NGƯỜI DJARAIPhần 5 · trang 56–92
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 56NGƯỜI DJARAI (Da-rai) I. Giới thiệu 1. Gốc tích và địa vực cư trú Sắc tộc Djarai là một trong những sắc tộc đông dân nhất ở Cao Nguyên miền Nam.
Truy tầm nguồn gốc huyết hệ và nghiên cứu về sự cấu tạo thể chất thì người Djarai thuộc giống Indonésien, còn về ngôn ngữ các nhà khảo cứu xếp loại tiếng Diarai vào ngôn ngữ Malayo- Polynésien, đó là danh từ để chỉ chung những thổ ngữ có cùng một nguồn gốc như tiếng Ma Lai, Chàm, Rhadé, Roglai, Churu...
Sắc tộc Djarai có hơn 150.000 người, sống rải rác ở miền Nam Kontum (10.920 người) gần khắp tỉnh Pleiku (96.196 người) và Phú Bồn (22.146 người) một phần phía bắc Darlac (5.278 người) và phía tây Phú Yên (7.633 người). Có một ít người Djarai sống ở bên Ai Lao thuộc tỉnh Bo Kham gần ranh giới Lào Việt (Pleiku). Như vậy ta có thể xem Pleiku là trung tâm cư trú của người Djarai.
Sắc tộc Djarai gồm những sắc tộc nhỏ sau đây :
- Djarai Pleiku ở tỉnh Pleiku ước lượng độ 96.196 người.
- Djarai Cheoreo ở tỉnh Phú Bốn ước lượng độ 22.146 người.
— Djarai Aarap ở tây bắc Pleiku và tây nam Kontum, ước lượng 2000 người.
Trang sách 57- Djarai H' drung (Hớ đờ-rung) ở đông bắc Pleiku và đông nam Kontum ước lượng 8.000 người.
- Djarai Kbuan ở phía tây Pleiku.
-- H'roi (Hờ roi) lại giữa hai giống Djarai và Rhadé có nhiều huyết thống Djarai hơn Rhadé. Người H' roi có độ 7.633 người, sống ở tây Phú Yên (6.385 người), tây nam Bình Định (450 người) và tây bắc Phú Bốn (798 người).
- M'dhur (mờ-đua) lại giữa hai giống Rhadé và Djarai, có nhiều huyết thống Rhadé hơn Djarai. Người M' dhur có độ 2.603 người sống ở Phú Yên và tây bắc Khánh Hòa.
- Hàlang lai giữa hai giống Sédang và Djarai có nhiều huyết thống Sédang hơn Djarai. Người Hàlang có độ 10.000 người sống ở phía tây nam Kontum và ở ranh giới Lào Việt thuộc tinh Attopeil. 2. Nhân dạng Người Diarai thường thường cao lớn từ Ith6o đến Ith70, ngực nở, tay chân to lớn. Dạ ngả từ mầu nâu nhạt sang mầu đen ngăm ngăm. Mắt nâu nâu, mũi rộng. Tóc đen thỉnh thoảng lại hung hung do sự thiếu Vitamin gây nên. Có nợi người có tóc thật cứng, có nơi người lại có tóc loăn xoăn.
Người Djarai đi bộ rất khỏe, gùi được nhiều ; nhưng nếu ta bắt họ chạy bộ hay khuân vác một cái gì thì họ chịu thúc thủ vì họ không quen sử dụng tay chân vào việc đó. 3. Tính tình Nói đến người Thượng là chúng ta nghĩ ngay đến những con người chân thật trong nếp sống bình dị sơ khai.
Người Djarai cũng mang đậm sắc thái chung của con người
Trang sách 58sơn cước đó. Tuy nhiên, nếu ta đã tiếp xúc nhiều với đồng bào trong các sắc tộc khác, đến khi sống với người Djarai, chúng ta phải thành thật nhận rằng người Djarai thiếu sự thật tình ngay thẳng trong mọi giao tế hàng ngày. Đặc biệt người Djarai Cheoreo vẫn còn giữ được bản tính nhân hậu của họ.
Nói chung trong xã hội người Thượng, nạn trộm cướp, lường gạt ít bao giờ thấy xây ra, nhưng đối với các làng Dirai đó không phải là hiếm. Có khi hàng đàn bò của làng nạn này bị người làng khác đến lùa đi, những chiếc vò cúng cho agười chết ngoài nghĩa địa đêm đêm thường có người đến đánh cắp là sự thường.
Bên cạnh những tính xấu đó, người Djarai lại có nhiều đức tính đáng khen. Người đàn ông Djarai can đảm và hăng say chiến đấu, đó là ảnh hưởng truyền thống anh dũng của những thế hệ trước. Đặc biệt ở những vùng đồi thưa phía nam quận Lệ Thanh, tây quận Phú Nhơn, bắc Bandon, họ cưỡi ngựa phóng lao rất giỏi.
Theo các nhà sử học, vào những thời xa xưa, tô tiên người Diarai là những chiến sĩ gan dạ, họ đã từng cùng với người Rhadé chống lại quân Chiêm Thành dữ dội trước khi dời bỏ vùng duyên hải lên sinh sống tại miền Cao Nguyên.
Ngày nay, một vài bia của người Chàm ở Bình Định có nói đến những cuộc chiến tranh giữa người Chàm và người Mada (tiếng Chàm gọi người Djarai là Mada).
II. Đời sống cá nhân 1. Quần áo Không kể những lối phục sức phức tạp mà đồng bào Thượng trong nhiều năm gần đây đã chịu ảnh hưởng của người miên xuôi, lối ăn mặc thuần túy của người Djarai thường rất
Trang sách 59đơn giản. Lúc ở nhà và đi làm rẫy, người đàn ông mang khố và ở trần, những lúc về phố chợ gặp người Kinh hay đi đâu xa họ quấn thêm chiếc mền hay tấm vải rộng bên ngoài.
Người đàn bà Djarai cuốn " yêng", một kiếu váy quấn nửa mình, dài tới đầu gối, mình để trần nhưng đôi khi cũng mặc áo cánh cụt hay dài tay có nhiều vạch ngang màu trắng và đỏ.
Người Diarai ít thích màu sắc lòe loẹt như phần đông các sắc tộc khác, họ chuộng màu đen và màu chàm. Vải dệt bằng sợi bông nhuộm đen hay chàm với những sọc dài màu đỏ hoặc trắng.
Những lúc hội hè, người Djarai có một loại lễ phục đặc biệt, họ quấn thêm hai dung vải màu sặc sỡ chéo nhau trước mình, đầu vấn khăn cắm nhiều lông chim lá, hoa... Cổ đeo rất nhiều chuỗi hạt cườm, những chiếc vòng đồng hay bạc. 2. Cà răng căng tai Người Thượng có một quan niệm « thấm mỹ rất kỳ quái ».
Đôi với họ một người đẹp không phải là người có hàm răng ngà đều đặn. Hàm răng " duyên dáng » của thanh niên Djarai là một hàm răng được mài cụt nhẵn mấy chiếc rằng của hàm trên. Người Sédang, Bahnar thường cà hết sáu cái răng cửa, người Djarai thường chỉ mài bốn cái cũng có khi cả sáu cái.
Một người Djarai trưởng thành mà không cưa răng đề mài cho nhẫn sẽ là một đề tài cho chúng bạn châm chọc hài 1 tuổi hước. Do đó, dầu biết là nguy hiểm, đau đớn nhưng đến trưởng thành, người thanh niên nam nữ Djarai đều phải xin cho được cưa răng để được gọi là đẹp.
Một khi người con trai hay gái đã lấy đủ can đảm và quyết định rồi, họ sẽ chọn một ngày lành tháng tốt để cưa răng.
Người thanh niên đó nằm trên một đống rơm, bãi cỏ hay ngay
Trang sách 60trong nhà, một người đàn ông khỏe mạnh dùng một cái cưa nhỏ, lưỡi bén đặt vào hàm trên của « nạn nhân» và bắt đầu cưa như người ta cưa gỗ. Lưỡi cưa xoèn xoẹt trong miệng, máu ra lênh láng. Bạn bè vây quanh khuyến khích an ủi, vài người nắm giữ tay chân người chịu tội đó cho đến khi mấy chiếc răng cửa đã rụng hết. Người thanh niên muốn làm đẹp đó có khi không đủ sức chịu đựng, có khi chết ngất, lại không biết giữ vệ sinh, nên mồm bị nhiễm độc, sưng thối rồi chết vài ngày sau đó.
Ngày nay, tục cà răng của người Thượng vẫn còn nhưng nhờ sống gần gũi với người Việt, đồng bào Thượng đã bỏ dần phong tục nguy hại đó. Đồng bào ở nhiều nơi đã biết là cưa răng không đẹp, họ làm những chiếc răng vàng để thế vào hàm rằng. mài nhẵn hồi trước.
Bên cạnh tục cà rằng, người Djarai còn có tục căng tai bằng những khoanh ngà voi vào trái tai. Ban đầu họ xâu ở trái tai một lỗ nhỏ như người đàn bà Việt Nam ngày trước xâu tai để đeo trầm hay bông tai. Nhưng mỗi năm họ thay một khoanh ngà lớn hơn một chút vào lỗ đó. Năm này sang năm khác dần dà có khi lỗ xâu ở vành tai rộng đến có thể nhét những khoanh ngà đường kính to bằng đồng bạc.
Tục cà răng căng tai của người Thượng vừa là để làm đẹp. vừa là để được mọi người công nhận mình đã lớn, đã đến tuổi kết hôn. Ngày nay ở những sơi gần người Kinh hay gần thành thị tục lệ này đã được hủy bỏ dần dần. 3. Những chiếc vòng đồng và lối ghi tuổi của người DJaral Người con trai cũng như người con gái Djarai đều thích đeo những chiếc vòng đồng rủng rỉnh ở cườm tay.
