NGƯỜI RHADÉPhần 6 · trang 93–108
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 93NGƯỜI RHADÉ (Ra-dễ): 1. Giới thiệu 1. Địa vực cư trú và dân số Người Rhadé do tiếng Anak Aê Adiê đọc trạnh ra ; Aank Aê Adiê có nghĩa là những người con của Thần Trời. Người ta còn gọi người Rhadé là Eđê ; ê đê có nghĩa là một loại tre, như vậy người Êđê có nghĩa là người sống ở trong rặng tre. . Người Rhadé cư trú hầu hết ở tỉnh Darlac, (63.474 người), nam tỉnh Pleiku (571 người), tây nam tỉnh Phú Bồn (8.679 người), tây bắc tỉnh Khánh Hòa (5.795 người) và bắc tỉnh Quảng Đức (1.070 người).
Tổng số người Rhadé ước độ 100.000 người, chia ra thành các sắc tộc nhỏ như sau :
- Rhadé Kpa ở chung quanh vùng Banmêthuột.
- Rhadé Adham ở bắc Banmêthuột, chung quanh vùng Buôn Hô tới giáp giới sông Hleo và Krông Hnang.
- Dlié Ruê ở vùng sình lầy của Krông Ana.
- Krung ở ranh giới tỉnh Pleiku và Darlac.
- Epân, Hwing, Ening là ba sắc tộc rất nhỏ ở phía bắc M' drak.
- Blô ở vùng đồi cỏ M' drak.
- Kdrao ở thượng lưu Krông Pach.
- Kdung, Kmun ở thượng lưu Krông Ana,
Trang sách 94- Ktul ở trung lưu Krông Buk và hạ lưu Krông Pach.
- Bih ở vùng Lạc Thiện, lai giống giữa người Rhadé và M' nông:
- M' dhur ở hạ lưu Krông Hnang và trung lưu Ea Ayun (sông Ba) lai giống giữa người Rhadé và người Djarai. 2. Gốc tích nhân dạng Người Rhadé cũng như người Diarai thuộc giống Indonésien (Anh-đô-nê-diêng) tiếng nói thuộc loại Malayo Polynesien (Ma- lay-ô Pô-ly-nê-diêng), Malayo Polynésien là dánh từ mà các nhà nhân chủng học gọi chung ngôn ngữ của ngành Austronésien (Ốt-tờ-rô-nê-diêng) như tiếng Djarai, Rhadé, Rơglai, Churu, Người Rhadé thường thường nhỏ người, cao trung bình Ith6o mắt nâu và sáng, mũi hơi tẹt và cụp, tóc hơi quắn và da nâu nâu.
II. Nếp sống cá nhân Người Rhadé sinh sống giản dị, tính tình hiền lành thật thà và tương đối là người thông minh nhất trong các sắc tộc ở miền Cao Nguyên.
Ngày thường, đàn ông Rhadé mang khố ở trần, đàn bà quấn " yêng » (váy), mặc áo cánh hoặc ở trần. Về mùa đông khi gió Đông Bắc bắt đầu thổi trên Cao Nguyên, họ quấn quanh người một cái chăn có sọc đủ màu để cho đỡ lạnh.
Ngày lễ, người Rhadé ăn mặc quần áo có một nết diện đặc biệt hơn các sắc tộc Thượng khác, đàn ông đầu quấn khăn, áo màu xanh chàm thỉnh thoảng có đường viền trắng, đỏ, đen, mình mặc chật, tay dài rộng, ở ngực khâu thêm một tấm vải đỏ bằng gang tay đan bằng sợi chỉ to bằng. ngón tay út, ở trên có đính những khuy đồng bóng loáng ; đàn bà mặc áo sát người, lưng
Trang sách 95quẩn một miếng vải trông rất duyên dáng ; váy dài quét đất buộc ngang hông thật là thướt tha.
Đồ trang sức thì giản dị so với các sắc tộc xung quanh : tay đeo vòng đồng, mỗi một vòng tượng trưng cho một cuộc kết nghĩa anh em hay là một lời hứa với thần linh ; đàn bà đeo thêm ở tai những trái cầu bằng đồng lóng lánh hay những miếng ngà voi vàng khè, tóc được chải chuốt cần thận và cuốn lại ở đằng sau gáy hay để thả dài ở ngang vai.
