NGƯỜI S'TIÊNGPhần 8 · trang 119–134

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 119NGƯỜI S'TIÊNG (Sờ-tiêng) I. Giới thiệu 1. Địa vực cư trú và dân số Sắc tộc S'tiêng, đứng vào hàng thứ 5 trong các sắc tộc ít người ở Cao Nguyên miền Nam.

Sắc tộc S'tiêng sinh sống rất nhiều ở các tỉnh Phước Long (21.528 người) Bình Long (13.794 người) một ít ở nam Quảng Đức, bắc Tây Ninh, bắc Bình Dương và Tây Long Khánh (I.379 người). Người S'tiêng ở Bình Dương và Long Khánh được người Kinh gọi là Thô hay Tà Mun.

Tổng số người S'tiêng ước lượng 40.000 người.

Ở ranh giới Việt Miên từ Phước Long đến Tây Ninh có một số lớn người S' tiêng sinh sống, số lượng vào khoảng 40.000 người ở các tỉnh Srékhtum, Snoul, Mimot.

Sắc tộc S'tiêng là một sắc tộc gần như thuận nhất, ít chia làm sắc tộc nhỏ mặc dầu ta nghe thấy những chi phái như :

Budip, Budeh, Bulach và Bulo. 2. Gốc tích và nhân dạng Người S'tiêng thuộc giống Indonésien, tiếng nói thuộc loại ngôn ngữ Môn Khmer (môn kờ me).

Người cao trung bình thộo, da ngăm ngăm đen, tóc đen hơi soăn. Đàn ông lực lưỡng, khỏe mạnh và dai sức.

Trang sách 120II. Nếp sống cá nhân 1. Ăn mặc Đa số đồng bào Stiêng hiện tại còn áp dụng lỗi ăn bốc và • nấu nướng bằng ống lồ ô. Tuy nhiên có một số thường gần gũi với người Kinh như gia đình quân nhân, các trại tạm cư ty nạn , cộng sản... đã cải tiến sinh hoạt bằng cách đau biết uống và chích thuốc, nấu cơm bằng nồi nhôm, biết dùng chén đũa trong các bữa ăn.

Muối và cá khô là thực phẩm chính của họ, đôi khi hết muối, họ có thế đốt gốc lồ ô ra tro rồi đem hòa với nước, để lóng lại cho trong đem ra dùng có chất mặn như muối và hái một ít lá diếp ngoài rừng để vào ống lồ ô nghiền cho nát đem nấu thành ra một thức ăn ngon của họ khi hết thức ăn. Ngoài ra họ rất thích trồng rồi xắt thuốc lá của họ, rồi bỏ vào ông điếu để hút và uống rượu cần của họ ủ lâu ngày.

Đàn ông đóng khố, đàn bà cuốn váy nhưng tất cả đều để mình trần, lúc sau này vì có sự giao thiệp nhiều với người Kinh nên họ bắt đầu mặc quần áo nhiều màu sặc sỡ. Hiện nay cũng còn thấy lác đác vài người đàn bà đóng khố. Phần khác lúc ngủ họ cũng biết đắp chăn ấm. 2. Trang sức Người Stiêng còn bắt chước người Miên, xâm mình để làm đẹp. Ngoài ra họ còn đeo vòng đồng, hột cườm để tăng thêm phần duyên dáng.

Trai gái lớn lên đều cà răng, căng tai. Răng cà càng bằng, tai căng càng rộng giá trị càng cao, càng được trai gái để ý đến và được xem là thành phần ưu tú can đảm trong sóc.

Trang sách 121III. Đời sống xã hội 1. Xã giao Đời sống người Stiêng rất bình thường nhưng không kém phần nóng nảy nếu có ai vi phạm phong tục tập quán của họ.

