NGƯỜI BAHNARPhần 4 · trang 28–55

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 28NGƯỜI BAHNAR (Bà-na) I. Giới thiệu I. Địa vực cư trú Sắc tộc Bahnar là một sắc dân quan trọng ở Cao Nguyên miền Nam, họ chiếm ngụ một vùng sơn cước khá rộng ở nam Komtum, Bắc Pleiku và phía tây tỉnh Bình Định.

Giòng Bahnar gồm nhiều sắc tộc nhỏ, ở những nơi như sau :

Bahnar Kontum ở trung tâm Kontum Bahnar Jolong ở đông bắc Kontum Bahnar Golar ở bắc Pleiku Bahnar Tosung ở đông Pleiku Bahnar Konkode ở xung quanh An-khê.

Bahnar Konkodeth Bahnar Alatanag Bahnar Alakong hay Alakone ở bắc An Khê ước lượng gần 1I.000 người Bahnar Tolotenil nam An Khê, 10.343 người.

Bahnar Bonom hay Bơnam ở đông An Khê ước lượng 7.800 người Bahnar Roh ở rải rác trong quận An Túc (tên cũ là An Khê) ước lượng 12.000 người,

Trang sách 29Bahnar Krem ở bắc Bình Định (quận Vinh Thanh và An Lão) ước lượng 8.500 người.

Bahnar Chàm ở nam Bình Định (quận Vân Cánh) ước lượng 5.000 người:

Bahnar But ở trong rừng rậm, ít khi liên lạc bên ngoài. 2. Dân sô Sắc dân Bahnar là một trong 4 sắc tộc thiểu số lớn nhất tại Cao nguyên miền Nam với dân số trên 100.ọ0o người, đông nhất là ở Bình Định và Kontum. 3. Gốc tích Về nguồn gốc chủng tộc thì các nhà nhân chủng học cho rằng người Bahnar thuộc giống Indonésien, tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer ; Môn-Khmer là danh từ các nhà nhân chủng học gọi chung ngôn ngữ của ngành Anstro Asiatique, như tiếng Bahnar, Sédang, Hré, Mnông, Stiêng, tiếng Mường ở Bắc Việt cũng thuộc nguồn gốc ngôn ngữ này.

Vì sống rải rác trong một địa vực rộng lớn nên tính tình, phong tục, tập quán của đồng bào Bahnar có thay đồi ít nhiều tùy theo phong thổ của từng địa phương cũng như việc tiếp xúc với người bên ngoài. Tuy nhiên những biến đồi đó không rõ rệt và quan trọng.

Về tiếng nói, người các sắc tộc Bahnar cùng nói một thứ tiếng tuy nhiên tiếng nói cũng có thay đổi ít nhiều tùy theo địa phương. Ngày nay tiếng Bahnar Kontum được thông dụng hơn cả. 4. Nhân dạng và tính tình Người Bahnar cao trung bình độ Ith55, da ngăm ngăm đen, tóc để dài tới cổ (trừ những người sống gần người Kinh thì tóc cắt ngắn hơn). Đặc điểm của người đàn ông Bahnar là trên

Trang sách 30ngực có nhiều sẹo chằng chịt, những vết này do chính đương sự tự rạch lên ngực hoặc lấy than hồng dí vào trong những buồi tang lễ để chứng tỏ sự thương mến của mình với người đã chết.

Ngày nay đa số người Bahnar vẫn còn duy trì bản tính cố iền lành và hiếu khách. Họ hữu của họ: mộc mạc, chất phác, coi người Kinh là anh em và thường đối đãi thân thiết. Tuy nhiên, lúc đến một làng Bahnar cũng như các làng của sắc tộc Thượng khác, khách lạ phải tránh đụng chạm nhau đến phong tục, kiêng cữ của họ. Muốn vào thăm một nhà nào phải được chủ nhân ưng thuận mời vào, kỵ nhất là không nên xông thẳng vào nơi bếp núc (một số người Bahnar thờ thần ở bếp). Nếu khách không biết hay cố tình vi phạm những kiêng cữ của họ, người Bahnar sẽ có phản ứng bất lợi cho khách.

Người Bahnar không phải là một sắc tộc hiếu chiến, mặc dàu ngày trước họ đã mãnh liệt chống lại người Sédang ở phía Bắc và người Djarai ở phía Nam vì những người này thường hay tấn công bắt người làm nô lệ và cướp của cải của họ. Nhưng khi trở lại cuộc sống bình thường họ vẫn là những người vô tư, an phận và thật thà đáng mến, ngoại trừ một vài sắc tộc nhỏ ở quanh vùng An Khê vẫn nồi tiếng là hung dữ.

II. Nếp sống cá nhân 1. Quần áo Người Bahnar ăn mặc rất giản dị, đàn ông thường ở trần hay mặc áo cánh tay cụt, cổ xẻ để hở ngực, đóng khố dài và rộng. Đàn bà mặc áo cộc tay, ngực kín, dưới mặc váy đài.

Ngoài ra người đàn bà Bahnar thường có một khúc vải quấn quanh lưng dùng để cõng con nhỏ mỗi lúc đi rẫy hay về phố chợ.

Trang sách 31Ở những nơi xa tỉnh ly và quận ly, đàn ông chỉ mang khố, đàn bà quẫn yêng (xiêm), còn mình thì để trần.

Vải của người Bahnar dệt bằng sợi bông, màu đen chàm và trắng, những kẻ viền màu đỏ gạch, lối trang trí mộc mạc đơn sơ.

Đàn ông cũng như đàn bà đều thích đeo những vòng bằng bạc, bằng đồng hay những chuỗi hạt cườm. Những người theo đạo Thiên Chúa đeo Thánh giá ở ngực.

Ngày nay quần áo của người Bahnar đều giống như người Kinh hay là lai của người Kinh. 2. Ăn uống Lúc ăn uống đồng bào Bahnar thích ăn bốc, không dùng đũa. Một ngày họ chỉ ăn hai bữa cơm : một bữa vào khoảng 8,9 giờ sáng trước khi đi về chợ hay vào rẫy, một bữa vào lõi tối mịt trước khi đi ngủ. Họ thường nấu cơm buổi sáng để dành ăn cả ngày. Cơm hay thức ăn nấu trong những cái nồi đất hình như một cái bình cao, miệng loa ra không có nắp đậy, không có quai.

Họ thường đậy nắp nồi bằng lá chuối. Ngày nay đồng bào Thượng đã dùng nồi đồng hay soong bằng nhôm mua của người Việt để nấu ăn.

Rượu là món họ rất ưa thích nhưng chỉ dùng trong lúc cúng tế, cưới hỏi và tang lễ. Có nhiều thứ rượu, thường thì ủ bằng cơm gạo nếp hay gạo tẻ, bằng lúa, bắp, củ mì thái nhỏ, bo bo hay thứ hạt gạo rất ngon. Cứ mỗi mùa lúa, họ đều dành phấn lớn số lúa suốt được để làm rượu, còn thừa mới để ăn lần trong năm.

III. Đời sống xã hội . Tổ chức buôn, làng Cũng như ở các sắc tộc khác, mỗi làng Bahnar đều có một

Trang sách 32vị chủ làng do dân chúng tôn lên, dựa trên tài năng cùng lòng can đảm của người đó. Đa số các chủ làng bây giờ là các cựu quân nhân đã từng đi lính cho Pháp hồi trước. Tuy nhiên chúng ta cũng cần lưu ý, nhiều khi trong một làng có đến hai chức vụ chủ làng : một người ta quen gọi ông già là, thường là người lớn tuổi được dân làng nề trọng tôn làm bậc đàn anh, và một vị chủ làng để liên lạc tiếp xúc với chính quyền.

