhà chồng.

Bây giờ mới đến lúc nhà trai giết lợn làm tiệc mời mọi người trong làng đến ăn uống tưng bừng.

Có nhiều nơi, gia đình nhà gái bắt người con trai phải ở rè trong thời gian một vài năm. Chế độ ở rễ này thường thấy ở các sắc tộc Thượng. Gia đình người Sédang thường nghèo kém, nhất là người Sédang vùng trên, do đó mỗi người trong nhà là một nhân công đắc lực trong công việc rầy bái và giúp đỡ gia đình trong vấn đè mưu sinh. Bây giờ nếu đề cho người con gái về nhà chồng ngay gia đình nhà gái phải thiệt thỏi nhiều vì thiếu người giúp đỡ, nhất là ở những gia đình hiếm con. Do đó tuy không bắt buộc, nhưng thường sau khi cưới, người con trai về ở nhà bố mẹ vợ một thời gian rồi lại trở vè nhà mình đôi năm, rồi lại sang ở nhà vợ. Dụng ý của phong tục này là cốt đề chia đều cho hai gia đình trai gái được hưởng sự giúp đỡ của con cái.

Đối với người con trai mồ côi cả bố lẫn mẹ thì vấn đề giải quyết dễ dàng hơn , chàng trai chỉ việc khăn gói đến ở ngay nhà vợ, nhận gia đình vợ làm gia đình mình, cha mẹ vợ làm cha mẹ mình.

Ngoài ra đôi vợ chồng mới cưới còn thay đổi chỗ ở trong những lúc đau ốm hay con cái bệnh tật, khó nuôi... Ví dụ hai vợ chồng đang ở nhà cha mẹ người trai, bỗng nhiên người đàn bà nhuốm bệnh, hai người bèn dắt díu nhau về ở nhà cha mẹ

Trang sách 15người con gái. Sở di phải di chuyền như vậy vì họ tin rằng người đàn bà không hạp đất ở nhà chồng hay là đi ở nhà khác bị thần linh giận hay ma quỉ hành hạ sinh ra đau ốm.

Năm, bảy năm sau trong đời sống lứa đôi, khi hai vợ chồng đã có nhiều con cái, họ có thể tách ra khỏi gia đình bố mẹ vợ hay chồng để thành lập một gia đình khác.

Ở các sắc tộc Dié và Sédang, tội thông dâm bị phạt vạ nặng.

Người con gái chưa chồng lỡ thất tiết với một chàng trai nào đó thì không dám ra khỏi nhà, ngồi trong phòng khóc lóc, để rồi sau thú tội với cha mẹ, xóm làng. Tội cám dỗ sẽ bị làng bắt vạ phải giết trâu bò cho cả làng ăn.

Hai vợ chồng mới lấy nhau chưa đầy một năm mà đã có con thì xem như trước họ đã phạm tội thông dâm. Hai người sẽ bị đuồi ra khỏi làng, không cho đặt chân vào đất làng và uống nước cùng dòng với dân làng. Họ phải che một túp lều nhỏ tạm trú ngoài ven rừng cho đến khi hai vợ chồng đã đủ tiền mua một con heo, trộn huyết vào gạo để ở giữa làng, tất cả dân làng đi qua, mỗi người bỏ một nhúm gạo đó trên đầu kẻ phạm tội và nói lời tha tội cho họ. Sau đó tội nhân mới thật trắng án và trở về làng sinh sống như thường.

Theo tục lệ thì thời gian thọ phạt tối thiếu là một tháng hay nhiều hơn nữa tùy theo từng vùng. Sở di họ phải định thời gian thọ phạt tối thiểu đó là vì nếu không thì những người phạm tội thông dâm có sẵn của sẽ chịu phạt ngay và được trắng án thành thử mất công bằng và những người giàu có không còn nế sợ phong tục đó nữa. 4. Sinh nở Mầu hết các sắc tộc đang sống trong tình trạng sơ khai, phương pháp hộ sinh thật là cổ hủ, nặng tính chất mê tín dị đoan ; do đó nạn hữu sinh vô dưỡng là một chuyện di

Trang sách 16nhiên thường xảy ra ở đây và dân số của các sắc tộc này cứ dừng lại mãi trong tình trạng thiêu số.