Họ rất tôn trọng khách đến sóc thăm viếng, tổ chức tiếp đón niềm nở, ân cần tiếp đãi, biếu xén những sản phầm của họ, tồ chức các cuộc vui chung trong lúc ăn uống như đánh đồng la, uống rượg cần... 2. Nhà ở Đồng bào Stiêng có lệ bà con với nhau ở chung một nhà dài và thấp, được chia ra từng căn, mỗi căn có một bếp (mỗi bếp là một gia đình). Ban đêm họ nhóm lửa trong nhà bên cạnh sạp của họ ngủ hoặc xúm nhau xung quanh bếp lửa vừa hút thuốc nói chuyện vừa sưởi ấm, vừa xua muỗi và cũng tránh được thú đữ rừng mon men đến.

Trong những gia đình đa thê, mỗi bà vợ có một căn phòng riêng trong dãy nhà sàn và một bếp lửa riêng. 3. Việc cưới hỏi Người Stiêng sống theo chế độ phụ quyền tộc trưởng và đa thê. Khi người con trai ưng ý nơi nào cha mẹ nhờ mai mối dạm hỏi. Nếu nhà gái bằng lòng đôi bên sẽ thảo luận các điều kiện với nhau. Sau đó mỗi bên đưa một nhân chứng biết cầu khẩn thần linh để mời các vị này về chứng kiến trong lúc làm lễ buộc chỉ vào cổ tay cho đôi trẻ và xin các vị này ban phước đức cho chúng.

Lúc làm lễ cưới nếu nhà trai giàu thì mồ trâu, bò, heo, gà... mời họ hàng đôi bên đến dự (bên gái cũng vậy) và sau đó người con gái sẽ về nhà chồng. Đối lại nếu nhà trai nghèo không nộp đủ sính lễ thì phải để con ở rễ.

Trang sách 122Sinh lễ nhà trai phải nộp như sau :

- I người đầy tớ (thường thường là nô lệ) - I ghè rượu quí loại Srung hay Diri - I con dao hoặc I thanh lao cổ - I cái chiêng - 7 cái vò rượu nhỏ - I cái tô đồng - I0 cái tô lớn - 20 cái tô nhỏ - I cái vòng bằng đồng thau - I chuỗi vòng bằng hạt cườm lớn - I chuỗi vòng bằng hạt cườm nhỏ - I cái sà rông dài 2 thước bằng lụa - I cuộn chỉ Sình lẽ có thể tăng giảm tùy theo sự giàu nghèo của nhà trai và phải nộp lâu hay chóng tùy theo sự định đoạt của nhà gái.

Nhưng căn bản là người đầy tớ và ghè rượu qui.

Ngoài ra, nhà trai còn phải làm những việc sau đây :

- Cúng một con heo cho thần rừng - Cúng một con heo cho thần làng - Biếu một con heo cho những người làm chứng - Làm một con trâu để mời cả làng ăn uống Rượu trong khi làm lễ, bắt buộc phải để trong ghè rượu quí «Srung".. 4. Ly dị «Trước đây chế độ đa thê được áp dụng trong vùng, người chồng muốn lấy vợ lẽ phải được sự đồng ý của người vợ cả.

Trang sách 123Nếu người vợ không đồng ý có thể xin ly dị và lấy lại đồ sính lễ cũ. Nếu người vợ lại đi lấy chồng khác thì phải trả cho nhà chồng cũ những phí tồn trong ngày cưới.

- Phong tục của người Stiêng chấp thuận cho đôi vợ chồng bắt hòa tự ý ly dị, nhưng đã có con rồi thì không được phép tự ý nữa. . gia tộc - Khi ly dị, họ sẽ mời hai người chứng cũ và cả.

đôi bên dẫn đến tuyên bố bỏ nhau.

- Nếu người chồng khởi xướng, người vợ bằng lòng thì người chồng phải đền vạ một con lợn và một vò rượu. Khi người vợ đi lấy chồng khác gia đình phải trả lại nhà trai một nửa đồ sính lễ đã nạp trước.

Các con sẽ theo mẹ. Phần người chồng cũ phải bồi thường cho người chồng mới : từ 10.000$ đến 20.000$, nếu đã nộp sính lễ cho vợ ; nếu chưa nộp đủ, số tiền bồi thường này bằng giá mua một người nô lệ. Việc bồi thường này gọi là «Tam Ndruh» hay là «trả tiền trinh tiết».

