LÃM ĐỒNGPhần 18 · trang 263–278
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 263LÃM ĐỒNG Tỉnh Lâm Đồng là tỉnh đầu tiên từ miền Nam đi lên liền ngay với tỉnh Long Khánh trên đường Saigon - Đà Lạt. Tỉnh ly đặt tại Bảo Lộc.
Lẩm Đòng xưa kia là một vùng rừng núi rậm rạp đầy sơn lam chướng khí, đầm lày nước đọng, không ai lai vãng tới.
Khi người Phù Nam bắt đầu chiếm ngự vùng đồng bằng sông Cửu Long thì thổ dân vùng đó rút về vùng Lâm Đồng lập nghiệp và thành lập tiều quốc MẠ. Người Mạ hồi đó nổi tiếng khéo tay, biết giồng cây bông và dệt vài. Tiểu quốc này tồn tại đến thế kỷ thứ 17 và khi Chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm được Chân Lạp, đề cử Nguyễn Bửu Kinh làm Kinh lược thì tiều quốc người Mạ trở về với dân tộc Việt.
Đến năm 1899, một phái đoàn người Pháp đặt dưới quyền Ong Ernest Outrey mở một cuộc khảo sát ở vùng Lâm Đồng và nghiên cứu mở một con đường nối liền vùng này với vùng Bình Thuận.
Cũng năm 1899 vùng Lâm Đồng được tạo thành một tinh lấy tên là « Haut Donnai » (Đồng Nai Thượng) vì vùng này nàm ở Thượng lưu sông Đồng Nai. Và Ông Ernest Outrey được bổ nhiệm làm Công sứ. Tỉnh ly đặt tại Djiring.
Chính quyền Pháp hồi bấy giờ dự trù thiết lịp đường hỏa xa Saigon -- Phú Yên đi qua tỉnh này nhưng dự tính không được hoàn thành thì đến năm 1903, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ và đất đai sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.
Đến năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái thiết lập với ba quận : Djiring, sau này gọi là Di Linh, Blao, sau này gọi
Trang sách 264là Bảo Lộc và Dran-Fyan, sau này gọi là Đơn Dương. Tỉnh ly vẫn đặt tại Di Linh.
Năm 1958, trong một cuộc cải cách các đơn vị Hành chánh, quận Đơn Dương tách rời khỏi tỉnh nầy để nhập vào tỉnh Tuyên Đức. Cũng từ năm đó, tên tỉnh cũng đổi là tỉnh Lâm Đồng, và tỉnh ly cũng chuyển từ Di Linh về Bảo Lộc (Blao).
Danh từ Lâm Đồng có nghĩa như sau :
Lâm là ở trên nhìn xuống Đồng là tên con sông Đồng Nai chảy qua tỉnh Lâm Đồng là một vùng Cao nguyên bao quanh những đồi núi trùng điệp có con sông Đồng Nai chảy quanh co uốn khúc.
Vị trí Tỉnh Lâm Đồng ở phía Nam miền Thượng Cao Nguyên, trên Thượng lưu sông Đồng Nai, trên cao độ 90 thước, Tỉnh 1y cách Di Linh 49 cây số, Đà Lạt 131 cây số và Saigọn 108 cây số.
Với diện tích 4.73° cây số vuông, Lâm Đồng là tỉnh nối liền vùng Cao Nguyên với miền Trung nước Việt và giáp giới :
Phía Bắc : các tỉnh Quảng Đức và Tuyên Đức Phía Nam : các tỉnh Bình Tuy và Bình Thuận Phía Tây : các tỉnh Long Khánh và Phước Long Phía Đông : các tỉnh Bình Thuận và Tuyên Đức.
Địa thế Lâm Đồng có nhiều núi cao bao bọc, đáng kể hơn hết là các ngọn Brain cao 1.864 thước, ngọn núi Pantar 1.654 thước ở phía Nam Di Linh, ngọn Boun Trao cao 1.465 thước ở phía
Trang sách 265Bắc thị xã Bảo Lộc và ngọn B' Nom M' Hai cao 1.642 ở phía Nam thị xã.
Ngoài ra còn nhiều đồi núi nhỏ, nối liền nhau nằm rải rác trong toàn tỉnh với rừng rậm bao phủ.
Về phương diện địa chất Lâm Đồng là một vùng đất đỏ có pha cát, ít đá, thích hợp cho việc khai khăn trồng trọt.