Dân chúng rất tôn trọng và tin tưởng chủ làng của mình.

Khi chủ làng vẳng mặt hay đau ốm có người phó chủ làng thay thế trong mọi giao thiệp. Khách lạ đến làng được chủ làng tiếp đón và hỏi ý muốn của khách.

Người Bahnar qui tụ thành làng ở những sườn núi thấp, ở. giữa thung lũng, đa số sống đọc theo bờ suối, sông, hồ. 2. Nhà cửa Nhà ở người Bahnar là những kiều nhà sàn hình chữ nhật hay hình vuông. Có khi nhiều tiều gia đình cùng một họ sống chung nhau trong một ngôi nhà dài, tuy sống chung nhau nhưng họ lại làm ăn và có của tư hữu riêng của từng gia đình, Vào những nhà này chúng ta thấy giữa sàn có nhiều bếp lửa, mỗi bếp là nơi hội họp sinh sống của một gia đình nhỏ.

Mặt trước cửa nhà thường hướng về phía nào thuận tiện, có nhiều người qua lại. Đõi với những nhà nhỏ, cửa trồ về phía hai mặt nhỏ của nhà, với những ngôi nhà dài, cửa trổ về phía mặt hông lớn của nhà. Ngày nay cửa ra vào thường được trồ ra phía mặt bắc hay mặt nam. Trước cửa ra vào sản nhô ra thành một hành lang, tiếng Bahnar gọi là «pra». Ngày trước, bên trên hành lang này không có mái che, sau này có nhiều nơi đồng bào Bahnar bắt chước người Kinh che thêm mái ở trên để có chỗ tránh mưa nắng trọng lúc giã gạo, đan gùi. Đồng bào những cải tiến này. Thường Thượng, nói chung, rất e dè trong

Trang sách 33họ không dám làm một hành động gì ngoài những tập tục cổ truyền đã qui định như biết rằng lợp nhà bằng ngói là tiện lợi và bền nhưng lúc ban đầu họ vẫn không dám làm. Mãi sau này một vài đồng bào tiến bộ nhưng vẫn còn rụt rè đã bắt chước các vị linh mục thay tranh bằng ngói để lợp nhà. Một thời gian sống sau thấy rằng không có một xáo trộn gì xảy ra cho đời của người đó, dân làng mới dám bắt chước lợp ngói nhiều hơn.

Ngày nay đa số nhà trong các làng Bahnar sống cạnh thành phố đều lợp ngói, nhất là các làng theo công giáo.

Sàn nhà thường lát bằng tre đan, những nhà khá giả lát ván gỗ. Phên vách ngày trước đều bằng nứa hoặc tre đan, cột với lạt mây. Ngày nay, nhiều nơi đồng bào đã biết tô thêm đất sét vào vách phên rồi sơn vôi trắng hay vàng, có nơi xây hồ bằng cát hay xi măng.

Sàn nhà cách mặt đất khoảng một thước rưỡi đến hai thước đựa trên những cột gỗ và tre lớn rất vững chắc, những chỗ nối tiếp đóng bằng ruột gỗ. Dưới sàn nuôi gia súc như lợn, dê, bò; trâu thường cột ngoài trời, gà có chuồng riêng bên cạnh nhà.

Tầng dưới sàn còn lại là chỗ để chứa củi và các dụng cụ vặt vãnh hay vài chiếc quan tài làm sẵn để đành chôn người chết.

Nhà của đồng bào Thượng nói chung rất ít cửa, có nơi chỉ trổ một cửa ra vào phía trước. Ngày trước đồng bào không trổ cửa sổ để lấy ánh sáng nên bên trong nhà thường rất tối tăm, ầm thấp. Lối trình bày trong nhà lộn xộn, không có phòng, . không có bàn ghế, giường chiếu. Họ ngủ ngay giữa sàn bên cạnh bếp lửa, tiếp khách cũng bên cạnh bếp lửa, ngồi trên những chiếc ghế tròn, thấp đan bằng mây, hay căng hằng da thú. Vào một nhà đồng bào Bahnar trước hết ta thấy rất nhiều những chiếc ghè rượu sắp thành một hàng dài ở phía giữa nhà, bên cạnh đó là những chiếc gùi đủ cỡ, trên vách phên hay phía mái nhà họ treo những chiếc gùi mây, những dụng cụ săn bắn, những chiếc lờ đánh cá...

Trang sách 34Ngày nay những gia đình khá giả, hay những người làm việc trong chính phủ, quân đội, trong nhà có bàn ghế để tiếp khách, có giường chiếu, rương, hòm hay tủ để đựng quần áo, nhà trổ nhiều cửa số sáng sủa hơn... Tuy nhiên cách sắp đặt vẫn còn luộm thuộm.

Muốn lên nhà, người ta phải leo lên một cái thang làm bằng một thân cây đẽo thành từng bậc theo một hình dáng cổ truyền, Không phải chỉ riêng những nhà sàn của người Bahnar mới dùng loại thang này, hầu hết trong các làng Thượng đều có một kiêu thang đó, có lẽ vì giản tiện, nhất là nhẹ, di chuyền dễ. Ngày trước làng mạc thường sống cạnh rừng, để tránh nạn thú dữ leo vào nhà, ban đêm họ rút thang lên để ở trên sàn, ban ngày lại thả xuống. Ngày nay trong các làng Thượng, xen lẫn với những chiếc thang mộc mạc cổ truyền, đồng bào Thượng đã biết đóng những chiếc thang gỗ ghép lại có từng bậc để leo lên nhà. 3. Nhà Rồng Mỗi làng Bahnar đều có một nhà Rông, (hay là Nal) người Việt gọi là nhà làng. Nhà Rông là một kiến trúc đặc biệt của người Thượng. Đây cũng là một loại nhà sàn nhưng được xây dựng chắc chắn hơn, chăm sóc tỉ mỉ hơn. Nhà được dựng trên những cột bằng cây lớn. Mặt trước và sau nhà uốn cong ra ngoài, phên vách được đan rất cần thận, thường bằng những nẹp của cật tre già. Mái nhà làm theo hình lưỡi búa cao vút và hẹp. Mái lợp tranh, phía trên gần đỉnh nhà người ta đan những nẹp tre song song với đỉnh để tăng phần vững chãi cho mái. Trên đỉnh nhà Rông, người Bahnar trang hoàng những hình đan bằng mây hai đầu là hình đuôi rồng uốn cong theo óc tưởng tượng của người Bahnar, những hình này đẽo bằng gỗ và sơn đen.

Nhà Rông lớn hay nhỏ tùy theo làng giàu hay nghèo, dân làng thường lo tu bồ săn sóc nhà Rông hơn cả nhà mình. Trong

Trang sách 35nhà Rông họ treo những chiếc trống, chiêng của làng, bên cạnh cửa ra vào có chỗ để treo giáo mác, cung tên, giữa sàn nhà Rông cũng có nhiều bếp lửa. Có khi ở giữa nhà họ dựng một cột cao trên đỉnh có khắc hình những vị thần. Những làng theo công giáo, nhà Rông là nơi để làm bàn thờ.