Nếu người chồng bỏ vợ để đi lấy người khác, sẽ bị kiện và bồi thường như trên và người vợ giữ nguyên đồ sính lễ : trong trường hợp người đàn ông trốn đi, gia đình người này phải bồi thường thay.

- Nếu người vợ đòi ly dị, gia đình phải trả lại hết đồ sính lễ, những tặng phầm, những phí tồn trong ngày cưới và phải nộp một con lợn và một vò rượu. Các con theo cha.

Vì phải bồi thường nhiều như vậy, nên thường thường nếu nhà trai đã nộp đủ sính lễ rồi bố mẹ người con gái không bao giờ chịu cho con khởi xướng ly dị. 5. Ngoại tình - Đối với việc ngoại tình và thông dâm, bị trừng phạt

Trang sách 124theo tội lỗi nặng, nhẹ và tùy từng. địa phương, nhưng người đàn bà bao giờ cũng bị trừng phạt rắt nặng.

- Người chồng ngoại tình, người vợ không có quyền xin ly dị nhưng có quyền bắt vạ một con gà.

- Nếu người vợ ngoại tình, và người chồng bắt được quả tang, sự nộp vạ sẽ còn tùy theo địa điểm hành lạc của tội nhân : a) - Trường hợp ở trong rừng, với một người quen biết, gian phu sẽ nộp cho người chồng từ 10.000$ đến 15.000$ và phải phạt vạ một con lợn con và một ghè rượu. b) - Nếu gian phu là người không quen biết, thì tiền bồi thường và số vạ trên sẽ gấp đôi. c) - Trường hợp ở trong nhà: gian phụ phải nộp cho người chồng 4 con trâu và nộp cho làng một con lợn lớn cùng một ghè rượu.

Vè phần người vợ, chồng sẽ đánh cho một trận nên thân, và nếu tái phạm sẽ bị ly dị, người tình nhân hay gia đình của nàng phải lo trả lại các đồ sính lễ.

Nếu người đàn bà cứ tiếp tục có nhiều tình nhân thì bị coi như là gái chơi bời « te păng tongar ».

- Đối với người con gái bị quyến rũ tới thai nghén người con trai bị phạt tiền (từ 10.o00$ nếu không lấy người con gái, và 16.000$ nếu người con gái sinh rồi chết) rượu thịt và nuôi dưỡng người con gái cho tới khi sinh.

- Khi bị phạt, nếu tội nhân không có để nạp, phải làm tôi mọi cho gia đình người thắng kiện suốt đời. 6. Góa vợ, góa chồng a) - Người chồng chết, người vợ có thể lấy chồng khác,

Trang sách 125Khi người chồng chưa nạp đủ sinh. lễ góa phụ được tự do lựa chọn người đề tái giá. Nếu người chồng đã nạp đủ rồi , thì phải lấy người em út của chồng. Trường hợp người này có vợ rồi, góa phụ phải lấy người anh hoặc em khác, nhưng không bao giờ được lấy người anh cả.

Nếu vợ cả người em út bằng lòng, góa phụ có thế trở nên vợ bé của người em út. b) Khi người vợ chết, người chồng chưa nộp đủ sính lễ phải tiếp tục nộp đủ.

Trường hợp người chồng ở với bố mẹ vợ được tự do đi lấy vợ, nếu chưa có con cái.

Trường hợp người vợ chết vì sầy thai hay vì sinh nở và người chồng đang ở với bố mẹ vợ, muốn được tự do phải nộp đủ đồ sính lễ, hoặc một tên nô lệ và một ghè « Srung » cộng thêm một con trâu hay bò và một ghè rượu » (I). 7. Sinh nỏ Khi người vợ đến ngày sinh nở, người chồng lo mời mụ ở trong sóc đến giúp và làm lễ cúng Thần Linh. Khi sinh xong họ dùng một thứ lá nấu nước để tắm rồi lại tiếp tục làm việc như thường (Thứ lá nấu nước tắm họ kiêng cữ không nói tên cho ai biết).

Con trai sanh ra lấy họ Điểu, con gái thêm một chữ lót là Thị.