Có nhiều vùng, người đàn bà con gái đeo vòng đầy cả cánh tay ngoài, tất cả những chiếc vòng đó tượng trưng sự giàu có
Trang sách 61của họ. Loại vòng này có khi họ đeo rời từng chiếc, có khi từ cườm tay lên đến khỉu tay chỉ là một sợi đồng được cuộn tròn thành nhiều vòng.
Theo tục lệ Djarai, khi đứa trẻ mới sinh đầy một năm thì cha mẹ làm lễ đeo vòng cho nó, thường phải làm thịt một cop gà để cúng thầy. Người thầy cúng dùng dao khắc một vòng nhỏ trên chiếc vòng đeo cho đứa bé. Năm sau họ lại khắc thêm một vòng nữa, cứ thế mỗi năm khắc một vòng cho đến khi người con trai hay gái được 20 tuổi thì họ sẽ làm một lễ lớn, giàu thì giết trâu heo, nghèo cũng làm gà đề cúng thần. Từ đó người con không còn là trẻ nhỏ nữa mà đã thành niên và cũng từ đó chấm dứt không khắc dấu trên chiếc vòng đồng nữa. Người Djarai cũng khắc dấu trên vòng đồng mỗi khi đi đâu xa mà bị bệnh bất ngờ. Họ bày lễ vật cúng thần linh rồi dùng dao khắc một vạch trên vòng đeo tay, cầu mong thần linh phù hộ cho chóng khỏi bệnh.
Người Thượng tính năm tháng theo mùa trăng, một năm cũng có 12 tháng, tháng giêng (tháng I) của người Djarai vào khoảng đầu tháng 3 dương lịch.
III. Đời sống xã hội 1. Xã hội Người Djarai cũng như người Thượng ở hầu hết các sắc tộc khác đều rất hiếu khách. Phòng khách của họ là một bếp lửa ngay chính giữa nhà.
Bất kỳ khách lạ hay quen đến nhà cũng được chủ nhân mời ngồi bên bếp lửa, mời hút thuốc, uống rượu cần nói chuyện xóm làng mưa nắng.
Đó là đối với khách thân sơ thường, nếu khách lại là quan đình nồng hậu hơn. chức " nhà nước » cuộc tiếp rước linh Chủ nhân ngả ngay heo gà, thổi nồi cơm nếp thơm ngon thiết đãi khách, tặng khách những quả trứng thật tốt.
Trang sách 62Khách muốn được vừa lòng chủ cần phải thật tình. Người Thượng thường có nhiều tự ái, họ thực lòng tiếp rước khách, mời khách đi thăm buôn, thăm ruộng rầy, mời khách uống rượu ăn thịt... Nếu khách từ chối, họ tưởng là mình khinh khi và không mấy lúc trở nên có ác cảm với khách. 2. Nhà ở Người Diarai quy tụ trong những " buôn » nhỏ, chung quanh không có rảo dậu như một vài sắc tộc khác ở Cao Nguyên. Tuy nhiên ở những buôn sống cạnh rừng có thú dữ lại thường được rào kín đáo.
Người Djarai sống trong những nhà sàn hai từng hình chữ. nhật, hay vuông, nhưng đa số đều làm nhà theo hình chữ nhật hơi dài hơn nhà của người Bahnar, trục nhà thường hướng về phía Nam hay Bắc Nam. Tại Pleiku nhà thường trổ một cửa lớn ở giữa để ra vào, nhiều nhà làm thêm một cửa phụ ở phía trái để lấy ánh sáng.
Phần lớn nhà của người Djarai không có hiên ở trước cửa ra vào như nhà của người Bahnar. Muốn vào nhà người ta qua. một cái thang đẽo bằng một thân cây thành từng bậc đặt ngay từ cửa vào xuống đất. Trong làng, đôi khi cũng có vài nhà có hiên ở phía trước cửa. Cũng có nơi trổ cửa phía đầu nhà, phên vách của người Djarai đan bằng những nẹp tre chẻ nhỏ và đều.
Từng dưới sàn là nơi dùng để chứa củi, nuôi thú vật và chứa những dụng cụ vặt vạnh.
Ngày trước mỗi gia đình người Thượng chỉ chiếm một khoảnh đất nhỏ làm nhà, không có vườn tược, rào dậu phân chia thửa đất riêng của mỗi nhà. Ngày nay người Djarai đã biết chia đất làm vườn trồng cây ăn trái, rau cải... Bên cạnh nhà, họ đã biết làm những chòi nhỏ để chứa nông cụ, chuồng
Trang sách 63để nuôi trâu, heo, dê. Ngày trước trâu bò thường cột giữa trời mặc dầu mưa nắng.
Cũng như các sắc tộc miền Bắc Kontum, mỗi buôn Djarai đều có nhà làng gọi là nhà Rông. Nhà Rông ngắn hơn nhà thường nhưng rộng hơn, mái cao dốc thẳng và hẹp. Có nhiều làng nhà Rông cũng nhỏ bằng nhà thường chỉ khác là mái cao hơn, bên trên đỉnh nhà trang hoàng bằng những hình đan hay những góc uốn cong đặc biệt. Cớ làng làm đến hai nhà Rông, một để hội họp cúng tế, một dùng để họp việc làng như để phân xử các vụ xích mích, làm việc canh phòng an ninh... Ngày nay người Djarai gọi đó là nhà «thông tin», đó cũng là nơi để các người con trai chưa vợ tập trung lại làm việc hàng ngày, và đêm ngủ lại đây. Một vài nơi cả thanh niên nam nữ độc thân đều tập trung tại nhà Rông nhưng mỗi phái ngủ riêng một nơi.
Tuy sống trai gái gần gũi, nhưng những chuyện ái tình vụng trộm bị phong tục lên án gắt gao và lệ làng phạt vạ tất nặng nên ít khi có những chuyện trai gái lộn xộn xảy ra. Những người nào đã nên vợ chồng đêm khỏi phải ra ngủ nhà Rông Người đàn bà ly dị cũng được ra ở nhà Rông như người con gái chưa chông. 3. Tổ chức xã hội và gia đình Về tổ chức hành chánh, chúng ta thấy các sắc tộc Thượng thường giống nhau.
Mỗi làng có một vị đại diện cho dân làng gọi là chủ làng.
Chủ làng được dân chúng bầu lên dựa vào công nghiệp, lòng can đảm và uy tín của người đó đối với dân làng. Hiện nay, thường thường chủ làng là cựu quân nhân vì dân làng cho rằng những người này can đảm (đã đi lính), biết nhiều và giỏi liên lạc giao thiệp (biết tiếng Pháp và Việt).
Ngày nay, nhiều làng nhỏ hợp thành xã, thành ấp Chiến lược và đã sát nhập vào các quận hành chánh.
Trang sách 64Cách tô chức xã hội Djarai gần giống như chế độ To Tem.
Mỗi làng gồm nhiều tôn tộc (Clan), mỗi tôn tộc lấy tên một loại thú vật hay cây cối, cũng có khi lấy tên một vật hay một sự việc gì đề gọi một tôn tộc có vị tộc trưởng. Người trong một tôn tộc không được lấy nhau.
Về sự tồ chức gia đình người Djarai theo chế độ mẫu hệ, con cái lấy họ mẹ và được hưởng gia tài của mẹ, Họ của người Djarai tức là tên của mỗi tôn tộc, thành thử danh từ «họ» mà ta dùng đây hơi có vẻ gượng ép. Giữa họ và tên của người đàn bà con gái Djarai bao giờ cũng có một chữ «H», giống chữ thị của người Việt Nam hay Trung Hoa, ví dụ tên Rama H' Bia, tức là người đàn bà hay cô gái này thuộc tôn tộc Rama (tê giác) tên là H' Bia, tên của người đàn ông thì thay thế chữ H bằng chữ Y. Thường bao giờ người ta cũng chỉ gọi tên người đó mà thôi, ví dụ cậu Y Rit, cô H' Bia... Do đó nhiều người lầm tưởng Y hay H là họ của người Djarai nhưng thật ra đó chỉ là một loại chữ lót giữa họ và tên như những chữ văn, đình, chữ thị trong họ của người Việt (Nguyễn văn... Lê đình... Trần thị...). 4. Cưới xin Vì theo chế độ mẫu hệ nên khi hai bên trai gái quyến luyến nhau, nhà gái phải cậy mai mối đến dạm hỏi gia đình người con trai để xin cưới cậu rễ về cho con gái mình. Mỗi khi hai bên cha mẹ đã ưng thuận lễ cưới sẽ tiến hành ít ngày sau đó và nhà gái phải chịu mọi tồn phí. Người mối đem đến nhà trai một chiếc vòng đeo tay để làm sính lễ. Sau đó vài hôm, lễ rước rề được cử hành giản dị : chàng trai khăn gói theo người mai mối đến nhà cô gái. Đến nơi, người mối tự tay giết một con gà và chia cho cô dâu chú rể mỗi người một miếng gan gà còn sống để ăn ! Xong hai cô cậu uống rượu chung một vò, người mối và cha mẹ nhà gái ăn hết phần thịt gà và uống cạn vò rượu. Thế là xong phần nghi thức, sau đó nhà gái ngả một con dê mời trai làng đến ăn uống. Ngoài ra có nơi người Djarai còn tồ
Trang sách 65chức lễ cưới phức tạp hơn. Trong lễ cưới, nhà gái giết trâu, lợn hay dê, lấy huyết hòa vào rượu để cô dâu chú rế thề nguyền trước thần linh. Một vị thầy cúng đứng giữa hai họ lẩy vài cọng rơm dúng vào vò rượu vảy ra chung quanh, vãi nắm gạo vào bếp lửa rồi lầm rầm khấn vái thần linh, cầu xin phù hộ cho đôi trại gái được nhiều hạnh phúc. Tiếp theo là tiệc cưới linh đình.