Người Sédang cũng không ra ngoài tình trạng chung đó.

Người đàn bà Sédang sắp đến thời kỳ sinh nở vẫn phải quần quật trong mọi công việc hàng ngày nơi rẫy bái hay trong gia đình. Thế rồi đến lúc lâm bồn, họ cũng chỉ phó thác cho thiên nhiên làm việc.

Người sản phụ không được sinh nở trong làng, họ phải ở một chời nhỏ, người chồng giúp đỡ trong công việc cơm nước, ngoài ra không có thuốc men, không có bà mụ hay phương tiện nào cả. Người sản phụ phải sống trong chòi đó suốt thời gian sinh nở là một tháng mới được ăm con về làng tiếp tục cuộc sống bình thường.

Trong lúc sinh nở, nếu may mà đứa bé yên hàn vô sự, người chồng vội đỡ lấy, kiếm một lá rừng rất sắc, lá cháu, để cắt rốn cho đứa bé. Nếu chẳng may việc sinh nở khó khăn, gia đình sản phụ chỉ biết giúp đỡ bằng cách lo làm gà heo lễ vật, đặt dưới chân người đàn bà rồi cùng nhau rì rầm khăn khứa xin thần linh phụ hộ.

Nếu thần linh không chứng giám, người đàn bà vẫn quằn quại rên la, có khi họ leo lên bụng sản phụ lấy chân đạp cho đứa bé chóng ra. Đó là phương sách cuối cùng và thường thường người đàn bà cùng đứa bé vô tội trong bụng đều bị chết bởi phương pháp hộ sinh man dã này.

Một đứa bé sinh ra được bình yên mạnh khỏe, vẫn còn bị nhiều hăm dọa ; theo tục lệ người Sédang, một đứa bé dù khỏe mạnh, nhưng vừa mới sinh ra ba ngày mà mẹ nó vì một rủi ro hay đau yếu mà chết nó cũng không được quyền tiếp tục sống nữa. Sau khi cúng lễ cầu hồn cho người mẹ xấu số xong, người ta kẹp đứa trẻ vào giữa hai chân người chết rồi ghì riết cho đến khi đứa bé nghẹt thở mà chết. Xong công việc đó, người

Trang sách 17ta liệm xác hai mẹ con chung một hòm rồi đem chôn. Người Sédang giải thích rằng chưa đầy ba ngày, đứa bé chưa đủ cữ nên vẫn xem như còn trong bụng mẹ, nếu không giết nó, ma sẽ về làm cho mọi- người trong nhà hay trong làng đau ốm.

Trở lại trường hợp nhờ thần linh giúp đỡ, việc sinh nở được mẹ tròn con vuông thì nhà có người sinh đẻ trở thành nơi cấm ky, những người lạ mặt, Người ngoài làng muốn vào phải nộp cho gia chủ cái cuốc nhỏ bằng sắt, họ tin rằng nếu không làm thế thì dứa trẻ sẽ đau ốm. Trong thời gian năm sáu ngày sau khi đẻ, trừ người chồng ra không một người đàn ông nào khác được nhìn đứa trẻ, vì sợ nếu không kiêng nó sẽ mắc bệnh sốt.

Đến ngày thứ sáu, người mẹ trở dậy ra bờ suối tắm, người chồng trở về nhà làm lễ giết gà hay lợn để tạ thần Seang Long đã tạo ra linh hồn và thể xác đứa bé.

Nếu đứa bé là con trai, khi đến o tuổi nó sẽ đến ở nhà Rông. Luật lệ không cấm người con gái đến nhà Rông nhưng thường thường người đàn bà ít khi đến nơi này. 3. Tang lễ :

Khi nghe tin trong làng có người chết, dân làng rủ nhau đến chia buồn và khóc lóc cùng với gia chủ.