Sông ngòi Hai con sông chính chảy qua Lâm Đồng là sông Đòng Nai và sông La Ngà.
Sông Đồng Nai phát nguyên từ dãy núi Lang Bian ở cao độ 2.615 thước, chảy xuống vùng Đơn Dương, tạo nên sông Dabla, rồi chảy đến Đại Ninh thành sông Danhi. Chảy suốt qua hạt Đại Ninh thì gặp sông Đa Dung. Sông chảy qua hết tỉnh Lâm Đồng thì gặp sông La Ngà ở Thanh Sơn cách Định Quán I0 cảy só về phia Đông.
Sông La Ngà phát nguyên từ núi Boun Trao 30 cây số Bắc Bảo Lộc chảy xuống phía Nam, cách quốc lộ 20 khoảng Io cây số về tây Bảo Lợc, gặp ranh giới tỉnh Bình Thuận thì chảy về phía Đông qua vùng đất tỉnh Bình Tuy ở Võ Đất, rồi chảy ngược lên quốc lộ o ở Định Quán, họp với sông Da Dung để làm thành sông Đồng Nai.
Khí hậu Tỉnh Lâm Đồng cao hơn Saigon goo thước và thấp hơn Đã Lạt coo thước, đo đó khí hậu không giống hai nơi nấy. Quanh nấm trời tát mẻ, không quá lạnh cũng không quá nóng, nhiệt độ trung bình từ 22 độ đến 29 độ. Lâm Đông có hai mùa riêng biệt :
Trang sách 266- Mùa năng từ tháng mười đến tháng Tư dương lịch, nhiệt độ thay đỏi từ 16 độ đến 29 độ.
- Mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Chín dương lịch, nhiệt độ thay đổi từ 16 độ đến 20 độ.
Có thể nói được rằng, Lâm Đồng quanh năm mưa thuận gió hòa, thỉnh thoảng cũng có những trận mưa khá lớn, nước lũ đổ về nhiều và cũng có khi có nhiều ngày năng liên tiếp, nắng nhưng không quá nóng.
Dân cư Dân chúng Lâm Đồng gồm người Kinh (37-764 người), người Thượng (27.747), một số Pháp kiều ước lượng 50 người và vài ba người Tàu, Mỹ và Gia Nã Đại.
Riêng đồng bào Thượng thuộc hai sắc dân Koho và Roglai được phân chia như sau :
I.- Koho gồm :
Mạa Sré Nop 2.- Roglai Giao thông Quốc lộ Quốc lộ 20 nối liền Saigon - Đà Lạt dài 300 cây số chạy qua tỉnh Lâm Đồng vào khoảng x1I cây số và phải vượt qua hai đèo :
đèo Blao (Bảo Lộc) và đèo Ông Cố.
Trang sách 267Liên tỉnh lộ Liên tỉnh lộ số 8 nối liền Di Linh - Phan Thiết dài 97 cây số 300 chạy trong địa phận Lâm Đồng vào khoảng 55 cây số.
Đường đi khó khăn, nhiều đá chưa tráng nhựa, lại phải vượt qua nhiều đèo : Da-Troun, Yankar, Haloua, Bouknel.
Liên tỉnh lộ số 8 kéo dài 4 7 cây số nối liền Di Linh với Thị xã Gia Nghĩa (97 cây số) và Gia Nghĩa với Đức Lập (50 cây số), phải qua phà Kinh Đức, ranh giới giữa hai tỉnh Lâm- Đồng và Quảng Đức.
Hương lộ Đa số hương lộ đi từ tỉnh ly, quận ly tới các tổng, các xã, là những con đường mòn, về mùa mưa bùn lầy đất đỏ nên khó di chuyển. Ngoài ra còn một số đường ở trong các đồn điền giúp đỡ cho sự di chuyền quanh vùng rất dễ dàng.
Tổ chức hành chánh Về phương diện hành chánh, tỉnh Lâm Đồng có hai quận mỗi quận đặt dưới quyền một vị Quận Trưởng, Hai quận đó là :
Quận Di Linh trụ sở đặt tại xã Di Linh, gồm 4 tổng, 11 xã, 52 ấp với dân số 22.808 người.
Quận Bảo Lộc trụ sở đặt tại xã Thiện Lạc, gồm 3 tổng, 13 xã, 43 ấp với dân số 42.753 người.
Tông cộng 2 quận, 7 tổng 24 xã, 95 ấp và 65.561 người.