Nói chung lõi phục sức của người Rhadé thật là đơn sơ nhưng đàn ông ăn mặc vẫn có phần diện và đàn bà vẫn có phần yếu điệu ; gia đình nào cũng cố sắm cho được một cái rương lớn để đựng những đồ lễ phục và trang sức.
III. Đời sống xã hội 1. Xã giao Người Rhadé rất hiếu khách, đó là bản tính chung của những người Thượng mà ta đã gặp qua các sắc tộc Djarai, Sédang, Bahnar.
Tuy nhiên, trong vấn đề xã giao, người Rhadé có phần tế nhị hơn người các sắc tộc khác.
Khách đến thăm một làng Rhadé phải đến tìm gặp vị chủ làng để bày tỏ mục đích, nếu chủ làng vắng mặt thì tìm vị phó chủ làng. Khi đã cho chủ làng biết rõ ý muốn của mình rồi, khách sẽ được ân cần tiếp đón.
Nhà ở của người Rhadé thường chia làm hai phần : gian lớn chính giữa nhà dùng để hội họp gia đình trong những sinh hoạt hằng ngày và cũng là nơi tiếp khách. Có những phòng nhỏ riêng cho đàn bà, con gái, mỗi phòng đều có bếp lửa ; khách đến nhà có thể vào thăm các buồng này lúc ban ngày, nhưng ban đêm thì không bao giờ nên đặt chân đến,
Trang sách 96Trong phòng tiếp khách, họ treo những loại nhạc khí thường dùng trọng các buổi lễ : trống cái, trống con, những chiếc thanh la lớn bé đủ bộ, và những vò rượu cần.
Khách có thể nhìn xem, không nên sờ mó những đồ đó và nhất là đừng gióng lên thành tiếng. Những nhạc cụ người Rhadé chỉ gióng vào những buồi lễ.
Nếu khách giữ đúng những tực lệ kiêng cữ, người Rhadé sẽ chiều đãi khách thật là nồng hậu, họ trải những chiếc chiếu thật đẹp đề khách ngồi, đem những chiếc chăn thật tốt mời khách dùng. Họ mời khách uống rượu, hút thuốc và lân ta gợi chuyện, hỏi khách về gia đình, làng mạc, nếu là khách lạ họ hỏi xem khách cần gì đến họ hay đến làng xóm họ không, họ sẵn sàng giúp đỡ.
Sau chầu rượu mở đầu câu chuyện, vợ chồng gia chủ sẽ mời khách ở lại dùng cơm. Trong lúc ăn cơm họ lại mời khách dùng rượu ở những vò ngon nhất, khách uống xong, người vợ sẽ tiếp lấy cần và uống cầu may.
Khách từ giã ra đi, gia chủ sẽ tặng khách một con gà hay vài quả trứng theo tục lệ tiễn khách của người Rhadé.
Đó là đối với khách thường, nếu khách là người quyền quí, hay là những kẻ có uy tin thì dân làng tố chức tiếp rước tưng bừng hơn và buổi tiếp khách trở thành như một ngày lễ nhỏ; dân làng giết gia súc để chúc mừng và cúng cầu an cho khách. Rồi đó, họ soạn những món ăn đặc biệt cùng với rượu cần ra mời khách và cả làng sẽ quây quần ăn thịt uống rượu cần, chuyện trò ríu rít. Để thù tiếp khách vài cô thiếu nữ được cử ra mời khách uống rượu cần dâng khách những thức ăn ngon lạ. 2. Tổ chức làng xóm Làng xóm của người Rhadé thường ở ven sông hay cạnh
Trang sách 97những đầm nước Những làng lớn có tới hơn 10o nóc nhà, vài làng nhỏ ở rải Nơ trong vùng núi xa chỉ có dăm bầy ngôi nhà nhỏ leo teo.
Cũng như những đồ? bào Sơn cước khác, người Rhadé sống trong những nhà sàn cac hơn mặt đất lối vài thước, vật liệu làm nhà là tre, nứa và côt gỗ rịt vững chắc, mái lợp bằng lá hay tranh, ngày nay nhiều nơi biết lộn bằng ngói hay « Tôn ».
Nhà ở của những nhà khá giả :ó cái dài tới vài chục thước, nhà của người nghèo cũng được đôi ba gian, trông có vẻ còn khá hơn những người bần nông ở miền x ôi, vì ở đây họ có sẵn vật liệu do núi rừng cung cấp. Có nhiều ng i nhà dài trên too thước, "inh.