Thân nhân lấy khố, khăn quấn vào cho xác chết và đem đặt giữa nhà. Họ bắt đầu cúng cho linh hồn người chết thịt gà và rượu.

Người Sédang không để xác lâu trong nhà, thường thường hai ngày sau là họ đem chôn. Những nhà giầu, ngay ngày đầu họ làm thịt một con bò và một con lợn, hôm sau lại làm thịt một con trâu để đãi dân làng đến dự đám tang.

Trang sách 18Trong suốt đêm, trai tráng trong làng vừa đi quanh xác chết vừa khua chiêng, các thiếu nữ vừa đi vừa múa còn thân quyến trong gia đình ngồi bên xác chết để khóc lóc.

Đến giờ đem chôn, trai làng đặt xác chết lên một cái giá làm bằng tre rồi khiêng ra khỏi nhà, lúc khiêng họ tránh không cho xác chết đụng vào các khung cửa trong nhà.

Trong lúc đó ở ven rừng, nơi dân làng chọn làm chỗ chôn người chết, vài người trai tráng khác đến trước đã đào xong một cái hố và dựng một túp lều nhỏ để đặt cổ quan tài.

Khi người chết được khiêng đến, họ đặt cần thận vào trong áo quan. Sau đó họ liệm theo những đồ dùng hàng ngày của người chết như dao, nỏ, tên, giỏ đựng cơm, ống điếu, bình đựng rượu, đồ cúng v.v...

Sau đó họ đậy nắp áo quan, đặt xuống huyệt, lấp đất lại thành nấm, trên mộ họ cất tạm một túp lều nhỏ bằng tranh tre làm nhà mồ cho linh hồn người chết tránh mưa nắng. Trên mồ nhiều khi người Sédang để cả những đồ dùng của người chết mà họ không thế cho hết vào hòm được, ví dụ đôi nơi ta thấy họ đặt chiếc ghè cũ của người chết trong nhà mồ.

Sau khi chôn cất xong, mỗi người đi dự đám lấy một cành củi đặt thành đống bên cạnh mồ rồi nhen lửa đốt cháy đống củi và khấn xin linh hồn hãy yên phận đừng trở về nhà nữa.

Về sau, hàng tháng gia đình người chết lại đem rượu gà hoặc lợn ra mồ để cúng, trong lúc đó họ cũng lo đi vào rừng tìm mây tre, tranh nứa về để dựng một ngôi nhà mồ lớn, trên đỉnh mái trang hoàng bằng những hình mây đan hay gỗ khắc hình thú vật... sơn màu đỏ.

Khi dựng xong nhà mồ, họ làm lễ tạ mả hay lễ bỏ mồ.

Những người giàu có đem trâu bò dùng làm lễ cúng đến buộc cạnh nhà mồ. Gần sáng họ giết các thú vật lấy thịt nấu thức ăn.

Trang sách 19Vài người trong gia đình đào một lỗ lớn từ bên ngoài nhà mồ đến chỗ quan tài rồi tang chủ lấy tim, gan, đuôi của vật tế lễ cho vào lỗ mới đào để cúng cho người chết. Cúng xong tang chủ cho lấp đất lại, khấn khứa xin hồn cho mình được bỏ mồ và từ đấy không săn sóc đến nữa.

Liên đó dân làng ngả thịt ra ăn uống no say, đến chiều tối tàn lễ, mọi người ra về.

Từ ngày làm lễ bỏ mô, gia đình người chết không trông nom đến mồ nữa và cũng không còn ai nhắc nhở đến kẻ đã mất. Hình bóng người đó chìm dần trong lãng quên, nhà mồ mục rã tiêu điều xơ xác.