Trẻ sơ sinh độ hai ba hôm sau họ có thể đem xuống suối tắm nước lạnh không kiêng cữ gì cả. Do đó tử suất về trẻ sơ sinh tăng rất cao so với người Kinh đến 60%. (I) Tài liệu lãy ở :

Phong tục tập quán đồng bào Thượng do Nha Công Tác Xã Hội miền Thượng/PTT ăn hành năm 1959.

— Coutumier Stieng của Théophile Gerber do BEFEO xuất bản năm I95I,

Trang sách 1268. Ma chay Khi trong nhà có người chết, tang gia giết heo, gà mời bà con trong sóc đến ăn rồi chia nhau vào rừng kẻ đốn cây đẽo hòm, người đào lỗ để chôn cất. Sau khi liệm xác chết vào hòm, quan tài để tại nhà. Bà con tiếp tục đến thăm viếng vừa ăn uống rượu thịt, vừa khóc lóc thảm thương. Sau hai ngày, người ta mang người chết đi chôn.

Mộ người chết được đắp cao, lợp mái nhà phủ lên mộ và xung quanh có để vật thường dùng của người chết như : ghè rượu, tô, ná, tên, dao rừng v.v...

Sau khi người chồng chết, vấn đề chia gia tài được quyết định như sau : a) — Nếu người chồng trả đủ sinh lễ, gia tài sẽ về phần các con trưởng thành với điều kiện phải lo nuôi dưỡng cung phụng người mẹ. Trường hợp các con còn nhỏ, người mẹ quản trị gia tài của chồng để lại dưới sự kiểm soát của gia đình nhà chồng. Nếu góa phụ đi lấy chồng phải để gia tài lại cho các con. b) Nếu chưa trả đủ sính lễ, góa phụ sẽ toàn quyền thừa hưởng gia tài, trường hợp tái giá chỉ được lấy 2/3 gia tài, số còn lại để cho con. Người chồng mới cưới phải trả cho . gia • đình người chồng cũ phí tổn đám cưới. c) Nếu hai vợ chồng cùng chết, con cái còn nhỏ, gia tài sẽ thuộc về nhà chồng nếu đã trả đồ sính lễ, gia tài sẽ thuộc về nhà vợ nếu chưa đủ đồ sính lễ. d) Nếu con cái đã lớn và chưa đi ở riêng, của cải được chia đều cho các con dù trai, gái, hay con nuôi. Những người con đã lập gia đình chỉ được một phần nhỏ. 9. Tổ chức sóc làng Đứng đầu trong sóc (làng) là ông cả Xếp hay Bu nơm (chủ

Trang sách 127láng). Ông này được tất cả dân trong sóc kính nế và là đại diện cho sóc trong việc giao thiệp với chính quyền.

Trong sóc được chia ra làm ba thành phần : 1 - Kỳ mục gồm những Tộc trưởng và thân hào. 2 - Sóc dân gồm những người dân thường trong sóc không có một chức tước gì cả. 3 - Nô lệ gồm những loại như sau : a) Tù binh, con tin dân thường bị bắt trong lúc hai sóc đánh nhau, nếu gia đình họ không có tiền chuộc họ sẽ bị đem bán đi. b) Bị bắt cóc do một nhóm người ở những sóc khác lấy có rằng tổ tiên gia đình người đó xưa kia mắc nợ không chịu trả, nay họ bắt người để trừ nợ, nếu muốn được tự do phải đến chuộc, nếu không họ sẽ đem đi bán. mang tiền c) Những trẻ mồ côi hoặc con nhà quá nghèo khổ bị gia đình đem bán đi trừ nợ hoặc bán đi lấy tiền.

Những người nô lệ thường được nuôi nấng tử tế, không bị bóc lột, đánh đập, và có quyền lấy vợ.

Con cải họ sinh ra có thể làm nô lệ thay thế cho cha mẹ.

Tuy nhiên có một số nô lệ mà không ai muốn giữ lại làm tôi tớ và thường đem bán thật xa để họ không thể nào trốn được về như :

- Những kẻ sát nhân bị gia đình từ bỏ.

- Những nô lệ lười biếng.