đó là nơi sinh sống của những đại gia Đứng đầu mỗi làng Rhadé có một vị chủ làng "Khua Luôn» hay Tù Trưởng do dân chúng bàu lên, một ị phó chủ làng để thay thế khi chủ làng vắng mặt. 3. Tổ chức gia đình Tuy đứng đầu mỗi làng có một vị Tù Trưởn như trong các sắc tộc theo chế độ phụ quyền, nhưng thật ra ng ười Rhadé lại theo chế độ mẫu hệ. a) Cưới xin Người con gái lớn lên lo để ý đến « Khách Đồng Sàng » nếu nàng ưng ý một cậu trai nào đó liền về thưa với cha mẹ nhờ người mai mối đến nhà trai đánh tiếng. Bố mẹ chàng trai lại phải hỏi ý kiến của cậu con, nếu chàng cũng bằng lòng cô ả thì hai họ sẽ làm lễ hỏi gọi là lề trao vòng : nhà gái gửi đến cho đằng trai một chiếc vòng đồng, nhà trai cũng nhờ bà mối trao lại cho đằng gái một chiếc vòng khác ; tục lệ này cũng giống như người văn minh làm lễ đeo nhẫn hỏi để chứng tỏ chàng và nàng đã có vị hôn thê hay vị hôn phu rồi.
Trang sách 98Sau lễ trao vòng, nhà trai thiết rượu đãi những người mai mối đôi bên. Và tùy theo sự định đoạt của nhà chồng, trước ngày cưới, người con gái phải đến « làm dâu » nhà bố mẹ chồng trong một thời gian năm ba tháng hay vài năm. Chuyện « làm dâu » này khiến ta nhớ đến tục làm rễ của người Việt Nam ngày xưa.
Một chàng trai muốn cưới được vợ phải đến phục dịch gia đình vợ trong một thời gian. Thôi thì chàng phải làm đủ mọi công chuyện cho nhà bố mẹ vợ tương lai để tỏ ra mình là người rể giỏi. Ca dao đã nói giùm thân phận làm rế của người trai hồi xưa đó.
Trời mưa cho ướt lá khoai Công anh làm rế đã hai năm tròn.
Những người con gái Rhadé cũng như những chàng trai Việt hồi trước, đến ngày cưới lại trở về nhà bố mẹ mình. Và lễ cưới bắt đầu. Nhà trai đòi hỏi nhà gái phải nộp đầy đủ sính lễ :
Trâu bò, thanh la, rượu... Đám cưới gọi là to nhất của ngưới Rhadé, khi nhà trai thách cưới những hai trâu, I bò và 3 cái thanh la. Có khi đám cưới phải hoãn lại một đôi năm vì nhà gái nghèo chưa lo sắm đủ lễ vật. Nhưng cũng có nhà trai dễ dãi, vì mến cô dâu, vì thông cảm hoàn cảnh của sui gia mà cho cưới tạm sau này sẽ trang trả lần.
Lễ cưới thường được tổ chức trong hai ngày liền. Ngày đầu tiên, họ nhà gái cùng ông mai bà mối đến rước rễ, trong lúc đó nhà trai làm rượu thịt khoản đãi hai họ rồi làm lễ « Đưa rễ » về nhà vợ.
Ngày hôm sau gia đình nhà trai tại kéo sang nhà gái, họ nhà gái ngả trâu, bò làm tiệc mời dân làng đến chung vui để mừng cho đôi trai gái.
Nếu bên nhà trai hiếm hoi chỉ có một cậu con trai thì có thể bắt người con gái « Gửi dâu » (như ta gửi rế). Người con gái sẽ được xem như con đẻ và thừa hưởng gia tài nhà chồng.
Trang sách 99Trường hợp thông thường, sau hôn lễ, chàng trai trở thành một người của nhà vợ... « Xuất giá tòng... thê» vợ đi đâu phải đi theo, thỉnh thoảng mới được về thăm cha mẹ mình. Con cái sinh ra lấy họ mẹ. Địa vị người đàn bà trong gia đình cũng như ngoài xã hội bao giờ cũng được ưu đãi hơn người đàn ông. Ở những sắc tộc theo chế độ mẫu hệ như giòng Rhadé, nàng dâu rất được mẹ chông yêu quý (giống như các bà mẹ vợ Việt Nam thương con rẻ). Vì được quí trọng, nề nang nên nàng dâu có nhiều quyền hành.