IV. Đời sống tỉnh thần 1. Các vị thần và việc cúng lỗ Cũng như người ở các Sắc tộc khác, đồng bào Sédang tin tưởng ở nhiều vị thần linh và ma quỷ. Bất cứ làm một công việc gì quan trọng họ cũng nghĩ ngay đến việc cầu khần các vị thần để xin phù hộ. Sinh hoạt quan trọng nhất của người Sédang là làm mùa. Do đó, mỗi khi khai phả rừng rầy để trồng trọt, đồng bào Sédang phải cúng lễ nhiều lần. Mỗi gia đình cúng lễ trên khoảng • đất khai khần riêng của"mình và chung cho cả làng có Lễ Lúa tức là lễ bắt đầu đốt rầy.

Từ khi chọn đất làm rẫy cho đến khi mang lúa vào chòi đồng bào Sédang làm những lễ sau đây :

- Lễ chọn đất - Lễ chặt cây làm rẫy - Lễ đốt lửa làm rầy - Lễ gieo hạt và cúng thần lúa Yang Sơ-ri - Lễ rải nước và cúng thần Yang De

Trang sách 20- Lễ gặt lúa - Lễ đem lúa về - Lễ giữ lúa ở chòi - Lễ tạ ơn và chém trâu Lễ sau cùng lâu tới ba ngày và bắt đầu từ đó mọi việc canh tác đều bị cấm cho tới mùa sau.

Ngoài những vị thần linh quan trọng liên quan đến nương rầy, thóc lúa, trong thế giới siêu hình của người Sédang còn có nhiều vị thần linh khác.

Mỗi khi có nhà cháy, người Sédang chỉ đứng nhìn mà không dám chữa cháy. Họ chỉ dùng một sợi chỉ đỏ để ngăn cản ngọn . lửa, không dám dùng những phương tiện khác sợ thần lửa giận thêm. Nếu thần lửa chỉ liếm ngang sợi chỉ đỏ rõi thương tình không tiến thêm nữa thì nhà họ còn, chẳng may thằn giận nhiều đốt cháy hết họ cũng đành lặng lẽ khuất phục để cho thần lửa hả cơn giận mà không oán thù gì cả. Do đó, mỗi khi trong một làng Sédang có một ngôi nhà cháy toàn làng cũng bị cháy theo, và họ cho rằng đất động và thần không bằng lòng điều gì nên bồng bế đi chỗ khác tìm đất khai phá dựng làng mới.

Cũng như người Djarai, Bahnar và các dân tộc miền núi khác, đồng bào Sédang tin rằng mình hay tổ tiên có thể liên kết với các thần linh để tìm một sự phù hộ cho cuộc sống hàng ngày. Mỗi gia đình đều có thờ riêng một vị thần đã liên kết với dòng họ mình. Thường gia đình nào cũng liên kết với thần lúa Yang Sơ-ri.

Ngoài ra người Sédang còn liên kết với thần suối, thần nước, thần núi, thần rừng, thần hồ.

Liên kết với các thần linh, họ mong nhờ một sự che chở thiêng liêng vô hình, họ tìm một nơi nương tựa đề chống đỡ với những hăm dọa không ngừng của thiên nhiên. Y thức tôn

Trang sách 21giáo nầy sinh trong hoàn cảnh tranh sống của con người với vũ trụ, con người thấy mình bé bỏng bơ vơ cần phải bám viu vào những uy quyền tối thượng siêu nhiên đề vượt qua những gian nguy trong cuộc sống. Trong thực tế các vị thần rừng núi của đồng bào sơn cước không bao giờ có thật nhưng lại rất cần thiết cho đời sống tâm linh của họ. Họ chỉ chịu từ bỏ các thần linh cũ của mình khi tìm thấy một quyền lực vô hình khác mạnh hơn, hợp lý hơn, khả di họ có thể chạy đến cầu xin sự thương xót, giúp đỡ mỗi khi gặp hoạn nạn. 2. Người thầy cúng Theo sự tin tưởng của đồng bào Thượng, thầy cúng là người trung gian giữa thần linh và loài người. Mỗi làng người Thượng đều có một vị thầy cúng rất được dân trong Buôn tôn kính xem như một kẻ có thể thấy và liên lạc trực tiếp được với thần linh hay ma qui.