- Những người « êak », tức là bị ma quỉ nhập.

Giá một người nô lệ thay đổi tùy theo tuổi tác, sức khỏe đàn ông hay đàn bà.

Trang sách 128Một người đàn ông hay đàn bà 30 tuổi có gia đình hoặc một đứa trẻ 12 tuổi giá trị bằng tám con bò cái và 10.000$ (con bò cái là gia súc được chọn làm đơn vị đổi chác).

Một người già hoặc một đứa trẻ con giá trị bằng sáu con bò cái.

Muốn mua một người nô lệ có thể trả bằng ghè rượu, chăn mền, lúa gạo, xe bò v.v... nhưng phải lấy một con bò cái làm tiêu chuẩn định giá. Ví dụ con trâu, con bò đực giá bằng hai con bò cái, một ghè « Srung » bằng bốn con bò cái, một cái chiêng bằng một con bò cái.

IV Đời sống tỉnh thần 1. Tín ngưỡng Như người Cao Miên, người Stiêng thờ thần NETTA, họ tạc tượng thần bằng cây và thờ trong miễu.

Miếu thường thường được dựng ở ngoài đầu sóc, có đôi khi ở trong rừng.

Người Stiêng tin rằng trái đất bằng phẳng, bầu trời là một khối cứng, sao treo bằng sợi dây, mặt trời, mặt trăng được kéo đi kéo lại bằng giây thừng.

Họ cũng tin mọi sông ngòi đều chảy về một chỗ hồng lớn.

Nơi này được canh gác cần thận, nếu chỗ hồng bị lấp sẽ có lụt lớn.

Người Stiêng còn tin có ma quỉ và cho rằng chúng thường ở bụi tre.

Eak :

Người Stiêng rất sợ những người bị ma quỉ nhập vào

Trang sách 129người và gọi người đó là êak là người chuyên mang sự đau ốm và chết chóc cho người ta và thường ăn gan người, muốn biết ai là êak họ dùng phương pháp « đồ chỉ lỏng vào tay ».

" Mỗi khi trong sóc có người đau ốm hoặc chết bất thần, dân trong sóc nghi êak là thủ phạm. Khi có người nào trong lúc hôn mê nhắc đi nhắc lại tên một người mà dân trong sóc nghi là êak, người đó phải đem ra thử « đồ chì ».

Nếu không tìm được người nào nghi ngờ là êak, các chủ gia đình cùng với một thân nhân nạn nhân, đi vào rừng. cầu thần nước, thần rừng, sau đó họ lấy một khúc tre rổng dài độ so phân mang về nhà, chẻ ra làm đôi và khoét một đường rănh nhỏ đọc theo lòng khúc tre, xong xuôi họ lấy một miếng chì to bằng hột hạt rẻ, đun chảy ra và đồ lên rãnh cây tre để nghiêng 45°. Trước cửa nhà nào họ cũng đổ chì để thử : nếu chì chảy một đường thắng tức là nhà không có êak, nếu chì đang chảy bỗng dưng đông lại và có nghạnh như sừng trâu, tức là nhà có êak.

Tiếp đến là tìm xem trong nhà người nào là êak : tất cả mọi người, trừ trẻ con, đều ngửa lòng bàn tay lên trời, tay hơi dốc xuống đất, nếu chì đỗ vào tay và trôi tuột xuống đất : người đó không phải là êak, nếu chì đông lại và làm cháy da thịt : người đó đúng là êak.

Người này lập tức bị trói lại và gia đình phải bồi thường cho người đau hay người chết mọi phí tồn, trường hợp trong sóc vẫn xảy ra những sự đau ốm bất thường, thì sóc sẽ không tha thứ cho người này nữa :

- Nếu êak là đàn ông người này bị giết ngay, con cái bị đem đi bán, người vợ được miễn tội.

- Nếu êak là người đàn bà người này sẽ bị đem đi bán cùng với con cái, người chồng được miễn tội.