Trong gia đình người đàn bà đóng vai chỉ huy, mỗi khi đị đâu, người chồng lẽo đẽo theo vợ, thủ phận hèn kém. Người vợ buộc đứa con trước bụng lưng đeo gùi ra chợ mua bán, người chồng cũng địu con lủi thủi theo sau để vợ có cần sai bảo điều gì, thật là đúng cảnh : « Phụ xướng phu tùy ».
Người Rhadé lại có những tục lệ rất nghiêm, trong gia đình, bố chồng không được ngồi vào chiếu của con dâu cũng như mẹ vợ không được ngồi vào chiếu của chàng rễ. b) Ly dị Phong tục Rhadé cũng cho phép hai vợ chồng được ly dị nếu một trong hai người bất lực, ngoại tình hay vi phạm đến phong tục tập quán có ảnh hưởng đến đời sống lứa đôi.
Khi một người con trai đã có vợ mà còn dan díu với một người đàn bà khác, người vợ có quyền đem truy tố trước hội bô lão do chủ làng chứng giám. Để làm bằng chứng kiện tội ngoại tình, nguyên cáo phải trưng những vật cụ thể có liên lạc đến vụ ái tình vụng trộm giữa chồng mình với người nhân tình, như những chiếc vòng trao gởi, cái áo, cái khố...
Người đàn ông bị ly dị phải phạt trả lại cho nhà gái tất cả những sính lệ và phí tồn của hôn lễ. Nếu người đàn ông ngoại tình không đủ tiền đề đóng phạt hay nộp thiếu thì những người trong họ nhà trai đã được mời đi dự lễ cưới có trách nhiệm phải dàn xếp cho xong vụ bồi thường cho nhà gái.
Trang sách 100Về phần người đàn bà, nếu bị chồng bắt quả tang ngoại tình với bằng chứng rõ rệt, và nếu người chồng muốn kiện xin ly dị người vợ cũng phải bồi thường và phải chịu vạ cho làng. Tuy nhiên trong trường hợp này người chồng cũng lại phải bồi thường cho những đứa con.
Trường hợp vì bất hòa hay không ưng ý nữa, người chồng xin ly dị để đi lấy vợ khác, người đó phải trả lại cho nhà vợ những của cải giống như trường hợp bị xử ly dị và phải bồi thường cho những đứa con, ngoài ra người đàn ông lại mất hết của cải kiếm được trong thời kỳ hôn phối. c) Góa chồng - góa vợ Nếu người vợ chết trước, người đàn ông phải mang khăn gùi trở về nhà cha mẹ đẻ, để lại con cái cho họ hàng nhà vợ.
Người chồng chỉ ở lại nhà cha mẹ vợ khi được gia đình bên vợ kiếm cho một người vợ khác trong họ vợ, hay vì đã già nua không tiện trở về nhà cũ nữa. Theo tục lệ của người Rhadé, người đàn ông góa vợ vẫn còn trẻ tuổi bắt buộc phải lấy em gái hoặc chị em họ của người đã chết, nhất là nếu người đó chưa có con. Người đàn ông góa vợ không có quyền đi lấy vợ lần nữa ở tôn tộc khác, trừ khi trong tôn tộc vợ không còn người em gái hay chị em họ nào nữa người đó mới có thể ra đi như đã nói trên. Trước khi lấy vợ khác, người đàn ông góa vợ phải qua một thời kỳ tang chế.
Với người đàn bà, phong tục ít ràng buộc hơn ; khi người chồng chẳng may chết trước, nếu họ đi lấy chồng khác họ vẫn có quyền giữ lại những đứa con chồng cũ. 4. Việc sinh nở Gần đến thời kỳ sinh nở, người sản phụ Rhadé được đặt nằm ở một góc nhà kín đáo nhất, mọi người thân thuộc trong gia đình đều có mặt để chào mừng đứa trẻ mới sinh. Mỗi làng
Trang sách 101ưn càn tụ ta tà hn cu tể n ki đứ b v lọt lòng, bà mụ ẩm ngay lấy và phải nói thật nhanh « Đây là con của tôi », trong lúc đó, ngoài cửa, hai người đàn ông ném hai cái chày một cái từ trên xuống dưới và một cái ngang trên sàn nhà hết sức mau lẹ. Sở dĩ có tục lệ đó là vì người Rhadé tin rằng từ khi người đàn bà trở dạ, các ác thần đã lảng vảng quanh nhà chực vào ám hại đứa trẻ. Do đó khi đứa trẻ vừa sinh ra, bà mụ phải nói câu trên thật nhanh, nếu nói chậm hung thần sẽ hớp hồn đứa bé đi, và hai người đàn ông ném chày ngoài cửa là để xuđ đuồi ác thần đi nơi khác, nếu họ làm chậm các vị thần đó sẽ vào nhà cướp đứa con mới sinh, về sau đứa trẻ sẽ không. sống được lâu ,hoặc có sống được cũng đến ngơ ngơ ngần ngần hay chết bờ chết bụi thôi. Nếu việc sinh nở được êm đẹp, ngày hôm sau gia đình sản phụ chọn một hũ rượu ngon, làm thịt một con gà đen để ăn mừng và đãi bà mụ.