Từ ngày đó, người con trai phải ở luôn nhà vợ và làm việc nhà cửa ruộng rẫy cho gia đình vợ như một nàng dâu của chế độ phụ quyền.
Thời gian sống chung với gia đình cha mẹ vợ là ba năm (ngày nay do đôi vợ chồng định đoạt), sau đó tự ý muốn ra ở riêng hay tiếp tục sống với cha mẹ vợ là tùy ý hai vợ chồng.
Trường hợp người vợ chết trước mà hai vợ chồng không sinh được người con gái nào thì của cải người vợ phải trao lại cho cha mẹ hay chị em gái của người đàn bà quá cố. Người chồng xấu số và những đứa con trai mồ côi mẹ không được hưởng gì hết, nếu người đàn ông muốn ra ở riêng hay trở về làng cũ thì cha con dắt díu nhau trở về sinh sống nơi làng cũ của mình với hai bàn tay trắng.
Nếu người vợ chết trước mà hai người đã có con gái, người chồng được ở lại nhà cha mẹ vợ với con mình và vẫn được hưởng mọi quyền lợi như trước.
Trường hợp người đàn ông "góa bụa» muốn «bước thêm bước nữa" thì một mình đến ở nhà vợ mới, giao con lại cho gia đình người vợ cũ với tài sản của mẹ chúng ngày xưa. Thân phận người con trai Diarai bị khở sở chẳng khác gì số phận đàn bà Việt Nam trong những ngày xưa cũ. ngườ Thường thường người đàn ông góa vợ có con cái và trong gia đình vợ có người em gái chưa chồng thì cô em sẽ là vợ
Trang sách 66kế của người anh rể sau khi anh chàng mặn tang vợ. Dụng ý của tục lệ này là cốt để người em gái tiếp tục trông coi con cái và tài sản của người chị đã mất. Tục lệ này không phải là một bó buộc; dầu đã có con gái, người đàn ông chết vợ vẫn có thể thoát ly gia đình vợ cũ để «tái gián với một người đàn bà khác khi thấy cô em vợ không hợp với mình.
Chúng ta vẫn tưởng rằng chỉ có người văn minh là hay rắc rối, ưa đồi thay trong đời sống lứa đôi nên mới có những cuộc ly dị. Đồng bào Djarai cũng có tục ly dị như người Kinh trong thời trước.
Nếu trong gia đình có sự bất hòa, hai vợ chồng thấy không thể nào sống chung được nữa, phong tục cho phép họ đưa nhau ra «tòa» để xin ly dị. «Tòa» họp ở nhà làng, thành phần "phán quan» gồm có vị chủ làng và hội đồng gia tộc đôi bên. Về quyền lợi của hai bên đương sự cũng được phân định theo tục lệ cô truyền. Nếu người chồng khởi xướng việc ly dị thì phải trả lại cho vợ tất cả những của cải mà nhà gái đã dẫn cưới. Người chồng ly dị ra đi với của cải riêng mình. Nếu bên khởi tố xin ly dị là người vợ thì người đàn bà phải chịu mất cả của cải đã dùng trong lễ cưới để lại cho người chồng ly dị.
Phong tục không định rõ ràng trường hợp người nào gâv ra những sự lộn xộn làm tan vỡ gia đình thì phải chịu những sự đền bồi và hình phạt như thế nào. 5. Sinh đỏ Hầu hết trong các sắc tộc người Thượng vấn đề sinh đẻ rất luộm thuộm và không hợp vệ sinh. Đó cũng là một nguyên nhân khiến cho đồng bào Cao Nguyên thưa thớt và sống mãi trong tình trạng thiểu số.
Đến thời kỳ sinh sản, người đàn bà Djarai phải xuống tầng nhà dưới sàn, bên cạnh những gia súc bần thỉu. Có khi
Trang sách 67sản phụ phải ra ở những chời làm xa nhà bên cạnh rừng. Trong làng cũng có bà mụ lo việc hộ sinh. Nhưng thật ra chỉ là một người đàn bà đến với sản phụ cho có bạn và để liên lạc với thần linh cầu xin cho người đàn bà sinh nở được mẹ tròn con vuông. Bà mụ không có một dụng cụ, một phương tiện thuốc men nào cả, chỉ ngồi chờ thiên nhiên làm việc. Để rồi nếu công việc êm xuôi, bà mụ nhận của gia chủ một tấm vải choan gọi là trả công hộ sản, cúng một vò rượu một con gà để lễ tạ thần linh.
Nếu chẳng may việc sinh nở khó khăn bá mụ chỉ việc bày lễ vật cúng lạy thần linh hoặc cầu xin phù hộ.
Nếu việc sinh nở được êm đẹp, ba hôm sau, sản phụ tắm rửa sạch sẽ rồi mới được ăm con trở về nhà. 6. Việc ma chay Khi gia đình nào có người chết, người trong làng liền giúp tang gia đi kiếm một khúc cây to (thường là cây bông gạo) đem về đục lỗ khoét bên trong cho rỗng như hình chiếc mõ dài.
Khi liệm để nghiêng người chết cho lọt vào đến khi chôn thì lật ngửa xác lên.
Tùy theo nhà khá giả hay nghèo, gia chủ giết trậu, bò, heo hay dê, gà để cúng lễ cho người chết và mời dân làng đến ăn nhậu.
Tuần chay ma kéo dài hay ngắn tùy theo sự giàu nghèo của tang chủ. Nghèo thì ba bốn hôm, giàu có khi lâu đến 10 ngày.
Nhiều khi xác chết đặt trong nhà đã rữa ra hôi hám người ta mới cho vào hòm để liệm. Người chết cũng được chia của gia tài như người sống. Phần của người quá cố được đem theo đến mồ cho người chết. Người ta đập bẹp những nồi niêu, bát chén, thanh la rồi để lên trên mồ. Người Djarai tin rằng người chết sẽ dùng những đồ vật ấy ở thế giới khác.
Sau khi chôn xong người chết, tang chủ lo sửa dọn ngôi mồ
Trang sách 68rất cần thận. Ngay trên mộ họ làm một kiều nhà nhỏ bằng tre và gồ. Mái nhà thon và thấp gần chấm đất, chiều cao vào khoảng bốn hay năm thước. Mái bằng tre đan, trên đỉnh có hình hoa và người.
Ngày nay, nhiều nơi mái nhà mò lợp bằng những lá tôn có in màu sặc sỡ, trên đỉnh có hình các loài thú vật dê, trâu, có nới họ cắt tôn thành hình tàu bay, hình những người lính Pháp, có khi cả hình hai con ròng uốn khúc đứng chầu mặt trăng.
Đây là lối trang hoàng nhà mồ của những làng Djarai sống gần người Việt, họ bắt chước lối kiến trúc « lưỡng long chầu nguyệt » trong các đình chùa Việt Nam.
Nhà mồ không có vách, dưới tà thấy một hình người bằng gỗ cao chừng 30 hay 40 phân. Có lẽ đó là hình người chết. Bên cạnh có hình người đàn bà, lưng đeo gùi, tay đeo nhiều vòng đồng (nhiều nơi trong nhà mồ không có hai hình người này). Quan hhai hình người kể trên ta thấy bày đủ thứ đồ dùng hàng ngày của người chết, như đĩa để đựng cơm, bầu đựng nước, nỏ, cái gối đầu, cái cuốc. Những đồ này được làm bằng gỗ và nhỏ bé bằng kích thước của hai hình người. Phía trên mái họ lại treo lủng lẳng những nhạc khí thô sơ như chiếc đàn, ống sáo...
Chung quanh nhà mò có hàng rào gỗ hình vuông. Đặc điểm là chỉ có những ngôi mộ người Djarai mới có loại hàng rào này, mỗi phía chừng năm thước. Mỗi thân cây phần chôn sâu xuống đất còn cao độ một thước. Hàng rào có khi làm bằng những cây gỗ đường kính tới 40 phân. Trên nhiều cây gỗ người Djarai tạc những hình người rất sơ sài nhưng không thiếu linh động, đó là hình những người đàn bà ngồi khóc, hai tay dựa trên đầu gối và bàn tay ôm lấy cằm. Bốn góc thường có hình người đứng, cao lớn, đó là hình các người lính Pháp mũi cao, đầu đội mũ lưỡi trai, hai tay bỏ vào túi quần. Cũng có khi xen lẫn vào hình một người đàn bà Âu tây, họ lấy rêu hay rong ủ lên đầu tượng đó để giả làm tóc quăn của người Âu.
Về những tượng gỗ tạc hình người Âu trang hoàng chung
Trang sách 69quanh nhà mồ, có người cho rằng nó không có một ý nghĩa gì hết, đó chỉ là những sản phẩm mỹ thuật của người Djarai dùng để trang hoàng cho ngôi mộ. Nhưng thật ra những hình tượng đó không phải là vô ý-nghĩa và chúng cấu tạo nên bởi tâm lý đơn sơ của đồng bào sơn cước.
Bình thường đồng bào Thượng nề sợ và khâm phục người Pháp, họ dựng những hình tượng người Âu chung quanh nhà mò mục đích để trấn áp ma quỷ và cho dân chúng kiêng dè không dám đến phá phách nơi yên nghỉ của người chết.
Những cổ áo quan dùng để chôn người chết không phải chỉ để chôn một người và một lần thôi, thường thường đồng bào Djarai dùng một chiếc hòm để chôn nhiều người trong gia đình, nhất là để chôn vợ và chồng. Về sau nếu có một người mới chết, người ta không cần tìm hòm mới, chỉ việc đưa xác người đó đến mò cũ, rồi đào áo quan lên nhét thêm xác mới vào trong.