Mỗi khi đau ốm đồng bào Thượng ngày trước không biết dùng thuốc men, chỉ lo cúng vái. Do đó thầy cúng lại là thây lang chữa bệnh cho dân làng.

Đồng bào Sédang tin rằng mỗi người trong chúng ta có nhiều linh hồn. Một vài linh hồn buồn buồn có thể thoát xác nhập vào hình hài một loại côn trùng nào đó để thơ thần dạo chơi.

Linh hồn lang thang này có thể vì ham vui hay vì một tai nạn nào quên đường về thì người chủ của linh hồn đi lạc đó bi lâm bệnh, bệnh nặng hay nhẹ tùy theo một hay nhiều linh hồn của thân xác rủ nhau đi chơi không về. Thế là người bệnh phải cầu cứu thầy cúng giúp mình đi tìm linh hồn. Thầy cúng bảo gia chủ sửa lễ vật để cúng thần rồi đi vào rừng để gọi hồn trở lại. Một vị thần bồn mạng của thầy cúng Seang- Bajâu sẽ giữ hồn lại và trao tận tay người này. Thầy cúng nắm chặt lại coi như linh hồn không chạy

Trang sách 22trốn được nữa, rồi trở về nhà đặt tạy lên đầu bệnh nhân và khấn khứa phủ dụ linh hồn hãy ngoan ngoăn trở về với người. Về đây, hồn được ấm cúng, no đủ không lạnh lẽo đói khát như đi lang thang trong rừng. Thế là người Sédang tin rằng linh hồn đã chịu nghe lời và đã bằng lòng trở về thân xác cũ, người bệnh sẽ lành trong chốc lát.

Lối chữa bệnh vừa nói trên chỉ là đối với những bệnh nhẹ, nếu bệnh nặng thì không phải là linh hồn đi lạc nữa mà chính thân xác bệnh nhân bị những mũi tên thần bắn phải. Nạn nhân hẳn có làm điều gì xúc phạm đến thần linh, hoặc thiếu thành kính, hoặc động chạm vào những chốn thiêng liêng hay là quên không cúng lễ, do đó thần nồi giận và bắn những mũi tên vào mình kẻ phạm tội thất kinh. Những mũi tên này như những dằm tre hay gai nhỏ. Khi chữa bệnh, thầy cúng lẩy tay sờ khắp thân thế bệnh nhân để xem thần bắt bệnh nhân phải giết loại thú vật gì để cúng thần. Và cũng lúc đó thầy cúng sẽ tìm những mũi tên ghim trong mình nạn nhân nhờ sự chỉ dẫn của thần... Thầy cúng sẽ dùng tay hoặc răng để nhỏ mũi tên ra khỏi thân thể người bệnh.

Lõi chữa bệnh của họ chỉ có thế thôi, chẳng may người bệnh chết thì họ cho rằng thần linh không giúp thầy cúng tìm ra những mũi tên độc hay vì bệnh nhân phạm lỗi nặng, không thể tha thứ được. 3. Những ngày lễ tốt Đối với đồng bào Sédang, hay đồng bào Thượng nói chung những ngày lễ Tết là cơ hội nghỉ ngơi, hội họp nhau ăn uống, múa hát tưng bừng. Trong một năm thường có nhiều ngày lễ Tết. Lễ Tết của đồng bào Thượng không phải là những ngày lễ riêng của tư gia mà là ngày hội hợp chung vui của tất cả dân làng. Phong tục này phải chăng là những di tích của đời

Trang sách 23sống các sắc tộc sơ khai thời tiền sử ? Giai đoạn mà người còn sống thành những đoàn thể nhỏ qui tụ quanh một vị tù trưởng. Ban ngày họ phải phân tán, xông xáo đi tìm miếng ăn, đêm đêm trở về quây quần bên bếp lửa bập bùng kế cho nhau nghe những cuộc phiêu lưu săn đuồi trong ngày. Họ chia nhau từng đùi thịt của con mồi săn được, từng quả rừng ngon lạ nhặt lượm trong rừng.