Nếu sinh con trai, họ sắm cho nó những đồ chơi thẹo kiêu võ khí đánh trận hay đi săn như cung, tên nỏ, ống đựng tên, dao, khiên...
Nếu sinh con gái, đồ chơi của nó là khung cửi và các dụng cụ dệt vải. Khi đặt tên, họ cho đứa nhỏ liếm một hạt sương trên . ẽc lá và một trái cà nhỏ hoặc cho nếm một giọt rượu cần, rồi đọc một lô tên : khi đứa bé làm một cử chỉ gì đó tức là nó đã chọn tên đó.
Người Rhadé lại tin ở sự nhập hồn của người chết, nếu lúc đứa trẻ sinh ra, trong làng vừa có người chết thì hồn người chết sẽ nhập vào đứa bé làm cho nó khóc thét lên và nó chỉ chịu nín khi đem trao cho một thân nhân người chết bế. Họ cho rằng những đứa trẻ sinh trong trường hợp này sẽ có những nét giống người đã chết đó và được gọi là « Yun ».
Vì theo chế độ mẫu hệ nên người Rhadé rất quý con gái, mọi người đều phấp phỏng trông chờ để xem đứa trẻ là trai hay gái, nếu người đàn bà sinh được con gái cả nhà cũng như
Trang sách 102xóm làng đều vui mừng chúc tụng. Đứa bé được đặt tên theo họ mẹ. 5. Việc ma chay (1) Mỗi khi trong nhà vừa có người trút linh hồn, tang chủ gióng lên một một hồi chiêng trống dài báo tử, tiếng chiêng trống âm vang theo một điệu ma quái rền rền, ảm đạm. Nghe tiếng chiêng trống cả làng sẽ lục tục đến chia buồn và giúp tang gia lo việc ma chay, tống táng. Người chết được đem ra rửa ráy cần thận, được mặc quần áo thật đẹp dùng trong ngày lễ và đeo đồ trang sức thật quý giá.
Sau đó người ta buộc hàm, tay chân người chết lại bằng những sợi bông và đặt bên cạnh người chết một bát cơm, vài miếng thịt và ít rượu cần.
Người Rhadé không có lệ làm sẵn những cỗ áo quan. Trong lúc sửa soạn liệm xác, vài người trai tráng trong làng giúp gia chủ vào rừng kiếm cây về đẽo làm hòm.
Những nhà khá giả người chết thường được chôn bằng hai lớp áo quan, cái bên trong được làm gấp gáp đơn sơ để đựng xác trước khi rữa nát, năm bảy ngày sau người ta mới làm xong . cổ áo quan bên ngoài. Thường thường tang lễ của gia đình giàu kéo dài đến 15 ngày, nhà nghèo cũng phải năm bảy hôm.
Đến lúc chôn, người ta đưa quan tài ra nghĩa địa, ở đây dân làng đã đào sẵn một huyệt, quan tài đặt xuống huyệt (I) Tài liệu láy ở :
— La mort et la tombe của Dr B.Y JOUIN do Université de Paris xuăt bản năm 1959.
- Phong tục, tập quán đồng Bào Thượng do Nha công tác xã hội miền Thượng P.T.T ăn hành năm 1959.
Trang sách 103lấp đất lại thành một nấm rất cao và to, chung quanh mồ được trang hoàng những tượng tạc bằng gỗ đơn sơ hình trâu bò chim chóc, trước mồ người ta đặt những phần của cải chia cho người chết như : chum, ghè, bát đĩa, thanh la...