Nhiều khi xác chết mới được chôn vài ba tháng, trong gia đình lại có người chết, người ta đào quan tài ra, xác cũ mới vừa rữa thành nước, hội hám, họ múc đồ ra ngoài, dồn hết xương thịt vào một góc rồi đặt xác mới vào. (Ở vài vùng găn Cheoreo). Để cho khỏi nhờm tởm trong khi bốc xác chết, người làm mồ uống rượu thật say rồi tha hồ thọc tay vào trong hòm hôi hám nhầy nhục không e ngại gì cả.
Bởi lối chôn cất phản vệ sinh như vậy nên đồng bào Djarai thường hay mắc những bệnh truyền nhiễm như bệnh phong hủi (cùi), bệnh ghẻ lở...
Sau khi chôn cất và trang hoàng cho ngôi mộ xong người Djarai săn sóc, dọn cỏ rác cho ngội mộ trong thời gian một hay vài năm, sau đó họ làm lễ bỏ mồ.
Từ ngày bỏ mồ, người ta không còn lai vãng săn sóc đến nữa.
Lễ bỏ mồ này được tổ chức khi nào người vợ hay chồng của kẻ
Trang sách 70quá cố có đủ súc vật đề giết làm lễ. Có khi phải đợi đến ba hay năm sau mới làm lễ bỏ mồ. bốn Khi nào chưa làm lễ, người chồng hay vợ phải ở vậy chưa được tái giá.
Trong khi làm lễ, người góa không được phép uống rượu chung với những người đã có vợ chồng và trai gái trong làng.
Theo đúng phong tục, trước khi làm lễ bỏ mồ vài tháng, người góa chỉ được phép buôn bán đổi chác lấy tiền để làm lễ bỏ mồ. Tuy nhiên phần đông người Djarai không theo đúng như vậy, người có tang vẫn đi buôn bán như thường, chỉ để dành lần lần một số tiền sau này làm lễ bỏ mồ. Nếu không để dành tiền như thế, người Diarai sợ mang nợ với người chết và người chết sẽ báo thù bằng cách làm cho những người vi phạm tục lệ đó mắc chứng hủi (cùi) hay bại.
Trước ngày hành lễ, những thú vật dùng tế lễ phải được buộc từ đêm hôm trước ở cạnh mồ. Tất cả người trong làng đều đến bên mộ và thức suốt đêm. Cũng như người các sắc tộc khác, người Diarai tin rằng trong ngày hôm đó linh hồn người chết trở vẽ nhập vào pho tượng gỗ đặt ỏ trên mồ. Sau lễ, linh hồn người chết sẽ đem những thú vật bị giết hôm làm lễ theo mình về thế giới bên kia. Tượng những người đàn bà ngồi khóc quanh mồ đều trở thành nô lệ của linh hồn người chết.
Lễ bỏ mồ cũng là một dịp cuối cùng để những người còn mắc nợ người chết phải trả hết, nhưng thường thường họ trả với một giá rất rẻ tượng trưng.
Những người được thừa hưởng gia tài của người chết phải làm lễ cúng tế người đó, nếu không sẽ bị mất quyền hưởng thụ.
Về việc cúng giỗ ông bà cha mẹ đã quá cố thì không nhất định vào những ngày nào đó trong năm, có khi một năm cúng một lần, có khi họ để hai ba năm tùy sự sung túc của gia đình.
Trang sách 717. Vắn đề y tố Đa số đồng bào Thượng bị bệnh tật rất nhiều, thuốc men lại không có, đau ốm chỉ trông vào cúng tế các vị thần linh và một vài thứ cỏ lá kiếm ở trong rừng. Số người chết yếu lên rất cao.
Riêng đối với đồng bào Djarai, tỷ lệ đau ốm còn cao hơn các sắc tộc khác. Thường thường họ bị bệnh sốt rét, lao phồi, phong cùi, kiết ly, đau gan.
Bệnh sốt rét chiếm 90%, bệnh đau gan, ruột, dạ dày chiêm 85% và riêng bệnh phong cùi chiếm 10%.
Mỗi khi bệnh dịch xảy ra ở một nơi nào là tai họa lớn lao cho nơi đó : có khi cả làng chỉ còn sống sót vài ba người, hoặc cả làng sợ hãi di cư đi nơi khác bỏ lại con bệnh ngoắc ngoải chờ chết một mình, Vấn đề trị bệnh lại là vấn đề khó khăn nữa, đồng bào Thượng không nhớ mặt thuốc và cách dùng thuốc, có khi thuốc phát cho hai ba ngày, lúc mang về nhà là lấy ra uống luôn một lượt; hoặc có khi quen thuốc, thỉnh thoảng không đau ốm gì họ cũng ra quận, tỉnh xin vài viên thuốc uống chơi; vì thế muốn trị bệnh hữu hiệu phải đào lạo nhiều y tá Thượng và lập nhiều bệnh xá • cấp quận để bệnh nhân đến đó ăn, ở và điều trị. Đồ ăn mà gia đình của họ mang đến cũng phải kiêm soát kỹ lưỡng nếu không sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân, vì họ không ý thức được sự kiêng khem. Có những gia đình Thượng đi viếng thăm thân nhân của mình là quân nhân nằm ốm ở quân y viện, nhìn trước nhìn sau rồi cho người bệnh một gói quà; nếu ta tò mò để ý khi quà mở ra thì thấy đó là một miếng thịt trâu cứng hoặc một trâu hoặc có khi một con chuột kho để đã lâu chút phân non ngày mùi hôi xông lên nồng nặc và người đau lấy ra ăn thêm trong những bữa cơm thật là ngon lành. Mặc dầu đã được huấn luyện cặn kẽ về vệ sinh trong đời sống quân ngũ và sinh sống
Trang sách 72đã với người Kinh trong đơn vị, người quân nhân Thượng không bỏ được thói quen trên thì những người dân thường ở nơi xa lánh không thể kiêng khem đúng mức và tránh thoát được cảnh chết chóc.
Vấn đề vệ sinh trong các buôn Thượng Djarai cũng là một vấn đề nan giải : trâu bò, heo gà súc vật ăn ngay ở đưới sàn nhà, trên nhà rận rệp, ruồi muỗi đấy rẫy, trong nhà tối om, xung quanh nhà rác rưới tràn ngập, nước nôi thiếu thốn, nhất là về mùa hạ sông suối gần như khô cạn.
Thêm vào đó việc ăn uống lại thất thường, khi rượu say bí tỉ, ăn uống sống sít, khi thiếu gạo, thiếu bắp, tất cả làm cho sức khỏẻ của người Diarai yếu kém, trẻ sơ sinh chết nhiều, người bệnh tật chết yêu, và những người khỏe chỉ sống trung bình đền 55 hay 6o tuổi là cùng.
IV. Đời sống tinh thần I. Những vị thần linh Trước khi các giáo sĩ đạo Thiên Chúa đặt chân lên Cao Nguyên miền Nam, người Thượng ở đây không có một tôn giáo nào chính thức. Tín ngưỡng của họ là những tin tưởng của con người sơ khai, mang nhiều tính chất mê tín dị đoan.
Ngoài một vài sắc tộc có những vị thần độc tôn như dòng Teu ở Quảng Trị, Thừa Thiên và sắc tộc Stiêng ở Phước Long, Quảng Đức, đa số đồng bào Thượng đều là những người đa thần.
Những hiện tượng hàng ngày xảy ra quanh họ, hiện tượng nào sức người không thể giải thích nổi họ tin là do bàn tay của thần linh hay ma quỉ gây nên.
Thường thường người Thượng đều tin có nhiều vị thần. mà họ gọi chung là «Yang» hay «nhang». Yang có thể giáng phúc
Trang sách 73hay gieo họa cho mọi người, do đó trước khi bắt tay vào một việc gì quan trọng họ thường phải giết heo, gà, dâng lên Yang để cầu xin phù hộ. Họ tin rằng Yang luôn luôn ngự trị trong vùng rẫy bái ruộng nương, do đó nương rầy trở thành một nơi thiêng liêng có nhiều điều cần phải kiêng cữ. Cũng vì đó mà đồng bào Thượng không dám cải tiến lề lối canh tác cô truyền sợ Yang không bằng lòng. Ngày trước công việc canh tác của họ rất vất vả mà hóa lợi không gặt hái được bao nhiêu. Công việc làm mùa ở mãi trong tình trạng thô sơ cổ hủ đó nên thường thường đồng bào Thượng hay bị lâm vào nạn đói kém.
Một lý do khác của nạn đói là cứ mỗi mùa khi gặt hái xong, đồng bào Thượng dùng ngay thóc gạo gặt được làm những vò rượu, còn thừa bao nhiêu lúa họ mới để dành ăn dần trong nặm. Làm rượu xong, họ luôn luôn tổ chức những buổi họp đề uống rượu cần bàn chuyện nắng mưa. Mỗi khi có khách lạ đến nhà, chủ nhân bê vò rượu đặt giữa nhà mời khách cùng uống. Nếu là khách sang và ở lại đêm, có khi cả làng hay mấy nhà lân cận cùng mang rượu đến góp phần. Họ đặt những vò rượu quanh bếp lửa bập bùng rồi mời khách cùng quây quần chuyện vẫn và hút rượu cho đến khi say mèm.
Đối với đồng bào Thượng, nhà giàu phải là nhà có nhiều trâu dê, nhiều chiêng đồng và những vò rượu. Những vò này là một loại ghè có nhiều tai, nườc da vàng sậm màu cánh gián hoặc màu gan gà, chung quanh vẽ hình hoa lá hay hình đuôi rồng, bên ngoài tráng men láng rạn nứt. Có nhiều loại vò khác nhau, cái nhỏ bằng chiếc trĩnh, có cái lớn bằng chiếc lu nhưng hẹp hơn.