Nhà Rông là nơi hội họp sinh hoạt của dân làng, ban đêm trai tráng đến ngủ tại nhà Rông, những người góa vợ không có con lại cũng có thể đến ngủ tại đây. Con gái ngủ tại nhà riêng của cha mẹ mình, thường bao giờ họ cũng ngủ ngay khoảng giữa nhà, ở chỗ cửa ra vào, cha mẹ và người lớn ngủ ở hai bên.

Chúng ta nhận thấy rằng càng ngày lối kiến trúc và trình bày nhà cửa của đồng bào Thượng càng bị Việt hóa rất nhiều, từ lối lợp mái, xây vách cho đến cách trổ cửa lớn cửa nhỏ. Tuy nhiên chúng ta lưu ý là ít khi đồng dào chịu làm nhà trệt sát đất như người Kinh, cũng như trong nhà không thể nào thiếu bếp lửa. Bếp lửa trong nhà đối với người Thượng là một cái gì thiêng liêng tạo nên niềm ấm cúng thân thuộc trong tâm hồn họ.

Ngày trước, lúc mới được khai hóa, hễ đi đâu xa, ban đêm người Thượng phải nhóm một bếp lửa để quây quần trò chuyện và ngủ quanh đó. Thiếu bếp lửa họ thao thức mãi không ngủ được. Một quán trọ bên đường, trong bệnh viện hay ký túc xá, một trường học nếu không có bếp lửa nhóm lên không có người Thượng nào dám ngủ lại đêm, thiếu bếp lửa họ thấy lạnh lẽo sợ hãi, vu vơ. Tuy rằng ở những nơi đó có đèn đóm đầy đủ để cung cấp ánh sáng cho họ. Nhưng đèn hình như không đủ cho họ tin cậy, không tạo cho họ những cảm giác ấm áp thân thuộc gia đình bằng bếp lửa cố hữu của sắc tộc họ.

Cưới hỏi Chế độ gia đình của người Bahnar không còn giữ nguyên tính chất mẫu hệ thuần túy mà cũng không hẳn hoàn toàn của

Trang sách 36chế độ phụ quyền. Do đó trong vấn đề hôn nhân của sắc tộc này có một sự bình đẳng giữa đôi bên trai gái : bên nào cũng có thể là người khởi xướng việc hỏi cưới.

Người con gái phải lòng một cậu trai nào đó, về thưa với cha mẹ nhờ mai mối đến đánh tiếng bên nhà trai. Người mối không cứ là đàn ông hay đàn bà, miễn là một người có thể liên lạc được giữa hai gia đình. Trước hết người mối đến hỏi thẳng ngay chàng trai, nếu chàng này cũng ưng thuận lúc đó mới đến hỏi gia đình nhà trai. Nếu người con trai muốn bắt vợ thì ngược lại. Có khi một người nào đó đứng tuổi trong làng thấy có đội trai gái quyến luyến nhau, họ liền đến thì thầm bàn tán với cha mẹ đôi bên rồi chịu nhận đứng ra làm mai mối tác . thành cho đôi trẻ. Ở đây chúng ta cũng còn thấy chế độ cưỡng ép hôn nhân. Nhiều khi người con gái bị bắt bnộc phải lấy một người con trai do cha mẹ chỉ định. Người con gái không ưng chịu cũng bị bắt đem đến nhà chồng.

Trở lại việc khi hai gia đình đã đồng ý tác thành cho con cái, họ bắt đầu làm lễ trao cườm. Nếu người con trai đi hỏi trước, mai mối sẽ đem một chuỗi cườm của chàng trai trao cho người con gái và ngược lại. Thời gian từ ngày trao cườm cho đến hôm cử hành hôn lễ lâu mau không chừng. Thường thường một vài tháng, có khi họ để đến cả năm mới cưới: quãng thời gian đó có thể gọi là giai đoạn thăm dò và tìm hiểu:

Trong lúc này nếu một trong hai người trai gái cảm thấy không thích bên kia nữa có thể từ hôn, trả lại chuỗi cườm và bồi thường cho kẻ bị thiệt thòi một vò rượu và một con heo. Từ đó hai bên không còn liên hệ gì với nhau.

Neu qua giai đoạn thử thách hai người vẫn lòng dạ như xưa họ bắt đầu chuẩn bị lễ cưới. Người nào đánh tiếng trước phải đài thọ tồn phí cưới xin ; thường thường người con trai bao giờ cũng nhận lãnh công việc đó trừ khi nghèo lắm mới để cho nhà gái lo. Lễ cưới của người Bahnar thường tổ

Trang sách 37chức giản dị, không có lễ rước rễ hay đón dâu. Nếu chàng trai phải ở rế thì hôm cưới, người mối đến nhà trai đón chàng rể về nhà vợ. Lúc bấy giờ nhà gái mới lo giết heo, gà, nhà giàu có thì mô trâu bò thiết đãi bà con xóm làng, Nếu người con trai cưới vợ người con gái sẽ về nhà chồng, nếu người con gái cưới chồng thì ngược lại. Tuy nói vậy, nhưng thật ra thường thường người con trai phải đến ở nhà vợ một thời gian. Tuy họ không giải thích lý do, nhưng chúng ta có thể cho rằng thời gian đó là giai đoạn « gửi rể », để chàng trai làm việc đền bồi cho nhà gái cũng như chế độ gửi rề của người Việt chúng ta ngày trước. Thời gian « ở rế » này có thể từ một năm đến ba năm. Trong thời gian một năm sau ngày cưới, nếu cha mẹ của người chồng chết, gia đình nhà gái phải sửa lễ phúng điếu bằng gà, heo rượu. Lễ lớn hay nhỏ tùy sự giàu nghèo của nhà gái.

Chúng ta gọi là lễ phúng điếu nghe cho có vẻ lịch sự chứ thật ra ý nghĩa của những lễ vật đó là để đền bồi cho nhà trai, vì người chết (bố hay mẹ) không được hưởng sự giúp đỡ của người con trai trong thời gian ở rể. Nhưng nếu quá một năm nhà gái khỏi phải lo việc phúng điếu lễ vật nữa : Theo tục lệ thời gian « ở rê » định là ba hay bốn năm, nhưng không phải người con trai đến ở mãi nhà vợ suốt thời gian đó, mà phân chia ra : cứ một năm ở nhà vợ, một năm về nhà bố mẹ chồng rồi năm sau về nhà vợ cứ thế mãi cho hết thời gian « ở rế » thì hai người có thể quyết định ở lại nhà vợ luôn hay trở về nhà chồng hoặc tách riêng để thành lập một gia đình mới.

Do đó, nếu đến năm thứ hai trong thời gian ở rẻ, cha mẹ người con trai mới chết thì người Bahnar cho rằng người con gái đã về nhà chông và đã có làm việc để giúp đỡ cho bố mẹ chồng rồí, thành thử hai bên không còn « mắc nợ » gì nhau nữa nên khỏi phải phúng điếu.

Trong đời sống lứa đôi, nếu chẳng may người vợ hay chồng

Trang sách 38chết trước người còn sống phải đề tang. Thời gian tàng khó không nhất định bao lâu miễn là người chịu tang có đủ lễ vật để làm lễ bỏ mồ, nhưng tối thiểu phải hết một năm, lâu lắm cũng ba bốn năm là cùng. Sau khi mãn tang, người góa sẽ được tự do đi lãy vợ, lấy chồng khác, nhưng phải cho họ hàng hai bên hay. 5. Ngoại tình Ở đây chúng ta nhận thấy trong xã hội Bahnar vấn đề giao thiệp trai gái thường tự do cởi mở nhưng những chuyện tình ái vụng trộm hay những vụ ngoại tình, thông dâm ít khi xảy ra vì phong tục qui định phạt vạ nặng nề. Tuy nhiên đó không phải là nguyên nhân chính mà có lẽ tại bản tính của người Thượng vốn chân chất lại thêm đời sống phóng khoáng tự do nên tâm hồn họ ít bị ám ảnh bởi những tư tưởng xấu.