Ở một vài làng miền Sơn biên Darlac, sau khi chôn người chết được vài tháng, trong nhà có người ốm họ sẽ mời thầy cúng đến xem quẻ, nếu ông này nói rằng mả bị động vì thần đất không bằng lòng cho người chết tá túc trong địa phận đó thì gia chủ phải quật mồ người chết lên, đem xác quăng vào rừng mặc cho chim chóc, thú rừng đến rúc rỉa, cắn xé.
Theo tục lệ của những sắc tộc mẫu hệ, nếu cha mẹ mất, người con gái được thừa hưởng và quản trị tài sản của người chết để lại.
Thường thường, khi người chị cả đã lấy chồng, không còn phụng dưỡng cha mẹ bằng những người em gái chưa chồng, cho nên những cô em này được hưởng phần gia tài nhiều hơn người chị cả.
Tuy nhiên, cũng như người anh cả của chế độ phụ quyền, cả trong gia đình mẫu hệ vẫn là người có thầm người chị quyền kế tự và thừa hưởng gia tài của bố mẹ.
Người con trai trong chế độ mẫu hệ bị bạc đãi còn hơn thân phận của người con gái của chế độ phụ quyền, họ không được hưởng một chút tài sản nào của cha mẹ để lại cả. Khi đi lấy vợ, nếu họ hàng, chị em nghĩ thương tình thì giúp cho chút đỉnh gọi là làm của : hồi môn » hay chỉ cho mượn rồi sau phải trả lại.
Khi người cha trong gia đình chết, phong tục ấn định tài sản phải phân chia thành 3 phần :
- I phần cho người đàn bà góa
Trang sách 104- I phần cho các con - I phần cho bố mẹ đẻ của người chết, gọi là để bồi thường cho gia đình này đã chung chịu phí tổn trong những ngày tang lễ.
Người Rhadé cũng như người ở nhiều sắc tộc khác, rất có tình đoàn kết sắc tộc, một người chết cả làng đều ngồi bên mồ khóc lóc kể lể đến 2 hay 3 ngày, mọi công việc trong làng đều được ngưng lại cho đến khi chôn cất xong xuôi.
Sau một năm, khi đã tuốt lúa xong, người Rhadé làm lễ bỏ mồ, thân nhân người chết lại ra viếng mồ, khóc lóc một lần cuối rồi từ đấy bỏ hẳn. Hình ảnh người xưa chìm dần trong quên lãng của mọi người (xem phần tài liệu đọc thêm : những ngày lễ Tết của người Djarai và Rhadé).
IV.- Đời Sống tinh thần 1 - Tín ngưỡng vả dị đoan Khi người Pháp chưa đặt chân lên Cao Nguyên miền Nam, người Rhadé cũng như tất cả các dân tộc sơ khai khác không có một tôn giáo nào cả. Tín ngưỡng của họ không phải là một tôn giáo và chỉ là kết quả của những sợ hãi, băn khoăn trước những hiện tượng mà tâm hồn đơn sơ của họ không thể nào giải thích nồi. Sống giữa cảnh thiên nhiên bát ngát, cái gì cũng cao cả bí ần, người sơn cước tự nhiên cảm thấy bé nhỏ, yếu đuối. Nhìn vào những cảnh vật xung quanh, tất cả đều lầm lì khó hiểu, lại có vẻ đe dọa, ở đâu họ cũng thấy lảng vảng bóng dáng của thần linh, ma quỉ, do đó họ sợ, họ tin tất cả: Sợ sấm sét, sợ núi rừng, sợ con sông lạch nước, sợ cây cổ thụ cằn cỗi cho đến tảng đá rêu phong sừng sững ở ven rừng.
Họ tin rằng tất cả những vật đó đều có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ. Để được yên phận làm ăn, và
Trang sách 105để các • Ngài • đó hài lòng giúp đỡ, hợ phải lo « cúng lót, cho thần linh mong các Ngài ban ơn. Do đó hàng năm người Rhadé thường tô chức nhiều cuộc tế lễ, giết trậu, bò, dê, lợn để tế thần linh, cầu xin ban cho sự bình an và giàu có.