Vò càng cũ, nước da sậm, nứt nẻ nhiều là quý. Sở di những vò này có giá trị như vậy vì đồng bào Thượng tin rằng đó là những linh vật đo thần linh tạo ra.
Ngày nay những vò này đều do người Việt làm rồi đem lên bán cho đồng bào Thượng. Nhiều nơi khi có người chết, họ đem chôn luôn những chiếc vò mà người ấy thường dùng lúc
Trang sách 74sinh thời ở chung quanh mộ, trong vộ họ đựng những dụng cụ vặt vãnh của người chết, hay họ dùng để cắm hoa...
Người Diarai cũng liên kết với các vị thần linh như đồng bào Thượng khác. Việc liên kết nồi danh nhất của người Djarai là việc liên kết của hai vị Patau Pui (Hỏa Xá) và Pa tau Ya (Thủy Xá), và những người kế nghiệp của họ đó: 2. Mê tín và kiêng cứ Cú kêu Người Việt Nam ở thôn quê thường tin rằng mỗi lần, nghe cú kêu bên nhà tức là trong nhà sắp có chuyện chẳng lành xầy ra, thế nào cũng có người chết hay đau ốm. Do đó, ta có những câu tục ngữ :
Cú kêu ra ma. hay Mèo kêu động rú cú kêu mạ.
Trái lại người Djarai tin rằng khi có cú kêu ở đầu nhà thì có phước. Đêm đêm cú kêu đầu nhà, người nào nghe trước phải đánh thức mọi người trong nhà dậy quay mặt về phía có tiếng cú để đón nhận điềm lành.
Nhưng nếu cú lại kêu ngay trên đầu, họ tin là sắp có tai nạn, có người chết.
Ma lai Người Djarai rất sợ R' nung tức là Ma Lai, một thứ quỷ gia truyền nhập vào người ta. Nếu họ biết có người Ma Lai trong làng, họ luôn luôn lánh xa và dấu kín con cái của họ trong nhà
Trang sách 75Khi con cái họ bị đau ốm họ không cho ai biết con họ đau ở chỗ nào, họ sợ Ma Lai biết sẽ nhằm chỗ bị đau đó hút máu, Khi họ biết đích người nào bị Ma Lai nhập vào và làm hại gia đình họ, họ liền ám sát người này hoặc mang ra trình làng để làng làm phép thử.
Nếu người bị thử đúng là Ma Lai thì làng sẽ đem giết đi ; có nơi còn giết cả gia đình người này nữa (về chi tiết, xem tài liệu đọc thêm « Ma Lai » ở phần 1).
Chớp hồn Những người Djarai ở nơi xa xôi, hẻo lánh rất kiêng chụp ảnh. Họ cho rằng người nào bị chụp ảnh tức là bị chớp mất hồn và người đó sẽ yếu đau dần đi rồi chết.
Cữ làng Người Diarai cũng có tục kiêng cữ toàn làng. Khi ta tới một làng nào mà trên đường đi có một hàng rào tre hay một bụi cây mới trồng là làng đó đang ở trong thời kỳ kiêng cữ. Nếu có việc gì khẩn cấp phải báo cho làng hay thì cứ đứng ở chỗ đánh dấu • cấm mà kêu, chủ làng sẽ ra tiếp nhận. Việc kiêng cữ này lâu vài ba hôm và có khi tới hàng tuần.
Kiêng bếp Khi ta vào nhà người Djarai nếu thấy vật gì lạ ta đừng có sờ mó vào khi chủ nhân chưa cho phép và nhất là khi ngồi ở bếp lửa, ta phải tránh ngồi lên những hòn đá để gần đó hoặc lấy củi xà đầy những hòn đã kê bếp, những hòn đá này đều đã được cúng kiếng và hiện là tai mắt của các vị thần linh đã liên kết với gia đình này.
Trang sách 763 Những ngày lễ tết Người Dirrai không ăn Tết vào những ngày đầu tháng giêng như người Việt, ngày Tết của họ có thể là cuối tháng chạp, tháng giêng hoặc tháng hai âm lịch. Họ chỉ ăn Tết sau khi tuốt lúa xong. Ngày Tết cũng là ngày người Diarai làm lễ bỏ mồ. Do đó những ngày đầu năm của họ thường được tồ chức ngoài nghĩa địa. Đêm trước Tết dân trong buôn đã rộn rịp chuần bị mừng Xuân, trai tráng trong làng đem thanh la và trống ra ngoài nghĩa địa thay phiên nhau đánh liên hồi như để thức tỉnh hồn ma và kêu gọi yêu quỷ, thần linh cùng về ăn Tết với họ. Nghe tiếng trống chiêng, dân trong buôn lục tục trở dậy rủ nhau đến nghĩa địa dự lễ.
Vùng nghĩa địa từ lâu cô tịch ẩm u, là giang sơn của loài ma quái, bây giờ trở thành nhộn nhịp tưng bừng.
Ánh đuốc bập bùng từ các nẻo đường trong buôn đồ về qui tụ quanh những nhà mồ bấy lâu hiu quạnh, âm u. Những ngôi mộ được sửa dọn sạch sẽ và trang hoàng trông vui mắt.
Họ cắm quanh mộ những cành tre trên cột những miếng vải trắng hoặc đỏ phất phơ.
Ngay trước mồ họ dựng một cây nêu cao vút, bên trên còn vài chòm lá lưa thưa cột lủng lẳng những tượng gỗ, những bùa chú đỏ xanh. Dưới chân cây nêu họ xếp tròn những vò rượu thơm ngon. Rồi đó tùy theo sự giầu nghèo, có đám giết trâu bò, có đám làm dê, gà để cúng tế. Dân trong các buôn lân cận lục tục men theo ánh đuốc tìm đến nghĩa địa. Họ mang theo những vò rượu làm bằng lúa mới tuốt được và những lễ vật đến góp với gia chủ rồi cùng cúng vái vong linh người ở dưới mồ và các vị thần linh.
Họ cầu xin các vị thần phù hộ cho linh hồn những người quả cố và khóc lóc kêu xin linh hồn người chết chứng giám tấm lòng thành kính của họ trong mãy năm qua, và xin linh hồn
Trang sách 77hãy đi ở chỗ khác vì nhà mồ chật hẹp, để cho họ bỏ nhà mồ, từ đây không săn sóc nữa. Sau khi cúng kính và khấn vái xong, họ tin là những linh hồn dưới đó đã hài lòng và chịu nhận lời cầu xin rồi, mọi người ngả thịt ra ăn uống. Những thú vật dùng để tế lễ được chọc tiết ngay trước mộ: trâu, lợn thì thui bằng củi, gà thì luộc liền lúc đó.
Trước mồ một bếp lửa lớn được nhen nhúm lên, từng toán trai gái ăn thịt, uống rượu sau đó rủ nhau vây quanh ánh lửa hồng múa hát nhịp nhàng theo tiếng trống chiêng rộn rịp.
Trong lúc đám thanh niên say sưa trong điệu nhạc, lời ca thì các cụ già ngồi quây quần, chậm rãi xẻo thịt trâu nướng trên bếp lửa, vừa nhai ngon lành, vừa hút rượu, vừa nhìn, nghe, thưởng thức những vũ điệu cô truyền dân tộc, nhớ lại những ngày son trẻ xa xưa.
Họ vui vẻ say sưa suốt đêm, say họ lăn ra ngủ ngay cạnh bếp lửa, tỉnh dậy họ lại tiếp tục ăn thịt, uống rượu múa hát và chuyện trò cho đến sáng rồi đến chiều tối hôm sau. Hết đám này họ kéo nhau sang đám khác, không khí tưng bừng kéo dài cho đến hết tháng hai tháng ba tiếng chiêng trống cứ bập bùng rộn rã khua động cảnh núi rừng vốn lặng lẽ đìu hui trong những mùa trước.
Mùa Xuân của đồng bào Djarai là mùa no say vui nhộn, đây là mùa xum họp của những người còn sống và những người đã chết.
Hết những ngày say sưa họ lại trở về với ruộng rẫy khô cằn, lúa trong lẫm đã vơi đi nhiều rồi, những ngày sau no đói họ không cần biết nữa... Mùa Xuân năm sau tiếng trống bập bùng với vò rượu ngọt lịm lại quyến rũ họ vào cuộc vui không kể đến ngày mai.
Ngoài những ngày Tết đầu Xuân, người Djarai còn một ngày lễ khác được tổ chức vào khoảng tháng 8 tháng 9 ta.
Trang sách 78Người Kinh thường gọi ngày lễ đó của đồng bào Djarai là lễ " đầu phục ». Vào dịp đó, dân trong buôn chung nhau một con heo lớn để tế lễ. .
Họ dựng một cái dàn thô sơ bằng cây hay bằng tre trước cồng đi vào buôn. Làm thịt heo xong, đầu heo cùng với lòng ruột đem lên đặt trên dàn. Củng xong người Diarai chỉ ăn thịt và lòng heo, còn cái đầu cứ đề mãi trên dàn cho đến khi thối rục và dàn sập mới thôi. Tiếp sau buồi lễ, họ bắt đầu vào những ngày kiêng cữ. Một sợi chỉ đỏ căng ngang cồng làng, họ cấm mọi sự ra vào làng. Vài hôm sau hết cữ họ mới tháo sợi chỉ đỏ ra, sự lưu thông lại tiếp tục bình thường. Trong thời gian kiêng cữ đó, người ở buôn ngoài muốn vào thăm một người trong buôn chỉ được đứng ở cồng làng nhờ người gọi vào trong để tìm người mình muốn gặp. Hai người, kẻ bên trong, người bên ngoài sợi chỉ ngăn cách đó nói chuyện với nhau. Những khách lạ đến buôn trước ngày lễ phải đợi cho xong những ngày kiêng cữ mới được ra khỏi buôn.