Trang sách 130Điều đáng lưu ý là những người bị « thử chỉ » mà không đúng la êak có quyền đòi bồi thường tám con bò cái và một ghè rượu loại « Srung », (trị giá bằng bốn con bò cái) ». (r) Việc « thử chì » rất tốn kém nếu những người bị thử biết đến quyền lợi của mình và đòi bồi thường, nhưng thường thường người dân Stiêng rất hiền lành, chất phác nên sau khi bị thử không thấy mình bị là êak thì lấy làm sung sướng và quên đi hết mọi sự.

Cang rai Người Stiêng lại tin có cang rai, cang rai là người đã phạm vào vài điều cấm kỵ xúc phạm đến tà thần và làm cho các vị này giận dữ. Nếu người này không cấp tốc tổ chức cùng tế tạ tội với thần thì người đó phải chịu trách nhiệm tất cả những tai ương do thần trừng phạt sóc làng hoặc gia tộc.

Sau đây là một vài vụ " Lăh cang rai ». 1. Một người ở làng X sang làng Y chơi rồi chết ở đó. Làng Y phải đền cho bố mẹ người chết năm cái cồng và làm một con hẹo và một ghè rượu đề cúng.

- Nếu người đó đến làng Y để đòi nợ hay dự lễ và chết ở đó hoặc lúc trở về nhà thì chết, con nợ hoặc người đứng mời phải đền một người nô lệ và làm một con trâu hoặc một con heo dài bằng ba khuỷu tay và một ghè rượu lớn để cúng. 2. Khi bịnh dịch bắt đầu phát ra ở làng, một người ở làng A sang làng B chơi. Nếu ở làng B có người bắt đầu đau bịnh đó người làng A phải chịu trách nhiệm.

Xưa kia trong trường hợp này làng B sẽ đến đánh làng A, giết hết đàn ông, bắt người già, đàn bà và trẻ con mang đi bán (I). (I) Tục lệ người Stiêng của TH. GERBER.

Trang sách 1312. Kiêng cứ I. Người Stiêng thường tránh xa cây cô thụ (nhất là cây đa) trong rừng sâu cho rằng ma quỉ hay trú ần ở đó. 2. Thác nước cũng có ma qui cần tránh xa. 3. Khi kỳ đà, cù lần, rắn độc bò vào rẫy người sẽ bỏ rẫy ấy đi dù rằng lúa ở đó đã gần chín. 4. Khi làng mới dựng xong trong thời gian bảy ngày :

- cấm người lạ không được vào làng - cấm mang vào làng ghè rượu và một số đồ ăn đã ấn định sẵn. 5. Khi vẹt bay ở trên làng nào, làng ấy sắp bị dịch tấn công. 6. Khi vào làng, khách phải vào gặp chủ làng. 7. Khách không được vào nhà có người đau, ngoài cửa đã có một cành cây báo hiệu, nếu khách cứ vào người đau sẽ chết. 8. Khi nhà mới dựng xong, tất cả đồ ăn phải nấu nướng ở dưới sàn nhà trong vòng bảy ngày. 9. Muốn tránh ma quỉ vào nhà phải treo một tổ ong vò vẽ trước cửa nhà.

I0. Nếu con đầu lòng bị chết yểu cả nhà kiêng ăn thịt chim cu và mắm.

II. Nếu ở trong nhà có người nào hắt hơi, không nên ra khỏi nhà ngay lúc đó nếu không người đó sẽ gặp ác quỉ. 12. Nếu heo hay gà sanh 3 hay 13 con không nên nuôi. 13. Nếu gà không ở trong chuồng ban đêm, phải giết ngay ngày hôm sau.

Trang sách 13214. Một vài câu rủa phải kiêng như « Hồ sẽ ăn thịt mày ", « Đồ con hồ», " Đồ con quỉ ». Những câu này chỉ dùng để chửi những kẻ thù không đội trời chung. 3. Lễ tiết Người Stiêng thường tổ chức những lễ sau đây :

I. Lễ cúng thần NETTA vào tháng giêng âm lịch, mỗi gia đình mang gà, rượu đến miếu thờ ngoài sóc hay trong rừng cúng lễ và ăn uống tại đó. 2. Lễ cúng miếu vào tháng ba âm lịch, lễ này có tính cách chung cho cả sóc, cầu xin thần chọ sóc được bằng yên. 3. Lễ « Pha bào » hay " Ât ca » (nhiều cá) vào tháng tư, tháng năm âm lịch để cầu đánh cá được nhiều.