Đứng dầu tỉnh ngày nay là một vị Tỉnh Trưởng có 2 Phó Tỉnh Trưởng phụ tá về hành chánh, và Thượng vụ. Lại có một số các Ty, Sở chuyên môn giúp việc. 53I
Trang sách 268Phong tục Người Việt Nam ở Lâm Đòng sống theo nếp sống chung của mọi người Việt.
Về tôn giáo đồng bào Thượng tin theo Thần linh, còn người Kinh là tín đồ của bốn tôn giáo sau đây :
Đạo Gia Tô, 35% dân số. Phần lớn đây là những người ở Bắc Việt, được các Linh mục đưa di cư vào miền Nam sau Hiệp định Genève.
Đạo Phật, 30% dân số. Hiện ở Lâm Đồng có bốn ngôi chùa Đạo Tin lành 5% dân số, đa số là đồng bào Thượng. Hiện ở Lâm Đồng có hai nhà giảng.
Đạo Cao Đài, 5% dân số. Hiện ở Lâm Đồng có hai Thánh thất.
Còn lại 25% là các đồng bào Thượng và một số người Kinh không theo đạo nào, chỉ thờ cúng tổ tiên và Thần linh.
Về các phong tục của đồng bào người Thượng, chúng tôi đã trình bầy rõ ở Chương thứ II, chương nói về đồng bào Koho và đồng bào Roglai.
Kinh tế Lâm Đồng tuy ở Cao Nguyên, nhưng nhờ các lâm sản và ở ngay trên quốc lộ số 20, nên có một něn kinh tế cũng khả quan.
Canh nông Lâm Đông có hai thứ lúa : lúa núi và lúa gieo, thứ sau này cày cẩy như ở miền xuôi, có một diện tích ước lượng vào khoảng 2.200 mầu tây.
Hàng nắm cà hai thứ lúa được siu xuất vào khoảng 7.650 • tấn, tuy mỗi năm chỉ có một mùa, gieo lạt vào tháng 5 dương lịch và gặt vào tháng mười một.
Trang sách 269Ngoài lúa ra. L'm Đồng còn có các hoa mầu khác ; đáng kể nhất là trà và cà phê (1). Số sản xuất hàng năm của hai hoa màu này là :
Trà khô Cà phê, gạo : 480 tăn Các hoa mầu khác là khoai lang, khoai mì, bắp, cacao, sơn ta, dâu nuôi tắm và trái cây như sầu riêng, bơ, mí, cam, quít, bưởi, chuối, đu đủ. Đu đủ Lâm đồng nổi tiếng là ngon ngọt, bo (avocatier) giống đầu tiên ở Việt Nam tại Dilinh, và đặc biệt là sầu riêng tríi mùa. Khi mùa sầu riêng tại miền Nam đã dứt thì sầu riêng Lâm Đồng bắt đầu ra trái và nhiều dân nghiền đã không quản dường xa, đèo dốc lên tận nơi đặt mua.
Đồn điền Tông số đồn điền lớn nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng là 409 cái với diện tích 19.138 mẫu tây phân chia như sau : 208 đồn điền thực trưng và tạm trưng rộng 12.018 ha 200 đồn điền đốt gốc mua của đồng bào Thượng rộng 6.120 ha.
Đa số các đồn điền này trồng trà và cũng là nơi trồng trà nhiều nhất tại Việt Nam.
Lâm sản Ba phần tư diện tích tỉnh Lâm Đồng là núi, đồi và rừng.
Tổng số rừng chưa được khai phá chia ra như sau : 19.440 mẫu - Rừng cắm : 416.000 mẫu - Rừng bảo vệ (1) Chi tiết xin xem ở phần su : Trung tâm thực nghiệm nông sản : Việc dùng trà và sản xuất trà tại VN.
Trang sách 270Hàng năm rừng Lầm Đồng cung cấp:
- Gỗ thông - Gồ dầu - Gỗ sao - Gỗ cầm lai : I5 m3 - Gỗ bạch tùng - Củi : I.650 Xi te - Tro : 7.850 Xi te - Nhựa thông : 562 tần - Dầu thông : i.oo lt Mục súc Với những đồi cỏ tươi tốt bốn mùa, và một khí hậu ôn hòa nên việc chăn nuôi gia súc ở tỉnh này rất có kết quả. Trong mẫy năm gằn đây, Ty Mục Súc Lâm Đồng đã giúp đỡ và khuyến khích dân chúng việc chăn nuôi. Hiện trong tỉnh có rải rác nuôi vào khoảng 1.200 bò, 4.500 trâu và 14.500 lợn.