Trường hợp một người con gái chưa chồng bị một chàng trai quyến rũ, làng sẽ bắt vạ cả đôi trai gái. Có khi phạt vạ riêng từng người, thường thì cả hai người phạm tội bị phạt chung.

Vật phạt là một con heo, làm thịt và chia đều cho tất cả mọi người trong làng, người nào cũng được một phần dù ít bao nhiêu cũng có. Nhiều khi làng thì đông người phạt chỉ làm thịt một con heo nhỏ, thành thử mỗi người chỉ được mầu thịt nhỏ bằng lóng tay.

Người Bahnar cho rằng nếu kẻ phạm tội không đền vạ cho làng thì Yang (Thần) sẽ giận gây tai họa cho tất cả làng.

Nếu dân làng bị ốm đau hay tai nạn gì họ đều đô lỗi cho đôi trai gái phạm tội đó.

Mỗi người dân làng phải ăn một miếng thịt của con heo đền vạ, người nào không ăn thì sau này mắc bệnh hay bị tai nạn gì phải gánh chịu lấy. Cho đến trẻ con trong bụng mẹ cũng có phần, mẹ phải lãnh thế.

Trang sách 39Sau khi đền vạ cho làng xong, hai người được coi như trắng án và trở về cuộc sống bình trường như mọi người.

Trường hợp người đàn bà đã có chồng mà còn tư tình với một người đàn ông khác cũng bị gia đình chồng và làng bắt vạ : lần đầu phải đền một con heo cho chồng và làng nước, nếu sau này còn tái phạm phải đền vạ có khi đến bốn năm con heo hay trâu bò cho làng. Ngày nay những làng ở gần thị thành không còn tục lệ này nữa, người chồng có thể xin làng chứng giám để ly dị với người vợ trắc nết và gia đình cha mẹ cô gái phải lo kiếm vợ khác cho người rế này. 6. Sinh nở Cũng như ở các sắc tộc khác, vấn đề sinh đẻ trong sắc tộc Bahnar rất luộm thuộm và phản vệ sinh.

Trong làng có một người đàn bà ló việc hộ sản, thường là một người đàn bà thạo việc. Công việc của bà mụ này là chờ đợi đứa bé ra đời để đón lấy và cắt rốn bằng một thanh cật tre vót mỏng sắc như dao. Ngoài ra không có thuốc men gì khác.

Sau vài ngày kiêng cữ, người sản phụ lại đèo con lên lưng và tiếp tục làm mọi công việc hàng ngày.

Ngày trước, người Bahnar có tục sinh con được một vài tuần hay vài tháng thì làm lễ « thổi tai » tiếng Bahnar gọi là Hlôm-Don. Sau lễ thồi tai ít lâu cha mẹ sẽ xâu tai cho đứa bé.

Khi làm lễ Hlôm-Don, cha mẹ đứa trẻ mời dân làng đến uống rượu gọi là uống Hlôm-Don. Ngày nay các làng theo công giáo tuy đã bỏ tục thổi tai nhưng tục uống rượu Hlôm-Don vẫn còn.

Họ tin rằng người ta khi sống mà không xỏ lỗ tai sau này khi chết sẽ bị bà thần Diu-đai-tai-tob đuối đi ở với loài khỉ két.

Nhữøg đứa trẻ không xâu tai chết không được hưởng các lễ tống táng như người lớn và cha mẹ không được khóc.

Cũng như người Việt Nam chúng ta ngày trước những

Trang sách 40đứa trẻ chết mà chưa đặt tên gọi là «hữu vị vô danh». thuộc về loài ranh chứ không phải là loài người cho nên không được chôn lẫn với người lớn. Cha mẹ không khóc và không thờ tự gì cả, hoặc chỉ thờ riêng chứ không thờ chung với ông bà tô tiên. 7. Tang lỗ Công việc ma chay của người Bahnar có những tục lệ rắc rõi và nguy hiềm. Đối với người Bahnar-Alakon, khi trong nhà có người qua đời, gia chủ dựng đứng xác chết, cột cho tựa vào một góc nhà, rồi giết heo, làm gà đem bày trước người chết, mọi người thay nhau cúng vái, kể lề khóc lóc bi thảm.

Để phụ họa cho không khí tang ma thêm phần thống thiết và cung để làm khuây khảa tu sàu, vài người khua động thanh la, kẻ thổi kèn người gióng trống... Tất cả họp lại những âm thanh man dại huyền bí. Để tỏ lòng thương tiếc người đã khuất, thân nhân người chết, đàn ông lấy lửa đập vào ngực hay lấy dao tự đâm mình, đàn bà đập đầu vào cột nhà có khi đến vỡ đầu. Nhiều khi không có ai ngăn cản kịp, người đàn bà bị vỡ đầu, rồi chết luôn. Ở nhiều nơi khác, khi trong nhà có người chết, người Bahnar đặt xác chết nằm ngay giữa sàn nhà, lấy vải phủ kín lại chỉ chừa mặt, bên cạnh đó họ đặt những đồ cúng như xôi, gà... Một người ngồi túc trực, tay cầm thanh tre nhỏ dài bằng hai chiếc đũa, đầu cột một mảnh vải màu đỏ như lá cờ, thỉnh thoảng lại phất qua lại trước mặt người chết. Trong lúc đó đàn bà con gái trong làng đến tụ họp xung quanh để kể lễ theo một điệu man rợ lạ kỳ. Những lời than khóc đó như một điệu kinh thuộc lòng, phát ra theo một nhịp trầm bồng ngâm nga... Họ cầu mong chọ linh hồn người chết được sung sướng và đừng trở về quấy rầy họ nữa. Khi đã thấm mệt, tất cả đều dừng lại; họ quay ra ăn uống chuyện trò rồi lại tiếp tục ê a kể lễ... cho đến chiều tối.

Trong lúc đàn bà khóc lóc kể lễ thảm thiết, đàn ông trai tráng tụ họp ngoài sân nhà, quây quần thành từng nhóm chung

Trang sách 41quanh vò rượu vừa ăn thịt, vừa mút rượu, chuyện trò nhộn nhịp. Thỉnh thoảng họ gióng lên một hồi chiêng từng hai tiếng một để phụ họa cho những tiếng khóc than rên rỉ ở trong nhà.

Những người đến, phúng viếng chia buồn cùng tang chủ cũng phải khóc lóc, sau đó mới cùng tang chủ ăn thịt uống rượu.

Sau khi xong những nghi thức đó, mọi người trong nhà mới ngả thịt ra ăn uống say sưa, vừa ăn họ lại vừa mang rượu thịt đến đút vào mồm xác chết. Người Bahnar chỉ để xác chết trong nhà một hôm, họa hoằn nếu cha mẹ hay bà con ruột ở xa chưa về kịp họ mới để chờ đến hai ngày là cùng.