Thế rồi vừa ăn, vừa kể chuyện, vừa nhảy, vừa ca ngợi thần linh đã giúp đỡ họ trong ngày gặp nhiều may mắn. Họ bắt chước tiếng gió rừng vi vu, tiếng chim hót, tiếng thác reo mà líu lo những khúc hát của núi rừng man dại. Nhưng loài người càng ngày càng đông, cuộc sống bị ràng buộc với nhiều phức tạp phiền toái vấn đề mưu sinh không còn đơn giản như xưa nữa. Con người không thể hàng đêm lại hội họp để cùng chia nhau những nỗi vui buồn lo âu trong ngày, họ xa dần đời sống đoàn thế để rút lui vào trong phạm vi nhỏ hẹp của gia đình hay cá nhân. Tuy nhiên ở những sắc tộc rừng núi, đời sống tập thể vẫn còn sót lại trong một vài sinh hoạt hàng ngày nhất là trong những buổi lễ Tết.

Riêng người Sédang cũng như các sắc tộc sơn cước khác, trong một năm có nhiều ngày lễ.

Lê nước.

Trước khi tìm hiểu những ngày lễ nước của đồng bào Sédang, chúng ta hãy đến xem phương pháp lấy nước của đồng bào Thượng. Người sơn cước hứng nước ở các khe đá bên sườn núi hay từ các dòng suối nhỏ ở những ngọn núi xa. Muốn dẫn nước từ khe suối về làng họ ghép những ống bương bằng tre hay bằng những thân cây nhỏ xẻ đôi khoét ruột thành những ống táng dài.

Đến những chỗ nào muốn lấy nước, họ không ghép nối

Trang sách 24tiếp những ống bương nữa mà để ống máng nối từ suối về ở phía trên cao cho nước chảy xuống, bên dưới dòng nước đó cách quãng độ một thước họ lại đặt nối tiếp một dẫy ống máng khác để hứng nước chảy xuống dẫn về phân phát cho những nơi khác. Những nơi gián đoạn cho dòng nước chảy xuống là những vòi nước thường xuyên, dân làng tha hồ đem nồi đồng hay những quả bầu khô ra đãy hứng nước như người ở thành phố hứng nước máy công cộng.

Những ống bương dẫn nước này chỉ chịu đựng được trong một thời gian nhiều lắm là một năm, năm sau họ phải thay những ống mới. Mỗi lần thay những ống bương dẫn nước họ lại tổ chức lễ linh đình gọi là lễ nước. Lễ này bắt đầu vào khoảng tháng 3, tháng 4 dương lịch. Khi đã thay những ống mới xong, họ ngả trâu, bò, gà, hội họp nhau quanh đống lửa lớn, vừa ăn thịt, uống rượu vừa nhịp nhàng múa hát, tất cả nhạc khí cổ truyền lại được đem trình diễn trong buổi lễ. Cả một thung lũng trầm lặng bấy lâu, giờ tưng bừng sống dậy.

Lễ lửa.

Trước khi làm mùa, ngoài những buồi lễ riêng của từng gia đình, người Sédang của ngày lễ chung gọi là Lễ lửa tức là lễ khởi đầu đốt rẫy.

Cũng như những ngày lễ Tết khác, dân làng hội họp, ăn uống ca hát và cầu xin thần lửa đem lại mầu mỡ cho đất khai khần của dân làng. Lễ này thường được tồ chức vào cuối mùa xuân, khi trời đã bắt đầu có những cơn mưa sang mùa.