Vào khoảng cuối xuân đầu hè, người Diairai còn tồ chức một ngày hội, gọi là hội « vui cối xay ». Cũng như những buôi hội hè khác, đây là một dịp để người trong buôn hội họp cúng thần, rồi giết trâu bò, gà, lợn và cùng nhau ăn uống say sưa.
Xong thanh niên nam nữ lại quây quần nhảy múa ca hát những điệu nhạc của núi rừng. Nhạc cụ cổ truyền của người Diarai là trống, thanh la, cồng, sáo, kèn và đàn.
Thanh niên nam nữ Djarai thường hát những bài ca kể lại sự tích thần thoại hay những lời ca ngợi ái tịnh trai gái.
Những bài hát được lưu truyền với nhịp điệu từ ngàn xưa, đơn sơ, bình dị như tiếng gió thì thầm qua khe lá, tiếng thác rạt rào bên thung lũng xa xa...
V. Đời sống kinh tế Đời sống kinh thế của người Diarai chỉ dựa vào việc làm
Trang sách 79rầy trồng lúa, mỗi năm một mùa. Cũng như ở các sắc tộc khác lúa thường không đủ dùng hàng năm vì có trồng dư họ cũng mang ra ủ men làm rượu uống thật say sưa trong những dịp lễ mừng lúa mới, bỏ mả, cưới, tang v.v...
Người Djarai biết trồng hai thứ lúa ; lúa tẻ và lúa nếp và hoa màu phụ như: ngô, đậu, lạc, (đậu phụng), bầu, bí. Họ cũng có nuôi súc vật nhưng chỉ để dùng trong việc cúng tế, đôi khi họ mang ra chợ đánh đồi lấy vật dụng hoặc thực phẩm. Lúc nhàn rỗi, họ đan gùi, dệt vải nhưng vải và gùi của họ không đẹp và tốt bằng các nơi khác nên thường bán giá rẻ.
VI. Kết luận Sắc tộc Diarai là một sắc tộc đông người nhất ở miền Thượng và cư trú ở ngay trung tâm Cao Nguyên, nằm vào những vị trí then chốt như An Khê, Pleiku, Cheo Reo, thung lũng sông Ba, quốc lộ 19 nối dài từ Qui Nhơn đến Stung Treng bên Cao Mên.
Những yếu tố địa lý chính trị quan trọng này đã tạo cho người Djarai một chỗ đứng quyết định trên miền Cao Nguyên.
Muốn đứng vững mạnh người Djarai phải để tâm nhiều . trong việc học tập để thành cán bộ tốt và để ý nhiều đến vấn đề giữ vệ sinh, phòng bệnh đề những thế hệ sau này được lành mạnh và đông đảo.
Trang sách 80Phần đọc thêm LỄ TẾT CỦA NGƯỜI DJARAI VÀ RHADÉ Trong những lễ Tết của đồng bào Thượng Rhadé và Djarai có 3 loại lễ tết sau đây là quan trọng hơn cả :
- Lễ ăn cơm mới (Hua esêi mrão) - Lễ uống mừng năm mới (Mnăm Thun) - Lễ bỏ mả (Mnăm lui Msat) 1. Lễ ăn cơm mới (Hua êsêi Mrâo) Khoảng tháng to dương lịch mùa gió sắp đến lúa bắt đầu chín. Có nơi chín sớm, có nơi còn xanh.
Mỗi gia đình đem gùi ra tuốt lấy một vài gùi lúa chín sớm, đem về phơi, giã lấy gạo, tồ chức lễ Hua êsêi Mrão.
Tùy theo sự giàu nghèo người ta giết gà, giết heo hay giết dê.
Lễ vật được đặt ở giữa nhà gồm một hay hai choé rượu cần cột chặt vào một chiếc cọc, thịt và cơm để trên lá hay trên bát đĩa.
Gia chủ hoặc thầy cúng khăn áo chỉnh tề ngồi sồm trước lễ vật hai bàn tay chấp lại miệng khấn như sau :
« Lạy thần Mtao Kla, thần Hbia Klu, thần Aê Du, thần Aê Diê, đã ban cho chúng con hạt giống, nào lúa, nào kê, nào vừng.
« Chúng con cung thỉnh chư vị thần từ phía đông giải Ngân Hà nơi nguồn gốc của lúa, của vừng, của kê. Xin chư vị thần
Trang sách 81giáng lâm chứng giám lúa Hdrô đã già, lúa Bla đã chín. Xin chư vị thần thưởng thức lễ vật gồm trứng gà, gạo Bla mới.
" Lạy thần Aệ Mghi ở dưới đất, thân Aê Mlăn ở trên trời, chư thân coi sóc hạt giống nào kê, nào vừng, nào lúa xin cho chúng con mỗi năm đầy gùi đầy vựa. . " Chúng con tuốt một bông lúa được đầy một năm tay, tuốt một bó lúa được đấy một gùi. Xin chư thằn đem lúa trồng những trái bấu đến làng phía tây, đem lúa trồng những bọc vải đến làng phía đông, đồ lúa tràn trẻ đây gùi, đầy vựa nào lúa cũ, nào lúa mới, chồng chất lên nhau, lúa đồ tràn tới nóc, ứ đầy khắp nơi. Xin chư thần đừng bao giờ để cạn lúa, trong vựa lúa cũ lúa mới luôn luôn chồng chất lên nhau.
" Chúng con kêu gọi chư vị thần suối nhỏ chảy trong các khe, chư vị thần sông lớn chảy trên sườn núi, hết thảy chư vị thần sông suối về hưởng thịt gà, lúa mới, lúa đầu tiên.
"Trên đây là những lời khấn của chúng con, xin hết »..
Lễ xong lằn lượt mọi người uống rượu cần, bắt đậu từ ông bà, cha mẹ khách khứa, họ hàng rồi đến con cháu. Người ta vừa uống vừa ăn cho đến bao giờ choé rượu cần đã nhạt, thịt gà, thịt heo, thịt dê, cơm mới không còn mới thôi.
Lễ ăn cơm mới được tô chức lần lượt hết nhà này đến nhà khác suốt mùa lúa chín chừng nào hết mùa gặt thì thôi.
Các sắc tộc Thượng đã theo Thiên Chúa giáo như đồng bào Bahnar ở Kontum không còn cúng như trên, nhưng cũng vẫn duy trì tục lệ uống rượu cần, giết gà, heo dê như cũ.
Riêng những đồng bào theo đạo Tin Lành đã bỏ uống rượu, nhưng lê cơm mới vẫn được tổ chức trọng thể, không cúng thần, chỉ cầu nguyện tạ ơn Chúa và uống nước ngọt thôi.
Trang sách 82Trong những dịp lễ ăn cơm mới, từng đoàn con trai, từng đoàn con gái rủ nhau tụm năm, tụm ba đi từ nhà này sang nhà khác uống rượu ăn thịt, ăn cơm, mặt đỏ tưng bừng nô đùa vui vẻ. 2. Lễ Mnăm Thun Đồng bào Thượng Rhadé có câu ca dao :
- Leh đặ êngoh, doh puôt, khuôt êa hlim hjan.
- Phung anak Edê Ga khăng hua blăm, mnăm thun, bỡng. un kbao.
- Hết lạnh rồi, lúa tuốt xong, nước mưa nguồn đã cạn.
- Đồng bào Thượng thường ăn lễ lớn, uống mừng một năm, giết trâu, giết heo.
Nhưng lễ Mnăm Thun không phải là lễ của toàn thể mọi gia đình như lễ ăn cơm mới. Chỉ những gia đình Rhadé giàu có mới giết trâu heo, tổ chức lễ này để cầu cho gia đình mạnh khỏe và làm ăn thịnh vượng. Tùy theo nhà giàu có, tùy theo số khách khứa họ hàng được mời đến dự, gia chủ giết một, hay hai ba trâu. Số trâu bò heo dê càng nhiều chừng nào, càng đánh giá tầm quan trọng của buồi lễ.
A) Trồng cột Blang Kbâo Gàn đến ngày lễ Muăm Thun gia chủ cử người vào rừng chặt cây tre, cây gòn (blang) về làm một cột Blang Kbâo.
Cột Blang Kbâo giống như cây nêu của đồng bào Kinh nhưng ý nghĩa và sự hũu dụng của nó khác hẳn.
Một cột Blang trồng ở giữa cao 5, 6 thước tây. Trên cùng: là bàn thờ Ông bà giống như một chiếc kiệu nhỏ của đồng bào Kinh. Linh hồn ông bà sẽ về ngự trị trên chiếc đó.
Trang sách 83Dọc thân cột có cắm những lưỡi dao tượng trưng cánh tay thần và một hình mặt trăng lưỡi liềm tượng trưng sức mạnh của thần linh.
Xung quanh cột Blang có cắm 8 cành tre cao ngất, đầu mỗi cành tre có một sợi dây tre có những tua bông treo lơ lửng và buông rũ xuống. Những cây tre ấy theo gió đung đưa ngụ ý chào mừng vong linh của ông bà về dự lễ.
Xung quanh chân cột Blang là 4 cột Blang ngắn để buộc trâu.
Trên mỗi cột đều có vẽ những hình tượng trưng đàn chim bay, hoa knia, phên đan v.v. bằng nước vôi hòa với máu trâu.