Khoáng sản Cho tới nay chưa mỏ nào được khai thác ở Lâm Đồng, mặc dù theo dư luận dân chúng địa phương, Lâm Đồng có thế • có được các mỏ: .Mi vàng ở vùng hala - Mỏ đá đen ở vùng Gia Bắc Mỏ than đá ở ấp Lam Sơn, xã Thiện Lạc, quận Bảo Lộc.
Thương mại Lâm đồng có 6 ngôi chợ, trong đó có ba chợ lớn là : Chợ Bảo Lộc, chợ Dilinh, chợ Tân Bùi. Những chợ này họp hàng ngày, và bán đủ các mặt hàng, nhất là những thổ sản trong tỉnh. Đồng bào Thượng cũng tới các chợ này mua bán.
Trang sách 271Sản phẩm trong tình bán ra là trà, cà phê, gạo, thuốc lá và rau cỏ, đáng kể trong rau cỏ là su su mỗi năm nơi đây sản xuất 10,000 tấn và khoai lang mỗi năm 1.000 tấn, lại còn các trái cây như mít, ổi, dưa.
Gỗ cũng là một món hàng bán ra của tỉnh, mỗi năm 10.000 thước khối, thêm vào đó 50 tấn nhựa thông.
Lâm Đồng mua vào tơ lụa, vải, dược phầm, nước mắm, mắm, muối và các đồ chế hóa khác.
Kỳ nghệ Kỹ nghệ chính của Lâm Đồng là kỹ nghệ biến hóa trà.
Toàn tỉnh có 5 nhà máy lớn và 70 nhà máy nhỏ. Ở đây có xưởng nấu nhựa thông, có nhà máy nước đá và nhà máy cưa.
Theo tài liệu của Bộ Lao Động thì Ty Lao Động Lâm Đồng kiểm soát 147 xí nghiệp.
Xã hội Tuy ở "ao Nguyên, nhưng vấn đề xã hội của tỉnh cũng rất được chú ý.
Giáo dục Tỉnh có tất cả 5 trường Trung học, hai trường công lập ở Bảo Lộc và Dilinh, I trường Tư thục ở Tân Thanh, 2 tư thục ở Thiên Lạc. Tổng số học sinh cá 5 trường vào khoang 1.400 nam nữ.
Về Tiều học toàn tỉnh có 7 trường công lập trong số đó có hai trường Thượng. Tổng số học sinh vào khoảng 5oo em.
Ngoài ra còn 9 trường Tư thục với tổng sô nam nữ học sinh vào khoảng 7.600 em.
Về sơ cấp, có 5 trường Tư thục với tổng số nam nữ học sinh vào khoảng 650 em.
Trang sách 272Y tế Lâm Đồng có 2 bệnh viện ở Dilinh và Bảo Lộc.
Cứu tế xã hội Tỉnh có một ủy ban cứu tế, 5 vừa cô nhi vừa ký nhi viện, một viện dưỡng lão ở Tân Phát và đặc biệt nhất là trại cùi Dilinh.
Thắng cảnh cổ tích và lịch sử Lâm Đông là một tỉnh mới thành lập, không có nơi cổ tích nào đáng kế, tuy nhiên du khách có thể tới thăm các nơi sau đây :
Thác Bobla Ở cách Di linh 6 cây số, tại cây số 213 quốc lộ 20, đi vào khoảng 300 thước. Thác cao 30 thước, nước đồ xuống rất mạnh. Ở đây có một nhà máy thủy điện để cung cấp điện cho toàn tỉnh.
Đèo Da Truon Cách quận ly Di linh 15 cây số, về phía Nam, cao 1235 thước. Đứng trên đèo nhìn phong cảnh Lâm Đồng rất đẹp.
Đèo Yankar Cách quận ly Di linh 19 cây số về phía Nam, cao 1295 thước. Dưới chân đèo có rừng thông bao bọc. Khi trời quang đăng đứng trên đèo ta có thể nhìn thấy đồng bằng Phan Thiết và bế Đồng Nai.
Suối Đa Hòa Ở cây số 15 quốc lộ 20, suối to, nước trong xanh bốn mùa. Dọc theo suối có nhiều tang đá đẹp, có cây to bóng mát ; du khách trên đường Saigon Đà Lạt thường dừng lại nghỉ ngơi.
