NGƯỜI M' NÔNGPhần 7 · trang 109–118

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Thiếu bản chữ của 1 trang trong phần này (118). Xin đọc các trang ấy ở bản chụp.

Trang sách 109NGƯỜI M' NÔNG " (mờ-nông) 1. Giới thiệu 1. Địa Vực cư trú và dân Số Người M' nông sinh sống ở tỉnh Quảng Đức (13.533 người), phía nam tỉnh Darlac (14.177 người) một ít ở tây Lâm Đồng và bắc Phước Long..

Tông số ước lượng 36.000 người. Ở phía bên kia biên giới Việt Miên, có độ 12.000 người M' nông (tiếng Miên gọi là P' nông) sinh sống ở tỉnh Chlong thượng.

Sắc tộc M' nông được chia thành nhiều sắc tộc nhỏ :

- M' nông Rlam ở phía nam quận Lạc Thiện (Darlac) ở hạ lưu sông Cái (Krông Ana) và sông Đực (Krong Knô), thích sống ở dưới chân núi nơi có sông hồ.

- M' nông Gar ở phía đông nam quận Lạc Thiện, thích sống ở trên núi cao.

- M' nông Dibri ở tả ngạn Ea Krong, phía tây Banmêthuột - M' nông Preh ở tả ngạn Ea Krông, phía tây nam Banmê thuột và ở quận Đức Lập (Quảng Đức).

- M' nông Nông ở quận Kiến Đức và Khiêm Đức (Quảng Đức) - Bunor ở về phía nam khu vực người Nông - Budông ở vùng Ba Biên Giới - Dip ở về phía nam Đức Lập (Dakmil cũ)

Trang sách 110- Burung ở về phía đông khu .vực người Dip. 2. Gốc tích và nhân dạng Người M' nông thuộc giống Indonésien, tiếng nói thuộc loại Môn Khmer.

Người M' nông cao trung bình ith6o, nặng vào khoảng 55 ký, tóc đen và quăn, da ngăm ngắm đen, tính tình chậm chạp, lạnh lùng và hung dữ.

Người ta vẫn thường coi người M' nông ở phía nam và người Sédang ở phía bắc là hai sắc tộc hiếu chiến nhất ở trên miền Cao Nguyên.

II. Nếp sống cá nhân 1 Quần áo và trang sức +)àn ông, đàn bà M' nòng đeu đóng khố, rộng độ 20 phân và dài trên I tước. Ngày nay, đàn bà M' nông đã biết quấn yệng, nhất là ở những nơi gần quận lỵ Đức lập, Kiến đức, tỉnh ly, Gia Nghĩa, dọc theo quốc lộ 14 họ còn biết mặc yếm che ngực.

Trong những dịp lễ tết, đàn ông mặc thêm một cái áo ngắn không cô, hở bụng và đàn bà thường thường quấn yêng mầu • tím đỏ.

Trang sức của họ là những vòng đồng đeo chồng chất ở cồ tay và cổ chân, càng giàu bao nhiêu càng đeo nhiều bấy nhiêu. Ở cồ họ đeo chuỗi hạt cườm đen trắng xanh đỏ.

Trẻ con đến tuổi trưởng thành họ cà răng cho bằng và căng lỗ tai cho to để đeo những miếng ngà voi hay những miếng gỗ quí, dọ đó mới có danh từ « Thượng cà răng, căng tai ». 2. Cách ăn uống • Người M' nông thường ăn bốc. Mỗi khi đi đâu xa họ cho

Trang sách 111cớm vào trong giỏ đan bằng tre, lúc ăn họ dùng tay bốc cơm, chấm với muối. Muối, cá khô là món ăn thông dụng của họ.

Ngày nay ở một vài nơi họ đã biết dùng đũa chén.

III. Đời sống xã hội 1. Xã giao Người M' nông không hiếu khách nhiều như các sắc tộc khác. Xưa kia mọi xâm nhập vào địa vực M' nông sẽ bị tiêu diệt, ngay người lạ mặt vào săn bắn, đánh cả trong khu vực của họ sẽ bị giết ngay.