Vào một làng Bahnar, chúng ta thường thấy dưới sàn mỗi nhà đều để lỏng chỏng một vài thân cây lớn đục rỗng ruột như hình chiếc mõ lớn, đó là những chiếc quan tài làm sẵn. Sau khi cúng lễ và ăn uống xong, họ khiêng xác chết đến nghĩa địa ở ven rừng đầu làng. Ở đấy vài người trai tráng đã đào xong huyệt và đặt sẵn bên cạnh một chiếc hòm. Họ cho xác chết vào quan tài, đậy nắp bằng một tấm ván. Trước giờ hạ huyệt, thân nhân lại làm lễ tạ thần linh, thổ địa xin cho người chết được tá túc trong lòng đất của thần. Sau khi chôn xong trở về, họ lại ăn uống : ngày thứ nhất cho họ hàng và khách các làng lân cận, ngày thứ hai là ngày Tơrak cho cả làng, và ngày sau mời các bạn bè thân thuộc đến ăn nhậu.

Những thân nhân vắng mặt trong ngày chôn lúc trở về đến ngày Năng teh (thăm mả) họ phải đến mồ ăn uống ít nhiều.

Những người chết xấu như bị cọp ăn, chết đuối, tự sát hay người làng khác không được tổ chức tang lễ trong làng, thường họ làm ở mé làng và chôn ngay. Người Bahnar tin rằng những người chết vì bị ám hại, hay trong trận mạc linh hồn được lên ở trên trời.

Mộ của người Bahnar được đắp thành nấm cao và có rào

Trang sách 42xung quanh, bên trên, họ dựng một lều nhỏ sơ sài che mưa nắng và để cho người chết có nơi cư trú:

Chôn cất xong, mọi người trở về làm ăn như cũ. 8. Thời gian tang khó và lễ bỏ mồ Sau ngày mai táng, ngôi mộ được thân nhân lo săn sóc, dọn cỏ trong thời gian lâu máu tùy theo từng nhà và tùy theo từng vùng.

Đối với người nghèo có thể làm lễ bỏ mồ sơ sài ngay sau khi chôn cất, từ đó họ san bằng mà không ngó ngàng gì đến nữa.

Có vùng, sau khi chôn cất xong là hết, thân nhân cũng như người làng không ai nhắc nhở đến người chết nữa.

Nhưng đó là những ngoại lệ, theo phong tục thông thường của người Bahnar, thời gian tang khó thường là ba năm, ít lắm là một năm. Người chịu tang bỏ hết mọi trang sức, cắt tóc ngắn để phân biệt với mọi người khác. Riêng người Bahnar Alakong, khi vợ chết người chồng ngoài việc lấy lửa đập vào ngực mình còn tự tay cầm dao rạch vào đùi, có khi thấu xương.

Theo tục lệ nếu người vợ cả chết, chồng rạch bốn nhát, người vợ lẽ rạch bảy nhát. Theo nhiều người giải thích đó là một hành động để biểu lộ tình thương và lòng can đảm của người chồng đối với vợ, các cô gái khác trong. làng sẽ khâm phục và có thể làm vợ kế sau này.

Lễ bỏ mồ thường được cử hành một hay vài năm sau.

Chúng ta nhận thấy nhiều nơi chịu ảnh hưởng phong tục Djarai mỗi mồ không phải chỉ chôn có một người. Dưới mộ đó, cùng trong một chiếc hòm có khi chôn đến ba hay bốn người trong một gia đình. Thành thử họ phải đợi đến vài năm khi thấy hòm quá chật họ mới làm lễ bỏ mồ chung cho cả mấy

Trang sách 43người trong hòm ; cứ một người họ làm thịt một con trâu đề cúng lễ. Tuy nhiên, nhiều khi nhà nghèo, họ chỉ làm thịt một con trâu để tế chung tất cả.

Trước ngày hành lễ, nhiều khi đến hơn một tháng, gia chủ thuê vắi người trai tráng trong làng vào rừng chém tre đẳn gỗ, bứt tranh về để dựng nhà mồ.

Chúng ta đã thấy ở đoạn trên, sau khi chôn cất xong, người Bahnar đắp nấm và dựng ngay trên mồ một chòi nhỏ, đó không phải là nhà mồ vĩnh viễn mà chỉ có tính cách tạm thời.

Đến lúc này sẽ phá bỏ ngôi chòi cũ, san bằng nấm mồ như đất liền rồi dựng ngay trên đó một ngôi nhà cao lớn vững chãi hơn.

Công trình cất dựng nhà mồ kéo dài trong khoảng một hai tuần, trong thời gian này gia chủ phải lo cung cấp cơm rượu chó những người đến làm giúp.

Nhà mồ của người Bahnar làm theo kiều nhà thường, hai mái thấp, xung quanh không có phên vách. Trên đỉnh nhà cũng trang hoàng bằng những hình đan khác kiểu của người Djarai.

Chung quanh nhà mô cũng có hàng rào hình vuông, rào sơ sài không kiên cố bằng hàng rào nhà mồ của người Djarai. Ở vùng sông Bla, nhà mồ không rào giậu gì hết.

Ở bốn gốc rải rác quanh hàng rào họ dựng lên những tượng gỗ tạc hình các quan binh người Pháp và hình những người đàn bà ngồi khóc hai tay chống cằm. Về lối trang hoàng quanh mộ này, ta thấy người Bahnar gần giống như người Djarai.

Sau khi dựng nhà mồ xong, tang chủ mới bắt đầu làm lễ bỏ mò (Brũ), số trâu bị giết tùy theo số người chôn dưới mồ.

Gia chủ mời làng xóm đến ăn uống, tựng bừng.

Thường thường, cứ năm này một nhà làm lễ bỏ mồ, năm sau vài năm sau nữa một nhà khác làm luân phiên như thế cho

Trang sách 44nên lễ bỏ mồ lâu dần trở thành những ngày lễ chung cho cả làng, để vui say, ăn uống, múa hát.

Làm lễ bỏ mồ xong là tang chủ đã qua hết thời kỳ tang khó, họ có quyền tự do đi lấy vợ, lấy chồng và cũng từ đây ngôi nhà cũ không còn ai săn sóc nữa; qua thời gian, ngôi nhà mồ mục rã rồi tàn tạ dần trong quên lãng của mọi người. Ngày nay nhiều nơi không còn giữ tục bỏ mò nữa. Các làng theo Công giáo thường tổ chức lễ giẫy mả (dọn cỏ và thăm viếng mồ mả) vào khoảng cuối tháng Io đầu tháng 1i dương lịch).

IV. Đời sống tỉnh thần 1. Tín ngưỡng Người Bahnar tin tưởng ở nhiều thần và phân chia Thần ra làm hai bậc : Thượng đẳng Thần và Hạ đẳng Thần.

- Thượng đẳng Thần — Theo tục truyền thì thuở khai thiên lập địa có hai vị thần : thần nam Bok-Kơi-Dơi và thần nữ lă-Kon-Keh. Thàn Nam tạo ra mặt trời, mặt trăng và các vị tinh tú. Thần Nữ tạo ra bầu trời và trái đất. Hai người lấy nhau và sinh hạ được ba con : một con được giữ lại làm thần trên trời tên là Iă Pôm, còn hai con cho xuống làm người gọi là lă (Bà) Bok (Ong) tức là tổ tiên loài người. Ngoài hai vị thăn nam. thần nữ còn có :

- Thần Sấm Sét (Bok-Glaih). Thần này coi sóc các công việc ở thế gian ; ai tôn trọng các điều cấm kỵ thì được thần bảo vệ, ai khinh miệt sẽ bị thần dùng sấm sét trừng phạt.