Trang sách 273Suối Tân Thanh Ở xã Tân Thanh quận Bảo Lộc, nước suối từ trên cao to thước đổ xuống. Dọc theo suối là những đổi chè xanh ngắt.
Thác bẩy tầng Ở Ấp Đại Lao, xã Châu Lạc, quận Bảo Lộc, nước trên thác đồ xuống, qua bảy tầng đá và bắn tung tóe ra như những mảnh sương mờ buổi sáng. Tiếng thác nghe rì rào như mưa sa.
Trung tâm thực nghiệm nông sản Bảo Lộc (1) Năm 1930, Nha khảo cứu Đông Dương cho các chuyên viên Canh nông đến Bảo Lộc để nghiên cứu đất đai và khả năng canh tác về cây kỹ nghệ. Một Trung tâm Thực nghiệm Nông học ra đời để đáp ứng nhu cầu khẩn thiết về những loại cây kỹ nghệ và nhất là để khai thác những tài nguyên khác về canh nông, do ông Tổng Thanh Tra Canh nông Yves Henry. Trung tâm đầu tiên đặt ở Trường Quốc gia Nông Lâm Mục, hiện thời Trung tâm này được thiết lập nghiên cứu ngành trồng trà, café, tiêu, cam, quít, quinquina v.v... là vì trong những điều kiện đất đai tương ứng như ở Bảo Lộc, người ta đã trồng được những loại cây tương tự này. Trung tâm ở trên một khoảng đất bằng phẳng và rộng, diện tích ước lượng 1.00o mẫu tây với địa thế rất thích hợp. Và khảo cứu đặc biệt về :
- Những race trà Shan và Assam, Manipur v.v...
- Sáu giống trà Shan, Trấn Ninh, Shan Pakha, Shan Ma- komen, Shan Hoàng su Phi, Shan Bắc Quang, Shan Bàm vé.
- Trà cành - Café Arabica, Chari, Robusta.
- Những giống cây ăn trái ngoại quốc - Sưu tầm cây rừng. (1) Trích Địa phương chi Lâm Đồng do Ty Thông Tin Lâm Đồng soạn.
Trang sách 274Song song với sự phát triển của Trung tâm, một Sở di dần được thiết lập năm 1940 (Ferme de Colonisation du Haut Donai) ,mà hiện nay là Trung tâm Thực nghiệm Nông sản Bảo Lộc có mục đích thí nghiệm để phộ biến những kỹ thuật tân tiến cho hai lớp nông dân cả Kinh lẫn Thượng. a) Trung tâm Thực Nghiệm Nông sản dành quyền tuyển mộ những người Bắc di cư vào Nàm và cho phục vụ tại Trung tâm. Sau đó để khuyến khích sự khuếch trương về công kỹ nghệ, Trung tâm mới cấp đất cho nhân công tuyển mộ với sự trợ giúp kỹ thuật trồng tỉa của chuyên viên Trung tâm. Ngoài ra sở dĩ dân này đặt dưới quyền điều khiên cửa ông TOIZA cho thiết lập những công ốc dành cho nhân viên, nhà bò, trồng 6 mẫu trà Shan Trấn Ninh, 6 mẫn café Arabi, vườn cam, quít, đồng cỏ, chuồng trại v.v... b) Ngoài ra Trung tâm đặc biệt chăm sóc đời sống cho 7 làng Thượng Tran Tourné, Podiam, B' Sou ngueur, Pirf, Dira kernonl, Tran Pirl và Tran Huar số dân này được cung cấp: hạt giống như café, cây ăn trái, hạt giống trà v.v...
Mãi đến tháng 3 năm 1945 Trung tâm Thực nghiệm Nông học (Trường Nông Lâm Súc bây giờ) bị bỏ phế trong những . năm chính trị không ôn định năm 1945 - 1946. , Mãi đến năm 1947 viện khảo cứu Nông học Đông dượng • cho thiết lập lại Trung tâm sau 2 năm bỏ phế. Bắt đầu từ năm này Sở di dân Đồng nai được gọi là Trung tâm Thực nghiệm Nông học số 2.