Tuy nhiên nếu có liên lạc trước, hoặc có khách qui vào Buôn, họ không ngần ngại lấy ngay rượu ra, cắm vài cần tre vào, lấy nước suối đồ đầy ghè và mời khách uống rượu. Trong khi đó, họ đánh còng chiêng bùng bình tỏ vẻ kính trọng khách. 2. Tổ chức gia đình Trong xã hội M' nông, người đàn bà làm chủ trong gia đình.

Người đàn bà có nhiều quyền hơn người đàn ông vì lý do huyền thoại sau đây :

« Hồi tạo thiên lập địa, Trời dựng nên người đàn ông đặt ở trên núi, và người đàn bà để ở bờ biển. Người đàn ông cảm thấy cô đơn và xuống núi đi tìm người đàn bà ; khi Trời thấy hai người ở với nhau, Trời phạt người đàn ông, bắt người này sống mãi mãi với người đàn bà và phải ở dưới quyền người này ».

Gia đình là tổ chức căn bản của người M' nông và sinh sống ở trong dãy nhà sàn cùng với những gia đình khác cùng một sắc tộc (cùng họ).

Trang sách 112Con cái sinh ra đều lấy họ mẹ và thuộc về họ mẹ chứ không thuộc về bộ tộc người cha.

Tuy nhiên có điều đáng chú ý là mặc dầu người đàn bà làm chủ bộ tộc, có khi là chủ làng nhưng bên cạnh có những vị « cố vẫn, quan tòa » là đàn ông và họ đóng vai trò thật quan trọng, mọi quyết định đều phải có ý kiến của họ và thường thường những ý kiến của họ quyết định mọi vấn đề. 3. Nhà cửa Người M' nông cất nhà dài, thấp, mái gần sát mặt đất ; mỗi buôn chỉ có vài cái nhà dài độ hai ba mượi thước, ngăn ra từng căn cho mỗi gia đình.

Mỗi ngăn được chia ra ba phần : phần trong làm giường ngủ, ở giữa là bếp, phần ngoài để đồ ăn và vật dụng.

Nhà cửa người M' nông được làm rất cần thận đều đặn, khung nhà được đẽo gọt cần thận và được cột bằng mây chắc chắn, cột nhà thường thường là gỗ sao, phên bằng tre đan lát rất mỹ thuật theo hình vuông, quả chám, ngôi sao.

Nhà cửa thay đổi tùy theo các sắc tộc nhỏ ! Buôn của người Nông gồm ba dãy nhà, xếp theo hình tam giác, đầu nhà dựa vào sườn đồi, cuối nhà có cột chống đỡ.

Buôn của người Rlam là những dãy nhà dài, mỗi gia đình có một cái vườn nhỏ ở gần. Nhà của người Rlam làm giống theo nhà người Rhadé nhưng không theo hướng bắc nam.

Buôn của người Gar gồm những nhà dài độ 40 th, một đầu nhà được dùng làm nơi để lúa và vật dụng chung chứ không để từng ngăn riêng, xung quanh nhà được khai quang để dễ phòng thú dữ. Trong buôn có giồng nhiều cây ăn trái.

Trang sách 113Người Preh tương đối tiến bộ hợn, họ làm nhà sàn cao ráo sạch sẽ như người Rhadé : gia súc không ở dưới sàn nhà mà được ở trong chuồng làm ở gần đó. 4. Cưới xin Việc cưới xin của người M' nông tương đối giản dị, đội trai gái chỉ việc trình bố mẹ và bố mẹ đôi bên ấn định ngày cưới ; tuy nhiên việc trao đồi của hồi môn là quan trọng, nhà trai phải mất nhiều của hơn nhà gái.

Cưới xin xong, đôi trai gái ngăn phên ở riêng một căn trong nhà sàn dài hoặc dựng một căn nhà mới. Nhưng thường thường và nhất là ở sắc tộc Gar đôi vợ chồng phải đến nhà mẹ vợ ở ít nhất vài năm, sau đó mới được ra ở riêng. 5. Sinh đẻ Khi người sản phụ đến kỳ sinh nở, người chồng cắt cho vợ một cái chời riêng biệt để sanh tại đó.