Theo tục lệ cột Blang phải xong trước buổi lễ một ngày, khi dựng cột gia chủ phải tổ chức lễ mời ông bà về ngự trị trên cột Blang. Cột blang kbâo ở sắc tộc Churu, Koho gọi là cột Knơng. Khi dựng cột, thầy cúng phải vừa khấn vừa múa chạy xung quanh Khơng.
Mỗi cột blang kbâo buộc một con trậu. Nếu giết ba trâu phải trồng ba cột blang kbâo.
B) Lễ chém trâu Đến giờ hành lễ mọi người đứng vây tròn xung quanh cột • blang kbâo. Chiêng trống cồng nồi lên những điệu nhạc dồn dập như thúc dục người ta ra trận. Một thanh niên được lựa chọn để chém trâu.
Anh chạy theo con trâu vòng quanh cột blang, tay cầm con dao Kgă, vừa chạy vừa múa dao lừa lúc thuận tiện anh chém đứt khuỷu chân trái sau của con trâu. Bị đau con trâu chạy lòng lộn bằng ba chân mau hơn. Anh lại chạy theo, vừa chạy vừa múa dao và lừa lúc thuận tiện chém nốt khuỷu chận bên phải của con trâu. Con vật ngã khuyu hai khuyu chân sau xuống đất lẽt quanh. cột blang.
Trang sách 84Người thanh niên thay Kgă, bây giờ anh cầm trong tay một chiếc dáo dài. Anh vừa chạy theo trâu vừa múa dáo theo nhịp điệu chiêng trống cồng trong khi mọi người reo hò vang trời dậy đất Đúng lúc thuận tiện anh đâm mạnh chiếc dáo vào sườn con trâu. Anh phải tính làm sao cho mũi dáo đầu tiên ấy trúng ngay tim con vật, làm con vật chết ngay tức khắc, như vậy mới được dân làng khen là tài giỏi.
Con trâu vừa chết những thanh niên lực lưỡng nhào ra phanh thây con trâu sau khi thầy khua iêo yang đã hứng được một ít máu trâu vào trong một chiếc bát đồng có đựng rượu.
C) Lễ rửa chân Thịt trâu được đem đến nơi hành lễ. Tại đó đã có bảy choé rượu cột vào 7 chiếc cột chôn ở giữa sân. Người ta để thịt trâu trên tàu lá.
Gia chủ ngồi trước nơi hành lễ tay phải cầm một chiếc cần rượu chân phải đặt trên một lưỡi búa có ý nghĩa cầu cho được mạnh như lưỡi búa. Thầy khua iêo yang tay trái cầm bát rượu hòa máu trâu, tay phải cầm một miếng bông gòn. Thầy nhúng bông gòn vào bát, bôi lên chân gia chủ.
Nếu gia chủ là một vị có uy quyền cai quản dân chúng, thầy cúng sẽ khấn như sau :
«Hỡi chư vị thần linh, chúng tôi cung thỉnh chư vị thần ở trên trời, chư vị thần ở dưới đất, chư vị thần ở hướng Đông, ở hướng Tây, ở hướng sắc tộc Bih, ở hướng sắc tộc M' Nông hãy đến hưởng những lễ vật trong buổi này. Kính xin chư vị thần linh che chở, bảo vệ cho chủ nhân của chúng tôi, người mà chúng tôi coi như cha mẹ đã sinh đẻ ra chúng tôi. Kính xin chư vị thần linh ban cho chủ nhân của chúng tôi được nhiều sức mạnh, được sống hạnh phúc và trường thọ.
" Chúng tôi cũng kính xin chư vị thần cây cối, thần cây đa
Trang sách 85Hra, thần cây Anguê, thần các vị thuốc ban phước lành cho chủ nhân của chúng tôi. Hãy ban cho chủ nhân của chúng tôi đi tới đâu cũng được mọi sự sung sướng, chiếu phải trải ra, lễ tiệc phải linh đình, đông anh em, đông bè bạn, được tất cả mọi người giúp đỡ.
" Trên đây là những lời cầu nguyện của chúng tôi. Xin hết».
D) Lễ đeo vòng và uống rượn Sau lễ rửa chân, thầy cúng cầm một chiếc vòng đồng đeo vào tay gia chủ, miệng khăn :
«Hỡi chư vị thần linh, trên đây là vòng, dưới đây là rượu.
Rượu đựng trong những choé buộc chặt vào cọc. Vòng sẽ được đeo vào tay chủ nhân của chúng tôi. Kính xin chư vị thần linh ban cho chủ nhân của chúng tôi được sức mạnh, được mọi sự sung sướng, đầy đủ, được trường thọ như chiếc vòng này đã được làm dấu, đã được cúng trước chư vị thần linh và đã được đeo vào tay chủ nhân của chúng tôi ».
Sau lễ đeo vòng gia chủ uống rượu cần ăn thịt nướng.
Buổi lễ coi như xong, mội người bắt đấu uống rượu cần, ăn thịt nướng, ăn trứng gà, cơm lam v.v... Trong khi đó chiêng trống cồng vang rền từng hồi, từng nhịp như muốn đưa âm thanh vươn lên cao, toả ra xa bao trùm lấy những mái nhà sàn và rừng núi.
Nhiều người đến dự lễ cũng mang theo rượu cần của họ.
Người ta túm tụm xung quanh hàng trăm choế rượu, những chiếc đầu châu vào nhau. Nơi đây kẻ lôi người kéo, nơi kia kẻ múc người mời. Những thanh niên thiếu nữ chạy đi chạy lại khiêng nước đổ vào nhũng chiếc nồi đồng thật lớn để người ta múc thêm vào choé rượu. Tiếng cười nói ồn ào xen với tiếng trống tiếng nhạc cồng, thật là một buổi lễ tưng bừng náo nhiệt.
Trang sách 86Người ta cứ ăn cứ uống, kỳ cho đến no say, mắt lừ đừ mặt đỏ gay, mãi đến khi trời tối mịt buồi lễ mới chấm dứt.
Ở những sắc tộc Jêh và Koho dân làng thường tồ chức lễ chém trâu tập thể. Năm 1964 dân làng Jêh ở Daksut đã chém 32 trâu. Trước chiến tranh trâu còn nhiều có năm họ chém tới con, và có khi lên tới cả 40 con.
Những lễ chém trâu tập thể như vậy thường linh đình hơn, và đã hấp dẫn rất đông dân làng các vùng lân cận đến tham dự.
Vài ngày sau buổi lễ, đồng bào Churu còn có tục lệ cúng tiễn ông bà ở cột Knơng. Sau đó cây Knơng cũng như cây Blang Kbâo được để tự nhiên. Nếu nó không chết mùa mưa đến cột gòn đâm rễ, nấy mấm và một cây gòn mới đã mọc. Những người đi rừng, trông thấy những cây gòn mọc trên sườn đồi biết được rằng đã có một thời có một Buôn sinh sống ở đây.
Cứ như thế, từ gia đình giàu có này đến gia đình giàu có khác từ làng này đến làng khác, lễ Mnăm Thun được tồ chức suốt mùa tạnh ráo, chừng nào mưa xuống mới thôi. 3. Lễ bỏ mả Trong nếp sống tín ngưỡng của đồng bào Thượng có lễ bỏ mả là quan trọng nhất.
Đồng bào Kinh có tục lệ gìn giữ vĩnh viễn mồ mả của tổ tiên. Đồng bào Thượng trái lại chỉ gìn giữ một thời gian rồi làm lễ bỏ mả.
Đồng bào tin tưởng rằng người ta chết là do những ác thần gây ra Người chết nằm trong mả như nằm trong nhà tù. Cần phải làm lễ bỏ mả linh đình để mua chuộc chư vị thần linh tô chức tòa án phán xét linh hồn người chết được về Buôn của những người đã khuất và được tự do đi lại ở trên trời.
Trang sách 87Từ ngày làm lễ an táng đến ngày lễ bỏ mả, thời gian có thể dài hay ngắn, kéo dài từ i đến 7 năm tùy theo sự giàu nghèo của gia dình. Trong buồi lệ an táng tang chủ hứa sẽ đem cơm ra mả và giữ gìn mả trong một thời gian. Hết hạn đã hứa, họ tổ chức lễ bỏ mả.
Lễ bỏ mả luôn luôn được tổ chức trong mùa tạph ráo.
Gặt hái xong, họ chuẩn bị thóc gạo đề nuôi quan khách, ủ men chuẩn bị rượu đủ cho khách uống.
A) Lễ báo cho người chết và công cuộc chuần bị làm lễ bỏ mả.
Hai ngày trước ngày lễ bỏ mả người ta làm lễ báo cho người chết. Lễ vật gồm một choé rượu và cơm canh. Gia chủ khấn tin cho người chết biết kể từ ngày hôm nay họ bắt đầu đem dao đem Kgă vào rừng lấy vật liệu về làm nhà chòi, nhà cúng cơm, cột gơng kut cột gơng klao và hàng rào mả.
Sau lễ đó họ chia nhau thành nhiền toán, toán đi cắt tranh, toán đi chặt tre nứa, toán đi lấy cây, toán đi chặt vâu, làm ống múc nước, toán đi lấy củi, toán giã gạo v.v...
Mọi việc phải xong xuôi từ hôm trước ngày lễ bỏ mả.
Mả đã được rào bằng những khúc cây rừng có quét vôi trắng chôn dựng đứng ken sát lại với nhau. Bốn cột góng kut đã được tạc những hình cái nồi, cái ghế, được vẽ những hình tượng trưng con mối, đàn chim bay, hoa kniă (một loại cây tựa soài rừng quả nhỏ bằng hai ngón chân cải) bằng nước vôi hòa với máu trâu, bây giờ được chôn xuống bốn góc mả. Những nhà giàu còn tạc thêm tượng hình người, hình khi, hình voi đặt lên trên đầu cọc. *ai cột gơng klao cao có khi tới 5,6 thước cũng đã được tạc hình quả bầu, cái ghế, đầu con châu chấu, cái nồi, cái chõ đồ xôi, cài bát v.v... và cũng đã được vẽ những hình tượng trưng
Trang sách 88như ở cột gơng kut. Hai cột này được trồng ở hai bên mả theo hướng Đông Tây của áo quan. Một sợi dây bằng da trâu giăng ngang mả buộc vào hai cột.