Một khi se mình trở bệnh, họ lại cho rằng một vị thần linh nào đó đang quấy rối hay giận dữ hành hạ họ. Họ không mời thầy chạy thuốc lại lo rước phù thủy đến cúng kính và đoán bệnh. Thầy phù thủy sờ vào chỗ đau và nhìn lên ngọn lửa trong cây đèn gần đó để báo cho gia chủ phải giết những loại thú vật nào để cúng thần linh hay ma quỉ. Tùy theo bệnh nặng hay nhẹ gia chủ phải giết trâu bò hay gà lợn.
Ngoài ra, người Rhadé còn tin không biết bao nhiêu thứ, cữ kiêng không biết bao nhiêu điều phức tạp.
« Khi sửa soạn đi đâu, nếu trong bọn có một người hắt hơi họ tin là một điều xấu, phải hoãn cuộc hành trình ».
Tất cả mọi người xúm lại ngăn cản không cho người đó đi, nếu người ấy vẫn khăng khăng không chịu nghe lời thì họ lấy làm áy náy, thương hại vì tin rằng người kia thế nào cũng gặp tai nạn. Nhưng nếu là một cuộc đi săn, hắt hơi lại là một điềm lành, ngày hộm đó thế nào cũng săn được nhiều thú.
« Trong buổi lễ cưới, mọi người quây quần uống rượu cần, nếu rượu trong vò dành riêng cho đôi tân hộn mà chua, chắc chắn đời sống mai sau của hai người sẽ lủng củng : người vợ sẽ sinh lắm đều và người chồng sẽ dễ nóng giận, gia đạo sẽ lục đục không yên».
Khi trong làng có người mắc bệnh truyền nhiễm, có khi họ dời làng đi chỗ khác trong vòng vài hôm. Trước khi đó, họ cúng tế thần linh. « Trong khi dời làng, họ để lại rải rảc trên đường những dấu hiệu như : treo lủng lẳng những vòng mây trên cành cây chĩa ngang đường, có khi họ cắm những cành cậy
Trang sách 106cao chừng một thước, trền ngọn treo một túi đựng nằm gạo, cũng có nơi họ chỉ quảng những cành gai trên đường đi ».
Một người khách đến làng gặp những ngày kiêng cữ thì phải dừng lại ở công làng kêu người trong làng ra, thường chủ làng hay phó chủ làng sẽ đến trình bày với khách lý do kiêng cữ, khách chỉ được đứng lại đó nói chuyện qua loa rồi ra về chứ không được vào làng. Nếu khách đã vào làng trước khi kiêng cử hay lỡ vào rồi sẽ bị giữ lại cho đến khi hết cữ mới được ra khỏi làng.
Đến nhà nào mà thấy có cắm một hay nhiều cành cây trên một giá hình chữ thập bằng tre khách chở nên vào vì trong nhà đang cúng cho bệnh nhân.
Người Rhadé lại giải thích các giấc mộng theo nhiều hình thức. Họ tin rằng những điều xảy ra trong giấc mộng là điềm báo trước sự lành hay dữ cho người nằm mơ. • . -ng giấc ngủ, nếu họ mơ thấy ai cho một con heo hoặc trâu, họ tin rằng hạu. , lúc sắp đến với họ trong mấy ngày gần đây.
« Nếu mơ thấy đi câu mà được những con cá có vảy trắng là điềm tốt, thế nào cũng có tài lợi. Nếu cá không có vảy là điểm gở, sẽ mang lại sự chết chóc tai nạn cho họ hay gia đình họ. Trong giấc mơ, thấy mình câu được cá trê, sẽ bị bệnh tật, nếu mơ thấy hút thuốc, sẽ bị cảm, mơ thấy hái ớt là điềm đại bất hạnh, mơ thấy hái hay ăn cà: có kẻ đang nói xấu trong khi mình vắng mặt, mơ thấy chó hoặc khi : sẽ có tai tiếng xấu hồ; nếu con vật trong giấc mơ là ngựa, họ sẽ chán nản vì tin rằng có cố gắng cũng không ích gì, họ phải thất bại trong công việc ».
« Người đàn bà thai nghén thấy được người khác cho mình trai. Nếu tặng vật dao hay cung tên, chắc chắn phải sinh con lại là con dao hay thanh gươm, đứa trẻ sẽ là anh dũng, gan dạ.
Mơ thấy được tặng một cái gùi, họ sẽ sinh con gái, nếu lại
Trang sách 107thêm những đồ trang sức quý giá, đứa con gái sinh ra hẳn phải là sinh đẹp.
« Người Rhadé tin là sẽ bị hồ vồ nếu nằm mơ thấy chó cắn.