Khi sanh xong, bà mụ trong buôn cho sản phụ uống vài loại lá và rễ cây hái trong rừng và độ một tuần sau, sản phụ mang con về nhà và tiếp tục làm công việc hàng ngày. 6. Ma chay Khi trong nhà có người chết tang quyến đánh công chiêng báo cho làng hay để đến chia buồn và giúp đỡ trong việc ma chay.

Trong khi thân nhân người chết lo việc ngả trâu, bò cúng lễ và sửa soạn khâm liệm người chết, dân làng đi kiếm cây về làm áo quan và tìm nơi đào lỗ để chôn cất.

Khi mọi việc sửa soạn xong xuôi, tang quyến và dân làng lần lượt làm những lễ cúng như san :

- Lễ rửa ráy và mặc quần áo cho người chết.

Trang sách 114- Lễ liệm người chết với những đồ vật dụng hàng ngày của người chết.

- Lễ chôn cất.

Những lễ này được tồ chúc giống như người Rhadé, nhưng có điều khác biệt là người chết trong gia đình được chôn cùng ở một nơi và khi họ làm lễ bỏ mả họ làm chung một lượt. 7. Nô lệ Người M' nông xưa kia thường tổ chức đi đánh cướp người ở các sắc tộc khác đem về làm nô lệ hoặc mang đi bán ở chợ người ở Sambor và Kratié bên Cao Miên.

Lệ này đã bị ngăn chận và cấm đoán cách đây độ 5ơ năm, nhưng việc nuôi nô lệ hãy còn. Nhà càng giàu thì càng có nhiều nô lệ.

Con cái nô lệ sinh ra sẽ thành nó lệ. Ngày tay nô lệ không bị hành hạ, hoặc mang bán đi như xưa và được coi như là người làm trong nhà.

IV. Đời sống tinh thần 1. Lỗ cúng và kiêng cữ Đồng bào M' nông không thẹo một tôn giáo nào mà trái lại thờ rất nhiều thần : thần trời, thần đặt, thần lửa, thần núi, thần sông, thần cây, thần hô, v.v... Có thần rất tốt, có thần rất ác vì vậy người M' nông phải luôn luôn cúng tế các vị này để được phù hộ và không bị phá hại.

Có việc gì quan trọng xảy ra là họ phải nhờ thây cúng để thầy chỉ cho phải cúng cái gì và cúng ai.

Trong công việc trồng trọt họ phải kiêng cữ rất nhiều ; họ tin rằng thần lúa luôn luôn ngự trị trong rẫy vì vậy phải tránh

Trang sách 115nế nhiều nơi trong rẫy và không được xử dụng những dụng cụ lạ và bén nhất là những dụng cụ bằng sắt, bằng thép : đó là nguyên nhân người M' nông không dám cải tiến lề lối canh tác và cam chịu cảnh thiếu thốn triền miên. Trong những ngày giáp hạt và trong những năm mất mùa họ rất đói khô và chỉ còn cách vào rừng tìm măng, đào củ mài, đánh bẫy vài con thú sống qua ngày. Đôi khi đói quá, họ phải tô chức những cuộc đánh cướp ở các sắc tộc khác nhất là sắc tộc Rhadé để lãy thực phầm và bắt nô lệ về đem bán.

Ngoài việc kiêng cữ người M' nông phải cúng kiếng rất nhiều để các vị thần phát cho nhiều lúa và ban nhiều sức khỏẻ.

- Cúng gieo lúa Trước khi gieo lúa họ giết gà và đem rượu ra cúng «YANG», cúng thần để cho được mùa.

- Cúng cây lúa : khi lúa lên được hai tấc, họ lại cúng để cầu cho lúa chóng lớn và tránh nạn thú rừng sâu bọ phá hoại.

- Cúng sau mùa gặt : sau khi gặt hái xong đồng bào M' nông lại tổ chức cúng tế trọng thể, và sau lễ cúng là đình đám, đánh chiêng, đánh trống, các cuộc vui liên tiếp hàng tuần.

Trong dịp lễ nay đồng bào Thượng giết nhiều trâu, bò, heo, gà, để mời bà con làng xóm xa gần đến chia vui.