Cả sóc mang cá, rượu ra miếu cúng rồi đem ra nấu nướng và ăn uống với nhau. 4. Lễ mừng lúa mới vào tháng chạp âm lịch, tùy theo giầu nghèo, mỗi gia đình giết trâu bò hoặc heo gà cúng lễ, chiêng trống, ca hát, ăn uống tưng bừng liên miên đến hai ba ngày.

V. Đời sống kinh tế 1. Canh tác Người Stiêng canh tác theo lối làm rẫy, chặt chồi, đốt dọn, làm cỏ xong rồi trỉa lúa, bắp, mè. Bắt đầu từ tháng giêng họ chặt đốt dọn cho đến tháng 4 mới bắt đầu trỉa mãi đến tháng 9, 10, 11 mới gặt hái.

Người Stiêng quen với lối sống du canh, du cư nên một rẫy chỉ trồng tối đa được ba mùa (ba năm), rồi lại phải dời đi nơi khác phá dọn rẫy mới, và nếu muốn trở lại rẫy cũ phải đợi chín hoặc mười năm sau đất rẫy cũ mới phục hồi màu mỡ.

Trang sách 133Lúa trồng được họ quen dùng gạo ở trong các ché thành rượu uống liên miên, do đó đến các tháng giáp hạt (3,4, 5) thường hay đói, thiếu gạo ăn. 2. Săn bắn và đánh cá Ngoài việc làm rầy, săn bắn và đánh cá là hoạt động chính trong đời sống người Stiêng. Họ đánh cá suốt năm và nhất là trong mùa mưa. Ở một vài nơi họ còn dùng tên độc đề bắn cá và bắn thú.

Ngoài những công việc trên, họ còn trồng ít cây ăn trái, và đan gùi, rổ, nơm đánh cá, bẫy đánh thú. 3. Mức độ giàu có a) Sự giàu có của dân trong sóc được đo lường bằng số lượng nô lệ, con cái, trâu bò mỗi người dân có.

Ngoài ra những thứ sau đây cũng là vật và đồ đáng kế :

- voi - những ghè rượu quí như cêk rung, srung, và djri loại ghè cêk rung, srung là loại rất cở, có lẽ làm ở bên Cao Miễn.

- những chiêng, cồng có núm ở giữa hoặc không có núm.

- xe bò b) Một người nô lệ trị giá bằng sáu cho đến mười con bò cái hoặc từ ba đến sáu con trâu.

Một con voi cái được đồi lấy sáu người nô lệ, một con voi đực đổi lấy tám người nô lệ.

Một ghè «cêk rung» bằng ba hoặc bốn người nô lệ.

Một ghè «srung» bằng ba cho đến chín con bò cái.

Một ghè «djri» bằng hai cho đến ba con bò cái.

Trang sách 134Một bộ cồng cô gồm sáu chiếc giá trị bằng một cho đến bốn người nô lệ.

Một bộ cồng thường bằng bốn đến tám con bò cái. c) Khi người nào mua một người nô lệ, một con voi, hay một ghè «cêk rung» người đó phải làm lễ cúng một con trâu và một ghè rượu, nếu mua một vật hay một đồ gì giá trị kém giá một người nô lệ thì chỉ phải làm lễ cúng một con heo và một ghè rượu thôi.

VI. Kốt luận Đồng bào Stiêng là đồng bào Thượng sống sát với đồng bào Kinh ở miền Nam và có một lịch sử tranh đấu chống ngoại xâm rất anh dũng.

Địa vực cư trú tương đối không đến nỗi hiệm trở như các • nơi khác đã giúp đỡ cho sự liên lạc và giao thông với người Kinh được dễ dàng, đã tạo nhiều cơ hội cộng tác với người Kinh trong việc chiến đấu cũng như mở mang vùng đất sinh sống và đã mang lại cho đồng bào Stiêng nhiều tiến bộ tốt đẹp.