Mơ thấy gà sống lông đỏ hay con công, họ yên trí thế nào cũng bị tai nạn đồ máu có khi phải chết. Nếu mơ thấy chiếc chăn hay miếng vải đỏ họ cũng tin là sẽ có chết chóc hay bị thương nặng.
« Người chiến binh Rhadé sẽ gan dạ liều lĩnh khi họ nằm mơ thấy điềm lành, trái lại, họ cũng dề trở thành yếu đuối, nhút nhát nếu ban đêm họ đã mơ thấy những điều xấu ». (1) 2. Lễ tốt Cũng gần giống như người Diarai, người Rhadé không có ngày lễ Tết riêng biệt và nhất định như người Việt Nam. Sau mỗi vụ mùa, thường là đầu tháng giêng dương lịch, người Rhadé sẽ làm lễ mừng lúa. Lễ sẽ được tồ chức tưng bừng nếu năm đó lúa được mùa. Họ cũng ủ những vò rượu ngon, giết gia súc ăn uống, nhảy múa vui mừng bên đống lửa. Gia đình nào có thân nhân chết đã lâu, họ lại kéo nhau ra nhà mồ khóc lóc cầu xin linh hồn người chết hãy đi ở nơi khác để cho họ bỏ mồ. Liền đó, họ tồ chức lễ bỏ mồ trọng thể, tưng bừng với rượu cần, với thịt, với ánh lửa bập bùng với những bài ca tiếng nhạc cồ truyền khua động cảnh núi rừng vốn xưa nay trằm mặc.
V. Đời sống kinh tế Cũng như các sắc tộc Thượng khác, đồng bào Rhadé sinh sống bằng nghề làm rẫy ; sau vài năm trồng trọt trên rấy đó, người Rhadé phải đốt rừng làm rẫy khác và phải mất năm, sáu chục năm rẫy cũ mới có thể trồng trọt lại được.. (I) Tài liệu lấy ở « phong tục tập quán Đồng bào Thượng ".
Trang sách 108Khi mùa mưa mới bắt đấu, người Rhadé trồng ngô, khoai, bầu, bí, cà, dưa. Sau đó họ mới trồng lúa. Đến mùa giáp hạt họ phải vào rừng kiếm củ mài, củ măng để ăn thêm cho qua • ngày.
Người Rhadé cũng biết đánh cá, săn thú nhưng kết quả không được nhiều. Họ cũng nuôi súc vật nhưng chỉ dùng để cúng tế, ngày nay họ bắt đầu nuôi nhiều hơn để bán ra ngoài ;
đặc biệt là người Rhadé còn nuôi voi ; những làng ở vùng Bandon, dọc sông Srépok thường đị săn vọi, bắt về nhà nuôi và mang bán dần đi. Voi được dùng trong các việc chuyên chở.
Người Rhadé rất quí voi và coi nó như một người trong gia đình. Voi được đặt tên, được tham dự những buổi cúng tế, đám cưới, đám ma, lễ tết. Nhờ ở điểm sống lâu, trí nhớ đặc biệt, sống mật thiết với gia đình người nuôi trải qua bao nhiêu thế sự thăng trầm, voi nhà càng ngày càng khôn ngoan và người Thượng coi như thần linh đã nhập vào nó để chứng kiến những sự vui buồn của họ.
VI. Kết luận Ngày nay người Rhadé là một sắc tộc có đời sống tiến bộ hơn các sắc tộc Thượng khác ở Cao Nguyên miền Nam. Bản tính thông minh, nhanh nhẹn thích ứng dễ dàng với đời sống mới, cư trú ở một vùng giao thông di chuyển dễ dàng và đã nhiều lần được chọn làm thủ phủ miền Cao Nguyên, được các giáo sĩ công giáo và mục sư Tin Lành hết sức dạy bảo, đồng bào Rhadé có đầy đủ cơ hội tiến mạnh để thoát khỏi tình trạng chậm tiến.
Nhưng công cuộc tiến bộ nào cũng cần có thời gian và ước mong các thế hệ trẻ Rhadé nên cố gắng học tập cái hay, xa lánh cái đở vì học cái hay thì khó, học cái dở thì nhanh và nhất là lại có những kẻ súi dục nếu thế hệ Rhadé ngày nay không biết tự chế thì sẽ đưa cả sắc tộc mình xuống...vực thẳm.