- Thần Lúa (Yang-Xơri). Thần này coi giữ lúa gạo cùng bếp núc ; thường ở ngoài rầy hay trong chòi lúa:

- Thần Nước (Yang Dak), Thần Núi (Yang-Kong). Mỗi con sông, ngọn suối đều có thần nước, mỗi quả núi là một vị thần

Trang sách 45nên khi cúng bái, người dân đều gọi chung là Yang Dak, Yang-Kong.

- Hạ đẳng Thần là những thần thú vật, cây cối, đồ đạc ví dụ như thần Cọp (Bok-Kla), thần Voi (Roix), thần Cóc (Ket- Droix), thần Ghè (Yang Yatok), thần Cây (Yang-Long).

Người Bahnar kể rằng họ thường thấy các thần cây vui đùa cưỡi rỡn khi họ đi làm cây (có lẽ là tiếng gió thôi).

Người Bahnar luôn luôn tô chức các cuộc cúng lễ đề xin thần thánh phù hộ hoặc tha lỗi : trước khi gieo mạ, sau ngày gặt lúa, lúc sửa nhà, làm nhà, khi mưa bão năng hạn, đau ốm, dịch bệnh họ đều cúng cả. Tùy theo tầm quan trọng của lễ cúng họ phải giết trâu bò dê heo hay gà.

Ngày nay một số lớn người Bahnar ở Kontum (ước lượng 20.000 người) theo đạo Công giáo nhưng họ vẫn tin đị đoan và cúng lễ. 2. Một vài kiêng cử khác Cữ rầy :

Vào những năm gặp mùa lúa xấu, dân làng tô chức cúng vái thần linh. Tiếp theo ngày cúng thần lúa là ngày kiêng cữ.

Nếu đến một làng Bahnar, gặp một rẫy mà trên đường vào cắm một cành lá, ấy là rẫy cấm (trong ngày kiêng cữ).

Nẽu khách vào làng nhỡ không biết hái một ngọn rau, một quá ớt vì vô tình, lúc trở ra trông thấy dấu hiệu kiêng cữ, nên để các vật ấy lại trong rẫy.

Lúa chín :

Đến ngày lúa chín, mỗi chủ rẫy sẽ giăng một sợi dây từ rẫy về đến chòi lúa để chỉ đường cho lúa về nhà. Vào một

Trang sách 46làng Bahnar chúng ta thường thấy có nhiều chòi nhỏ ở đầu làng hay ở những chỗ xa nhà ở: đó là những chòi dùng để đựng lúa của dân làng. Ngày trước người Thượng thường hay chứa lúa ngay trong nhà. Theo kinh nghiệm mỗi lần cháy nhà bao nhiêu lúa đều cháy theo. Mà mỗi khi trong làng có một nhà cháy, cả làng đều cháy theo vì người Thượng ngày trước không dám chữa cháy : họ tin rằng thần lửa giận và muốn đốt đến đâu thì phải chịu đến đó. Do đó, mỗi khi làng cháy, bao nhiêu lúa gạo cất trữ trong nhà đều cháy theo. Những ngày sau đó dân làng lâm vào cảnh đói khô cơ cực.

Kinh nghiệm của những lần cháy làng đã làm cho họ khôn ngoan hơn, họ họp nhau lại làm những vựa chứa lúa ở xa làng, những nơi mà nếu có lửa cháy ngọn hay tàn lửa cũng không thể bắt vào được.

Trở lại câu chuyện dăng dây để dẫn lúa về nhà, nếu người khách lạ hay dân ngoài làng vô tình đi qua làm. đứt sợi dây đó sẽ bị bắt vạ. Năm sau nếu lúa mất mùa họ sẽ đồ lỗi tại người đó.

Kiêng cữ toàn làng :

Trong những ngày làng cúng thần, làng cấm người ngoài không được vào làng. Những hôm cữ đó, trước công làng họ . dựng một người nộm bằng rơm hay bằng cây, tay cầm nỏ. Nếu khách không biết vào làng trong những ngày đó sẽ bị giữ lại cho đến khi hết cữ.

Nhà nào đang cúng cho bệnh nhân, họ cũng không tiếp khách.

Vào một làng, nếu chúng ta thấy ở đầu làng hay ở giữa các ngõ vào có một cành cây bỏ ngang chận lại là làng ấy đang có kiêng cữ, nhiều khi trên mỗi nhà trước cửa có đặt một ngọn cây có lá là làng cũng đang cữ không nên vào.

Trang sách 47Người Thượng kiêng cữ toàn làng trong những năm gặp • thiên tai như cả làng mắc bệnh đậu mùa, dịch tả, trong làng có người bị sét đánh...

Trong những ngày kiêng cữ, dân làng không được đi đâu và cũng không tiếp ai cả, nếu người làng khác không hay lỡ vào rồi thì phải phạt vạ, hoặc trâu, heo, hay gà, rượu...

Theo những mê tín thưở trước, nếu mấy con gà rừng, con rùa hay con mang chạy qua làng, người Bahnar cho là điều xấu, họ sẽ dời làng đi nơi khác.

Ngày trước, người Bahnar đàn ông cũng như đàn bà đều để tóc dài, nếu muốn cắt cụt hay hớt tóc theo lối mới phải xin phép gia đình.

Những chiếc ché thần Người Thượng, nhà giàu thường có những ché cô lưu truyền, lâu đời, miệng bịt kín, thỉnh thoảng họ cắt tiết gà cho ché ăn.

Khách lạ muốn được lòng chủ chớ nên tò mò sờ mó hay mở nắp ra xem.

Những ngày cữ không nói Đôi khi vào làng gặp người quen ta hỏi nhưng họ không chịu trả lời. Nhưng không phải họ có ý gì xấu đối với chúng ta cả. Sở di họ không nói vì họ đang ở trong những ngày cữ «Im lặng». Thường họ cữ ba ngày không nói như thế để gài măng cung• Nhiều làng họ hay măng cung trên ngõ ra vào rẫy hay trên những đường vào làng. Tuy nhiên họ cũng để lại những ám hiệu cho người khác biết mà tránh đừng đi qua lối đó. Thường thường ám hiệu đó là một thân cây vót nhọn. Có khi chúng ta thấy một

Trang sách 48cọc có nhiều cây vót nhọn cột ngang cũng là dấu hiệu đường cỏ măng cung. Và cũng tùy theo cây vót nhọn lớn hay nhỏ chúng ta có thể đoán được cung bầy dành cho thú vật lớn hay nhỏ. Măng cung có nhiều thứ và có thể giết được từ con chuột cho đến hồ hay nai. Ở rừng núi nếu ta rủi bị măng cung thì không có gì chữa được cả. 3. Những ngảy lỗ tốt trong năm Người Bahnar có nhiều ngày lễ Tết trong một năm, đó là những dịp để đồng bào hội họp, ăn uống và hát xướng. Tuy nhiên những ngày ta gọi là Tết đầu năm thường không định vào một ngày nào nhất định.

Thường thường sau mùa suốt lúa là những ngày vui chơi của người Bahnar, chúng ta có thể gọi là Tết của họ. Tết thường được tổ chức giản dị hay tưng bừng rộn rịp tùy theo từng nơi.

Có nơi cả làng hội họp, giết trâu, dê ăn mừng ca hát.