Cúng sức khỏe Lễ cúng được tổ chức vào khoảng tháng 3 dương lịch. Trái với các lễ cúng trên có tính cách tập thể, lễ cúng sức khỏe có tính cách riêng cho mỗi gia đình. Tùy nhà giàu hay nghèo họ giết trâu hay giết gà đề cúng thần.

Cúng chữa bệnh Mỗi khi đau yếu đồng" đào M'nông đều cúng để cầu xin

Trang sách 116« YANG » và thần giúp họ được lành bệnh, thuốc men với họ chỉ cho là phụ thuộc.

Việc cúng tế trong lúc đau yếu do thầy phù thủy chỉ dẫn, nhiều khi phải giết trâu, heo, hay gà để cúng.

Ngoài sự cúng tế, đồng bào M'nông còn lắm dị đoan. Họ tin những việc sau đây là những điềm sẽ đem lại cho họ những điều chẳng lành : mang kêu, gà đẻ ban đêm, heo đẻ ba con, đàn bà sanh dọc đường, rắn vào nhà, trăn vào làng, đang phát rẫy gặp khỉ chạy qua, người lạ mặt vào rẫy lúc đang gieo lúa. 2. Lễ tết Người M'nông không có lễ tết nào nhất định, thường 2, 3 năm một lần, bốn, năm làng tụ họp nhau lại ngả trâu, đánh cồng gióng chiêng, nhảy múa, ca hát linh đình.

Tồn phí trong dịp lễ, các làng thay phiên nhau gánh chịu.

Có khi họ ăn hết làng này sang làng khác, cuộc vui kéo dài hàng tháng.

Xưa kia, hồi còn loạn lạc, người M'nông mỗi lần đi đánh cướp về lại tồ chức cúng tế, ăn uống linh đình đê cám ợn thần giáo mác, cung tên đã mang lại may mắn cho họ.

V. Đời sống kinh tế Người M'nông sinh sống bằng nghề làm rẫy trên các ngọn đồi, kỹ thuật trồng trọt của họ rất đơn giản; về mùa nắng họ đốn cây, để cho khô rồi đem đốt đi : tro còn còn lại dùng làm phân bón đất. Kki mưa bắt đầu, họ lấy cây tre nhọn, chọc lỗ và gieo lúa.

Đến mùa gặt, đàn bà ra tuốt lúa bằng tay, cho vào gùi đem về cất trong nhà sàn.

Trang sách 117Lúa trồng trên đồi nên rất mau chóng bị nước cuốn đi vì thế cứ vài ba năm họ lại chọn nơi khác làm rấy.

Kỹ thuật thô sơ, năng suất rầy kém, mỗi năm làm có một mùa nên lúa không có đủ dùng cho hàng năm. Ngày nay người M'nông còn biết trồng thêm hoa màu phụ như bắp khoai, sắn đậu. Có nơi biết trồng cả cây có trái như chuối, đu đủ, cam chanh hoặc cây kỹ ngệ như bộng gòn, thuốc lá.

Ngoài việc trồng trọt họ cò biết sắn bắn, và đánh cá. Người M'nông Gar rất giỏi về săn bắn và cách đi tìm thú. Người M'nông Rlam giỏi về đánh cá và làm nhiều thuyền độc mộc rất tốt. Người Budông là những thợ săn voi lành nghề và gan dạ.

Người M'nông còn nuôi súc vật như : trâu, heo, gà, dê và đặc biệt là voi, vịt. Họ còn làm thêm gùi, rồ, ghè rượu, nhạc cụ và vũ khí.

VI. Kết luận Trong các sắc tộc trên Cao Nguyên, sắc tộc Khatu ở phía cực bắc và sắc tộc M'nông ở phía cực nam là hai sắc tộc chậm tiến nhất. Chậm tiến vì không có cơ hội tiếp xúc với bên ngoài, nhưng nhìn lại 40 năm trước ta thấy họ tiến bộ rất nhiều và tương lai khi thanh bình trở lại, quốc lộ 14 thông thương dễ dàng, lè lõi canh tác được cải tổ, cán bộ xây dựng miền Thượng được đào tạo kỹ càng, các đồng bào trên có cơ hội sẽ theo kịp các sắc tộc khác để cùng « đồng tiến theo nhịp sống của đất nước».