Khảo cứu về cây ăn trái Tỉnh Lâm Đồng tuy không hẳn là vùng trồng cây ăn trái, nhưng Lâm Đồng cũng có thể trồng được một vài loại cây ăn trái để đáp ứng được nhu cầu trong tỉnh: Do đó Trung tâm Bảo Lộc trong những năm qua cũng có du nhập các loại cây ăn trái • như các giống cam, quít ở ngoại quốc để thí nghiệm thủy thổ.
Trang sách 275I) Thí nghiệm thủy thổ các loại cam, quít hiện tại Trung tâm có những giống cam, quít như sau :
Cam ngoại quốc : Thonsons Navel, Golden Buckye, Venin, Vidigueirn, Valencia late, Pine apple, Bain tua, Cléopâtre, 4 saisons, Magnam Bonum, Malte sanguine, Alger Navel, Portugal sanguine, Sétubal, Blidalx, Jaffa.
Cam trong xứ : Laouan, Yaback, Đồng Nai Thượng, Cái Bè, Khánh Hòa, Darlac.
Quít ngoại quốc : Bouffarick, Clémentine, Auger, Corac, Satsuma, Sétubalanse, Carvalhais.
Quít trong xứ : Quít đường, quít Huế, Thanh hóa.
Đã nhiều năm thi nghiệm thủy thổ, Trung tâm nhận thấy về cam có các giõng như Baia, Golden-Backye, Thomsons Navel, về quít thì có quít Satsuma và Garvalhais. 2) Thí nghiệm thủy thổ cây LOQUAT (Eribotrya Japonica).
Cây Loquat mới du nhập vào Trung tâm khoảng 4, 5 năm nay. Tại Trung tâm năm nay cây Loquat mới bắt đầu ra hoa.
Cây này rất dễ trồng, nếu có kết quả tốt thì Trung tâm sẽ cho phồ biến sâu rộng.
Ngoài ra Trung tâm Bảo Lộc hiệng tang cho trồng các loại cây Hồng (Kaki) chôm chôm, Java để phổ biến cho nông dân sau này, đồng thời cũng là vườn gỗ tháp tại Lâm Đồng về các loại cây ăn trái có thể trồng được và có kết quả tốt.
Khảo cứu cây café Vào năm 1940, khi sở di dân biến thành Trung tâm Thực nghiệm Nông học số 2 thì cho khảo cứu lại ngành café trên một diện tích là 6 mẫu tây. Giống trồng café Arabica với khoảng cách 2m X 2m5 và trồng cây che mát như cây vông, cây muồng (Cassia Ciamen) một thời gian sau vì bị bệnh Hemi-
Trang sách 276in Vastatrix nên Trung tâm lại cho đốn tất cả các vườn café Arabica có bị bệnh và mãi đến năm 1954-1955 mới cho trồng lại các vườn café Chari và Robusta với cây che mát là cây keo nhỏ lá (Derris Microphilla). Vườn này có mục đích là lấy giống tốt đề cung cấp giống cho nông dân vùng Lâm Đồng, Banmè- • thuột. Đến năm 1958 Trung tâm cho du nhập loại café Arabica từ Bồ đào Nha có khả năng kháng bệnh Hemili Vastatrix và cho đem trồng 1ı tỉnh dòng giống Arabica để lấy giống cấp cho nông gia. Các tinh dòng của giống này tỏ ra rất kháng bệnh, kết quả là nông dân ở Xuân Lộc, Banmêthuột đến xin mua rất nhiều hoặc bằng hột hoặc bằng stumps trên vườn ương của Trung tâm.
Năm 1964, Trung tâm đã cho trồng tr tinh dòng của giống này để thí nghiệm, các tinh dòng sau đó sẽ cho chọn 1 hoặc 2 tinh dòng có triển vọng gây lại thành nhiều để thí nghiệm phân bón.
Khảo cứu về tiêu Ở Cao Nguyên ít nông dân nào chịu trồng tiêu vì rằng với khí hậu và cao độ của Bảo Lộc không thể trồng được.
Năm I9: 4 Trung tâm cho dụ nhập các giống ở ngoại quốc cũng như sưu tập các giống ở trong xứ để thí nghiệm thủy thổ các giống tiêu ở vùng Lâm Đồng. Kết quả rất khuyến khích tuy rằng cây tiêu không nấy nở mọc mạnh như ở vùng Long Khánh và Phước Tuy. Hiện Trung tâm có được ii giống gồm có : Belantoeng, Cambodge, Srée chea, Kep, Kamchay, Quảng trị, Trung phần, Tiên sơn, Sadeca, Đất đỏ và tiêu rừng.