Thường họ tô chức ăn Tết luân phiên, từ nhà này sang nhà khác, dân làng họp nhau lại ăn uống, thường chỉ làm thịt gà, sang lắm là heo. Hết nhà này họ kéo sang nhà khác. Họ lại mời dân làng bên cạnh đến tham dự, năm sau làng được mời phải tổ chức mời trở lại.

Riêng người Bahnar ở vùng An Khê trong năm lại còn nhiều buồi lễ khác.

- Vào khoảng tháng giêng, tháng hai dương lịch họ có ngày lễ tạ mò.

- Khoảng tháng ba dầu tháng tư có lễ MiRah mừng trời mưa, lễ Mi Dak Mat Aton, cầu xin phúc lành cho người chết, lễ Phul Sodu để xua đuồi các hung thăn, lễ Ming Chăm để cầu mưa thuận gió hòa.

Trang sách 49- Khoảng tháng sáu có lễ cầu an.

- Tháng 10 có lê Et-Tojur-Sa mừng mùa gặt hái.

Tùy theo lễ lớn nhỏ kéo dài năm ba ngày, trong thời gian cúng lễ vợ chồng phải ở riêng.

V. Đời sống kinh tế Ngành trồng trọt chính của người Bahnar là trồng lúa gạo, một năm chỉ gieo một mùa lúa vào trước mùa mưa. Ngoài ra họ phải tròng trọt thêm ngô, khoai, kê, vừng, bí, dưa.

Lối canh tác cổ truyền vẫn là làm rẫy, tuy nhiên ở những miền cạnh bờ sông, lạch suối họ đã biết làm ruộng nước như người Việt, nhiều nơi đã thấy đồng bào dùng cày, loại cày mua của người Việt hay tự làm lấy. Nông cụ ngoài cày bừa còn có cuốc, rựa, xà gạt lưỡi bằng thép họ tự rèn lấy hay mua của người Việt. Vùng Kon-Du, Kon-Chơ brăng có mỏ sắt, ngày trước người Thượng thường lấy để rèn cuốc, xuống rựa và giáo mác, vùng Kon-Mơnhol có thứ đất sét nung chín cứng như xi măng, người Bahnar thường dùng làm những ống thổi để rèn các thứ khí giới hay nông cụ.

Ngoài việc canh nông, người Bahnar còn nuôi trâu bò, dê, gà, vịt... Gia súc thường nuôi dưới sàn nhà, ngày nay đồng bào đã biết làm chuồng để nuôi heo, gà ở xa nhà. Heo thường thả chạy khắp làng kiếm ăn, muốn cho heo không đi xa lạc vào rừng, họ thường đóng ở cổ heo một cái gông hình tam giác ghép bằng ba nhánh cây. Heo muốn chui hàng rào của làng để vào rừng đều bị kẹt lại.

Sau mùa lúa, người Bahnar ở các làng xa cạnh rừng, thường tổ chức những vụ săn bắn thú rừng hay đánh cá, bắt tép phơi khô để dành làm thực phẩm. Gặp những ngày mưa, họ ở nhà chẻ tre, vót mây đan thúng, nia, gùi hay sửa sang những vật

Trang sách 50dụng vặt vãnh trong nhà. Nhiều làng người Bahnar săn bắn rất giỏi, khí giới cô truyền vẫn là những chiếc ná bằng gổ rất chắc và mạnh hơn loại « ná bẻo» của người Djarai.

A l Người Bahnar có rèn một loại dao rất sắc vỏ bọc ngoài bằng tre đan khéo léo, chạm trổ tỉ mỉ. Loại dao này ngày xưa họ tự rèn lấy bằng sắt khai thác được, ngày nay họ dùng những thanh thép ở « díp » xe hơi cũ loại ra đề đánh thành dao.

Vì được sống ở những miền thấp, gần gũi người Kinh, đất đai có phần phì nhiêu hơn các vùng khác nên đời sống người Bahnar dễ dãi hơn nhiều sắc tộc khác.

Người Bahnar không biết lo xa, âu đó cũng là một bản tính chung của những con người ở miền Thượng; gạo chỉ giã ăn từng ngày một, nước chỉ lấy đầy vò hay đựng trong những chiếc bầu khô vừa đủ dùng trong ngày. Khi mua bán đồi chác gì với người Kinh họ không biết nói giá cao, họ thường đồi chác các lâm sản để lấy muối, lấy các vật dụng hơn lấy tiền. Tuy nhiên ngày nay họ đã quen dùng tiền bạc làm vật trung gian trao đổi hàng hóa. Ngày trước ở những làng xa, không có muối bễ để dùng, người Bahnar thường đốt một thứ lá cây lấy tro để thế muối ăn tuy nhạt hơn, nhưng cũng cung cấp được cho cơ thể họ một lượng muối tối thiểu.

Trước khi biết dùng hộp quẹt (diêm) và bật lửa người Bahnar có một lối lấy lửa theo phương pháp cò truyền : hoặc lấy một sợi dậy khô và bền kéo đi kéo lại trên một mảnh tre có ít sợi để làm mồi, hoặc lấy hai hòn đá lửa (silex) đập vào nhau có bùi nhùi để bên cạnh cho bắt lửa. Thứ đá silex này trên vùng của người Sédang có nhiều ở gần mặt đất như vùng Kon-Du, Kontăy, Kon-Brăng... Hồi trước, đi đâu người Thượng cũng thường dắt theo trong cặp khố một đôi đá lửa và chút bùi nhùi để đánh lửa hút thuốc hay nhóm bếp.

Trang sách 51Vl. Kốt luận Sắc tộc Bahnar là một sắc tộc đứng thứ ba trong các sắc tộc đông người nhất ở miền Thượng, sau sắc tộc Rhadé và Djarai và cư trú trên một khoảng Cao Nguyên rộng là 4.000 cây số vuông.

Người Bahnar là người Thượng đầu tiên sinh sống hòa hợp với người Kinh. Bản tính hiền lành, chất phác, hiếu khách, nhiều khi người Bahnar bị các lái buôn người Kinh lừa bịp, bóc lột ; tuy nhiên những người Kinh này là số ít, ngược lại còn có một số lớn người Kinh khác, những vị giáo sĩ, mở mang miền Kontum vì lòng thương người nên đã tạo được nhiều cảm mến với người Bahnar, và đã giúp đỡ họ tiến bộ rất nhiều.

Người Bahnar cũng là người Thượng đầu tiên trên miền Cao Nguyên biết dùng chữ viết để học tập và dùng trâu bò đẻ cày ruộng ; đây có thế nói là sự mở đầu cho một cuộc cách mạng đời sống lạc hậu mẽ tín của đồng bào Thượng sang một cuộc sống văn minh tiến bộ, nhưng ta cũng cần nhiều thời gián chuyển tiếp để đời sống của người Bahnar khỏi bị xáo trộn và luôn luôn được hòa điệu như tiếng hát khoan thai của họ trong các giáo đường hay tiếng nhạc đều đều của họ trong những buồi cúng tế.

Trang sách 52Chuyện cổ tích Bahnar.

VUA RƠH, CHÀNG HRIT VÀ CHÚ THỎ Xưa kia, có một ông vua tên Rơh, tuy chẳng thiếu thứ gì, vẫn ôm một lòng tham vô độ...

Thấy anh dân quệ Hrit có con bê xinh đẹp, nhà vua liền có ý muốn chiếm đoạt. Một hôm, gặp Hrit chăn dắt hai mẹ con con bò, vua cất cao giọng phán :

- Bê này của ai ?