Nhà cúng cơm bằng phên đan có vẽ những hình tượng trưng như ở cột gơng kut và gơng klao. Nhà đặt trên bốn chiếc cọc cao chừng Ith,6 ở giữa mả.
Những nhà nghèo chỉ tạc một cột gơng klao dựng giữa mả và đặt nhà cúng cơm lên trên. Hình mả ấy làm liên tưởng đến kiểu kiến trúc chùa I cột của đồng bào Kinh.
Trên mả la liệt những choé ghè, nồi niêu, bát đĩa, chai ly, áo vải v.v... Đó là phần gia tài chia cho người chết. Bốn xung quanh mả là bốn hàng choế rượu cần được buộc vào bốn hàng cột đóng thẳng tắp.
Đêm hôm tất cả gia đình người chết và những người đến giúp việc đều ở lại trong chiếc nhà chòi dựng tạm ở ngay nghĩa địa. Họ đốt những đống củi đề lấy ánh sáng và chuẩn bị «Mlam Mut», đêm nhập lễ.
B) Mlam Mut hay là đêm nhập lễ Cuộc chuẩn bị lúc chiều coi như đã xong, đêm hôm nay là đêm nhập lễ.
Tang chủ giết một con trâu, sửa soạn 5,6 choé rượu để làm lễ, và đặt cơm cúng vào trong nhà cúng cơm.
Xong lễ mọi người xúm lại uống rượu cần, ăn thịt trâu.
Chiêng trống cồng và đàn sáo đing tut của các thiếu nữ Rhadé được trỗi lên. Trong đêm khuya tiếng âm vang đến tận những buôn làng xa thẳm như báo tin, như mời mọc, như thúc giục mọi người đến dự lễ bỏ mả.
Trang sách 89Từ những buôn làng xa xôi ấy, ngay lúc trời còn tối đen như mực người ta đã ơi ới gọi nhau.
O ơi nao be ta ! O ơi nao tân be !
Mau lên, mau lên đi dự lễ.
Trong đêm tối những ngọn đuốc bập bùng nối đuôi nhau ần hiện trong lùm cây như những con trăn lửa từ nhiều ngả trườn vệ nghĩa địa.
Bất cứ bụồi lễ bỏ mả nào cũng đều hấp đẫn rất đông người đến dự, con số lên tới hàng trăm, hàng ngàn có khi tới 2.000 người.
Nghĩa địa mọi hôm im lìm vằng vẻ, hôm nay nhộn nhịp, náo nhiệt khác thường. Những người đến dự đều mang theo lễ vật. Vai họ oằn xuống dưới sức nặng của những choé rượu, những gùi cơm lam v.v... Số choé rượu trong buổi lễ vì thế lên đến hàng trăm, có khi đến 300 choé. Còn số chiêng trống cồng cũng lên tới hàng chục bộ.
Tang chủ cũng lại quả cho họ mỗi người một vài khúc mía, một vài khúc cơm lam hoặc một vài củ khoai.
Người nào người nấy hôm hay đều mặc, quần áo mới, màu đỏ màu đen chói chang dưới ảnh nắng mùa hè. Các bà già và các cô thiếu nữ duyên đáng đeo đầy kiềng bạc, vòng bạc lớn ở cổ, ở cồ tay, cồ chân.
C) Chính lễ bỏ mả Khoảng hai giờ chiều lễ chính thức bắt đầu. Tang chủ đứng trước mả và lễ vật vừa khóc vừa khấn lớn tiếng, giọng ê ạ buồn thảm. Thân nhân đứng vây xung quanh khóc lóc, kể lẻ thảm thiết như khóc người mới chết. Trong khi đó nhạc chiêng trống cồng vẫn rộn ràng lấn át cả tiếng khấn lẫn tiếng khóc.
Trang sách 90Tang chủ khấn như sau : • Lạy thần xác chết hôm nay áo quan đã làm rồi, đã đóng lại rồi, đã buộc lại rồi, đã chôn dấu rồi, các kut cũng đã được tạc rồi, chúng tôi đem cơm đến đây cho thần ăn, đem rượu đến đây cho thần uống, bởi vì từ nay chúng tôi sẽ bỏ thần, chúng tôi sẽ quay lưng lại thần.
« Đất đỏ ở dưới, đất đen ở trên, thần ở trong áo quan, thày.
ở trong mả, nhà cửa thần ở giữa rừng tranh, ở giữa rừng sậy, thần ở một miền đất khác, thần uống những giòng nước khác.
" Xin thần đừng kêu gọi, đừng lại gần, đừng thương yêu con, đừng thương yêu cháu của thần nữa.
« Từ nay chúng tôi sẽ không còn mang cơm, sẽ không còn mang nước, chúng tôi sẽ bỏ mả và không còn săn sóc mả nữa. • Nếu thần muốn ăn cơm xin thần hỏi thần những vì sao, nếu thần muốn ăn thịt gà, xin thần hỏi thần mặt trăng, nếu thần muốn ăn thịt, ăn cá, xin thần hỏi thần cai quản trên trời, một vị thần khác sẽ săn sóc thần, một vị thần khác sẽ trông nom thần.
" Thần đã chết thật rồi, đã tan rã thật rồi, thần là chim ó ở trong rừng rậm, thần là chim Tlang Hêa sống ở phương Nam.
« Chúng tôi đã sửa sang mả rồi, đã tạc những cột kut, cột klao đã vẽ những hình vẽ bằng máu trâu, máu bộ rồi. • Thôi từ nay, thế là hết ! Thôi ! Từ nay, thế là hết ! Như lá M'nang đã lìa cành lá Mtêi đã tàn úa.
« Từ nay không còn đào lỗ, không còn làm nhà chòi, không còn than, không còn khóc nữa. Sẽ không đem của, đem tôm, đem cơm đem rau đến mả nữa. Sẽ không còn để tang, sẽ không còn kiêng cữ nữa. Choé rượu cúng, Ngok bu đã đặt xuống mả rồi, cây chuối cây khoai đã được trồng lên mả rồi, con gà
Trang sách 91(tượng trưng cho linh hồn thứ ba của người chết : chim Tiang Hêa) đã được thả bay đi rồi, chúng tôi đã quên thần rồi, đã bỏ thần rồi. • Tôi chấm dứt lời khấn của tôi.
« Lạy thần xác chết ».
Khấn xong tang chủ thả một con gà. Mọi người không ai được nhìn theo, mặc cho con gà bay vào rừng rậm. Từ nay nó sẽ là gà rừng, sẽ không được trở về trong Buôn, người ta sẽ xua đuồi nó vì tin rằng nó sẽ đưa bệnh dịch đến cho gà nhà.
Người ta. đặt cơm cúng lên nhà để cơm, chôn choế rượu cúng Ngok bu và trồng một cây chuối, một cây khoai môn lên trên mả.
Bồng bào Thượng Djarai ở Phú Bồn còn có tục cho thanh niên nhảy múa quanh mả để làm vui lòng vong linh người chết.
Buổi lễ chính thức như vậy đã hoàn toàn xong. Mọi người bắt đầu vào tiệc.
Hàng ngàn người xúm xít quanh những choé rượu cần.
Những người có uy quyền, những người già lão uống trước, sau mới đến thanh thiếu niên và trẻ con.
Mỗi lần rượu trong choé vơi đi họ lại múc nước lã trong những chiếc nồi đồng lớn đồ đầy vào choé. Nhiều toán thanh niên nam nữ thay phiên nhau chạy đi chạy lại vác những ống tre, ống vầu, gùi trái bầu, khiêng nồi đồng đi lấy nước.
Những xâu thịt nướng, những gói thịt trâu thui, những gói lòng, gói tiết luộc, những gói cháo gạo giã, những gói trứng gà luộc, những ống cơm lam v,v... bày la liệt xung quanh những choé, rượu:
Mọi người vừa uống vừa ăn, vừa lội kéo mời mọc nhau,
Trang sách 92vừa cười nói ồn ào. Nhiều người có tài cất giọng ngâm những bài thơ kể chuyện cô tích, chuyện anh hùng ca.
Hàng trăm chiếc cồng cũng được đánh lên. Nhạc rền inh ỏi nhịp nhàng một điệu lấn át cả tiếng cười nói, tiếng la hết, tiếng than khóc ở bên mả.
Chẳng bao lâu họ đã say bét. Nhiều ông già bà lão cũng loạng choạng đứng dậy nắm tay nhau nhảy múa la hét như những bọn thanh niên.
"Quang cảnh trở nên hỗn độn. Nhiều người quá say nằm lăn xuống đất mà ngủ.
Đêm đến họ đốt lên những đống lửa thật lớn. Ánh sáng đỏ hồng rực rỡ cả một góc trời. Người tỉnh rượu nối tiếp kẻ rượu say cứ ăn cứ uống, cứ la hét, cứ ca hát, nhảy múa đánh chiêng trống cồng suốt đêm cho đến mãi trưa ngày hôm sau mới ai về nhà ấy.
Tang chủ và gia đình, tất cả đều mệt mỏi nhưng hoàn toàn thỏa mãn tâm hồn.
Cũng như lễ Mnăm Thun, lễ bỏ mả được tô chức như thế liên tiếp từ Buôn này sang Buôn khác suốt mùa Blang.
NGUYỄN VĂN NGHIÊM (Tập san Sử địa số 5)