Trung các năm qua Trung tâm đã khảo cứu. a) Thi nghiệm thủy thổ các dòng tiêu Với Ii giống kể trên, sau nhiều năm theo dõi Trung tâm nhận thấy giống Belantoeng (Madagascar) là tỏ rạ thích hợp và kể đến các giống tiêu Kamchay và Srée chea v.v...
Trang sách 277b) Thi nghiệm các loại choái sống Thường trồng tiêu thì phải dùng choái, choái có thể là choái sống hoặc choái chết. Ở Trung tâm chỉ dùng choái sống gồm có : Choái vông, bông bạc đầu, cóc rừng, lòng mức, cây keo nhỏ lá muông xiêm v.v... Nhưng kết quả sau nhiều năm theo dõi chỉ có vông có kết quả tốt nhờ những điểm thuận lợi như sau :
- Vông để trồng sống khá lâu.
- Vông ít ăn chất dầu mỡ của đất, ngược lại còn cung cấp chất mùn và hữu cơ sau khi vông được tỉa nhánh.
- Cây tiêu dể leo trên vông nhờ da xù xì và vông có tàn che điều hòa được ánh sáng. c) Thí nghiệm về năng xuất các giống tiêu.
Trung tâm đã cho thí nghiệm năng xuất 1ĩ giống tiêu ; kết quả sau nhiều năm theo đõi Trung tâm nhận thấy giống tiêu Belantoeng cho năng xuất cao nhất, kế đến là tiêu Tiên sơn, Kamchay.
Hiện nay công việc khảo cứu tiêu chỉ còn là sản xuất bậc I về tiêu giống Belantoeng để nhượng cho nông dân.
Khảo cứu về nuới ong Đây là một ngành chăn nuôi mới nhất trong tất cả các ngành chăn nuôi ở Việt Nam. Việc chăn nuôi này mới phát khởi từ năm 1964 và Trung tâm nhận thấy môi trường Bảo Lộc tỏ ra thích hợp với ngành nuôi ong.
Vào giữa năm 1964 Nha khảo cứu gửi cho Trung tâm 2 thùng ong Ý đại Lợi, tuy nhiên vì bệnh cho nên ong sa sút và chết mòn dần nên phải sáp nhập thành một thùng. Mãi sau này 54I
Trang sách 278nhờ khảo cứu nhiều tài liệu cũng nhờ trực tiếp học hỏi ở những phòng trường lớn có chuyên viên nuôi ong kinh nghiệm, Trung tâm mới phục hồi lại bầy ong. Hiện nay số thùng ong đã đạt được 6 thùng và trong tương lai sự phát triển về ngành này sẽ rộng lớn hơn để có thể cung cấp ong giống, sáp, mật cho thị trường bên ngoài. Phải nhận rằng ngành nuôi ong ở Việt Nam còn quá phôi thai, tổng cộng số thùng nuôi được ở miền Nam không quá 1.00o thùng so với các nước khác như Trung hoa Quốc gia, Nhật bản, Mỹ châu, Pháp thì sự khảo cứu, về ngành này đã vượt đến mức độ cao. Hiện mật ong rất có giá trị ở thị trường và là một nguồn lợi lớn lao cho những người khai thác về ngành này. Hơn nữa, với số diện tích rộng lớn về cây ăn trái, cây kỹ nghệ, nguồn phấn họa và mật ở bên ngoài còn rất nhiều và việc phát triển ngành nuôi ong tỏ ra thuận lợi. Ngoài ra, ong mật không những cung cấp mật và sáp mà còn giúp cho ngành canh nông được phát đạt là vì ai cũng biết rằng chúng ta có cây trái để ăn, mật phần lớn là nhờ ong mật trong khi đi lấy phấn hoa, vô tình đã đem phấn bồ nhị đực sang bồ nhị cái giúp cây dễ thụ tinh.
Hiện nay tất cả mọi hoạt động quốc gia đều hướng về xây dựng nông thôn đề kiến tạo một xã hội mới cho người dân.
Trung tâm Thực nghiệm Nông sản đã đóng một vai trò khiêm nhường trong hoạt động kinh tế của quốc gia. Hy vọng rằng trong tương lai gần đây Trung tâm Thực nghiệm có cơ hội phục hồi lại địa vị như xưa để có thể phục vụ tối đa cho nông dân, thành phần căn bản của đất nước.