- Dạ, bê ấy của tôi. Nó do bò cái của tôi đẻ ra.

Vua chừng mắt quát :

- Đời nào bò cái lại đẻ ! Thôi phải rồi, anh đã ăn trộm con bê, do bò đực ở trong cung sinh ra. Anh phải trả lại ta ngay, kẻo ta giết chết.

Hrit sợ hãi, xin khất đến mai, đem bê vào tiến.

Hôm ấy, chàng phẫn uất, rên rỉ khóc suốt đêm. Một con thỏ ở gần đó, biết chuyện, liền đến khuyên răn :

- Không can gì việc ấy, anh Hrit ạ. Để tôi vào hỏi vua một lời.

Thỏ trở về nhà, lấy tấm vải trắng nó thường mang, bôi nhựa cây vào rồi đi thẳng tới cung điện, ung dung ngồi sưởi để nhà vua trông thấy, và giả tảng than :

- Hôm qua, thức suốt đêm, nên bây giờ vừa mệt, vừa buồn ngủ.

Vua hỏi :

Trang sách 53-- Nhà ngươi làm gì mà phải thức ?

- Đêm qua, cha tôi đẻ, làm tôi mất ăn mất ngủ.

- Nói gì lạ vậy. Cha ngươi đẻ được à ?

- Thì đây, cha tôi dùng chút vải này bọc đứa con sơ sinh, nên mới có nhiều chỗ lấm, Thỏ vừa nói, vừa trỏ những vệt nhựa cây.

- Nhà ngươi chớ nói càn. Đời nào giống đực lại đẻ được con.

Thỏ vội vã thưa :

- Thế sao, sáng qua, vua nói với chàng Hrịt là bò đực của nhà vua đẻ, và bắt anh ta hôm nay phải nộp bê.

Biết mắc mưu thỏ, vua Rơh gượng cười :

- Ta thấy bê của chàng tốt đẹp, mới đặt chuyện để chiếm lấy.

- Người trên mà như vậy còn ai tin nữa.

Vua Rơh bẽn lẽn nói :

- Ngươi nói phải đó. Ngươi về bảo chàng Hrit đừng mang bê lại.

Tuy nhiên, câu chuyện nào đã xong ? Máu tham vẫn sôi nồi, vua Rơh cho người đến kêu Hrit tới, phán :

- Anh hãy đem chó của anh đến cắn nhau với chó của ta. Nếu chó thua, anh sẽ mất bê.

Nhưng chó nhà vua bị cắn chết. Thế là vua tức giận, lần lượt bắt dệ, bò của Hrit ra tranh đấu : nhưng gia súc ở cung điện đều bị thua, Vua Rơh hạ lệnh bắt Hrit đem trâu đến chọi. Hrit không có trâu, nên trở về nhà, ngồi khóc thảm thiết. Hay đâu bò của

Trang sách 54Hrit là một con vật có nghĩa thấy chủ ủ rũ, buồn sầu, thì thưa nhỏ rằng :

- Chủ đừng lo. Tôi sẽ cùng trâu đọ sức.

Quả nhiên, trâu tuy mạnh, nhưng thân thế nặng nề, nên bị bò húc, thủng ruột mà chết.

Vua Rơh giận tái mặt, sai voi ra hãm hại bò. Thấy sự tình nguy hiềm, bò tha thiết giãi bày cùng chủ :

- Ông Hrit ơi ! với trâu, tôi còn chọi nồi, chứ với voi, tôi chắc không sao thoát nạn. Chỉ xin ông một điều, là sau khi tôi đã chết, ông băm nhỏ xác tôi ra, để quăng một nửa xuống sông, và rải một nửa trên sườn núi...

Biết mình sức yếu, bò cứ núp sau khu mà húc rồi thu hết sức bình sinh đâm sừng ra phía trước, khiến voi bị tử thương, nhưng liền đó, voi cuốn được bò, vật ngã xuống đất, lấy chân dậm lên trên mà chà xát... Cả hai đều hết thở...

Hrit nhớ lời bò căn dặn, liền vừa khóc, vừa vơ vét lấy xương thịt của con vật có nghĩa kia, để mang ra gieo rắc trên mặt sông sườn núi.

Vua Rơh, thấy cả bầy súc vật yêu quí của mình đã thiệt mạng, lấy làm uất ức, liện sai người dùng thịt chúng, nấu nướng thành thực phẩm, rồi hạ lệnh cho Hrit phải một mình ăn cho kỳ hết, nếu không sẽ bị tử hình. Hrit lo sợ, tìm đến thỏ để vấn kế. Thỏ dắt Hrit ra bờ sông, khấn vái bò mà một nửa xác đã rải xuống mặt nước, yêu cầu bò hóa ra một kẻ ruột rỗng, hình dung giống in như Hrit. Người giả ấy đến ăn dùm, nên không đầy nửa ngày, đồ ăn đã biến hết.

Vua Rơh lại bắt Hrit khai phá mười lăm hòn núi, để làm rẫy trong thời hạn một ngày trời. Thỏ dẫn Hrit lên một nơi cao, khấn xin xác bò, mà một nửa đã gieo rắc trên núi, biến

Trang sách 55hóa thành nhiều nông dân và thú vật, để làm xong công việc trong thời gian đã định. Một lần nữa Hrit đã thành công, Nhưng sự áp bức của kẻ phong kiến, ác độc, biết đâu là bờ bến. Hrit phải nhờ đến cả loài phi điều và thủy tộc, mới có thế thoát thân...

Thật vậy, nhân trời mưa như trút nước, nhà vua bắt Hrit phải đốt hết cây trên rẫy, trong vóng một ngày... Thỏ kêu gọi chim chóc tới vỗ cánh, để quạt cho các cành lá mau khô, rồi chúng lại tha tàn đốt lửa, chẳng mấy chốc đã xong.

Muốn tìm cách giết kẻ thù cho hả dạ, nhà vua, lần này, không ngại bắt buộc Hrit làm cho mình, một ngôi nhà nghỉ mát trên mặt nước. Được tin, thỏ than rằng :« Ây là nhà vua tấi ngày tận số...» Đoạn, thỏ cùng Hrit ra bờ sông, nhờ các loài thủy tộc, giúp sức một lần cuối cùng... Ai nấy đều tự lấy thân mình ra xây dựng : cá tràu đứng lên làm cột, lờn bơn tự xếp thành mái, cá chép ép vào nhau làm phên, cá rô vịn vào nhau làm cửa, rắn nước vươn mình thành một phù kiều, ba ba làm bếp... Vua thấy lâu đài rực rỡ và kỳ quái, lấy làm hài lòng, bèn sai cung tần mỹ nữ đem thực phẩm xuống đặt tiệc. Bãy giờ, mặt trời vừa lặn, người ta vội đốt lửa trong bếp cho sáng, ngờ đâu ba ba, bị nóng, lồm cồm bò chạy. Các sinh vật khác, thấy vậy, cũng vội tìm đường lần tránh... Vua Rơh và đoàn tùy tùng lộng lẫy, đều bị trôi trên làn sóng, tản mác ra khắp bốn phương trời, không còn ai hà hiếp lương dân.

Từ đó, Thỏ và Hrit thảnh thơi vui sống trên Cao Nguyên.

NAM HƯNG Trích trong đồng bào BAHNAR tại Kontum VĂN HÓA NGUYỆT SAN SỐ 20.