Mùa xuân cũng là mùa người Sédang nhớ đến những người đã chết. Tuy họ không định một ngày lễ thanh minh hay tảo mộ nhất định trong năm, nhưng thường vào khoảng tháng ba, dân làng rủ nhau ra vùng nghĩa địa để khóc lóc và tu sửa lại những mồ mả vừa mới chôn trong thời gian gần đây.

Trang sách 25V. Đời sống kinh tế 1. Trồng trọi và săn bắn Địa vực cư trú của đồng bào Sédang là một vùng núi cao hiêm trở, thung lũng nhỏ sâu thắm, rừng rậm cây to nên việc trồng trọt và việc chăn nuôi rất khó khăn.

Lúa trồng có một mùa bằng phương pháp cổ điển nên việc thu hoạch không đủ dùng cho hàng năm. Ngoài ra việc trồng hoa màu phụ lại không được chú ý nên trong những ngày giáp hạt hoặc những năm mắt mùa đồng bào Sédang phải vào rừng tìm những củ mài, măng tre, rau lá để ăn cho qua ngày.

Sau mùa lúa, đồng bào Sédang thường hay vào rừng săn băn hoặc ra bờ suối đánh cá. Là những người săn thiện nghệ, bắn rất giỏi nên đồng bào Sédang thường có đủ thịt dùng và trong những ngày đói kém cũng đủ sức chịu đựng cho tới suốt mùa lúa. 2. Thủ công nghệ Người Sédang bắt chước rất nhanh và là thợ rất khéo; những đồ đan bằng tre như gùi, rổ, những nhà rông nhỏ chạm trồ tinh vi là những quà biếu có giá trị ; du khách mỗi khi đi qua vùng này đều mua một vài cái làm đồ kỷ niệm. Và thường dừng chân lại ngắm nhìn tấm tắc ngợi khen những chiếc cầu treo bằng tre làm rất khéo vắt ngang qua một ngọn suối sâu thẳm hay những ống nứa chập lại dài hàng ngàn thước chạy ngoằn ngoèo theo lưng núi chân đồi dẫn nước từ khe suối xa xôi về cho dân làng dùng.

Người Sédang lại biết khai thác quặng sắt để lấy sắt và là thợ rèn rất giỏi : việc biết rèn sắt và thổi bễ là do sự bắt chước người Lào. Dao cưa người Sédang rất nổi tiếng ở Cao Nguyên vì lưỡi rất chắc bén và chuôi chạm trổ công phu.

Trang sách 26Người Sédang còn biết đãi vàng đọc theo bờ suối. Vàng đãi được thường mang sang Lào đồi lấy trâu.

VI. Kết luận Đồng bào Sédang là đồng bào kiên dũng nhất của chúng ta trên miền Cao Nguyên. Nằm ở ranh giới Việt Lào, tiên một vùng rừng núi hiểm trở, đồng bào .Sédang đã nhiều lần đầy lui những cuộc xâm lăng của Xiêm, Lào, Pháp và hiện là thành trì. kiên cố nhất ở trên miền Thượng.

Việc mở mang đường xá và thiết lập những phi trường ở phía bắc Kontum, việc huấn luyện cho người Sédang biết hộ sinh và sử dụng thuốc men, việc trồng trọt hoa mầu phụ nhất là những hoa mầu có chất béo như lạc (đậu phụng), việc khai thác quế, giống quế ở vùng Quần Sơn, Ngọc Linh, Ngọc Niay, việc đãi vàng có phương pháp ở vùng Daksut, sẽ giúp cho đồng bào Sédang sinh sống mạnh mẽ và đầy đủ hơn.

Việc xây dựng những trường học và ký túc xá cho trẻ em Sédang, việc mở những lớp dạy nghề cho thanh niên nam nữ Sédang sẽ đào tạo được nhiều cán bộ giỏi nhờ ở những đức tính bắt chước nhanh, tay chân khéo léo, nhẫn nại chịu đựng cố hữu của họ và nhờ đỏ tương lai miền cực bắc Cao Nguyên sẽ được mở mang nhanh chóng.