NGƯỜI KOHOPhần 9 · trang 135–165
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 135NGƯỜI KOHO (Kô-Hô) I. Giới thiệu Kô Hô là danh từ dùng để chỉ chung tất cả các sắc tộc sinh sống ở vùng Tuyên Đức, Lâm Đòng, Tây Ninh Thuận, Bắc Bình Tuy, Bắc Long Khánh và Đông Quảng Đức.
Các sắc tộc này có đặc điểm chung là họ nói cùng một thứ tiếng, phong tục tập quán có nhiều điểm giống nhau và địa điểm. cư trú ở cùng một khu vực.
Tổng số người Kô Hô ước lượng gằn 100.000, nhưng theo thống kê năm 1967 là 64.770 người. 1. Thành phần và dân số Người Kô Hô bao gồm những người sau đây : a) Người Mạ ước lượng 26.070 người sinh sống ở các tỉnh Lâm Đồng (15.039 người) Tuyên Đức (4.609 người) Quảng Đức (4.581 người) và Long Khánh (1.841 người). b) Người Sré (Sờ Rê) ước lượng 21.778 người sinh sống ở các tỉnh Lâm Đồng (9.346 người) Tuyên Đức (7.202 người), Bình Tuy (4.409 người) Ninh Thuận (443 người, và Khánh Hòa (194 người). c) Người Cil (Xin) hay Chill ước lượng 10.479 người sinh sống ở tỉnh Tuyên Đức. d) Người Lat ước lượng 1.271 người sinh sống ở Đàlạt và Tuyên Đức,
Trang sách 136e) Người Tring (Tờ-Ring) ước lượng 4.145 người sinh sống ở tỉnh Ninh Thuận (3.48g người) và tỉnh Khánh Hòa (656 người). f) Người Nop ước lượng 981 người sinh sống ở tỉnh Lâm Đồng. g) Người Talai (Tà-Lài), người Queyon (Quê ông) ước lượng vai trăm sống ở tỉnh Lâm Đồng. 2. Gốc tích Người Kô Hô thuộc nguồn gốc Indonésien, như người M'nông, Stiêng. Ngôn ngữ Kô Hô thuộc ngành Môn Khmer nghĩa là cũng nguồn gốc với tiếng Sédang, Bahnar, nhưng phong tục lại chịu nhiều ảnh hưởng của người Chàm mà ngôn ngữ lại thuộc loại Malayo Polynésien.
Các sắc tộc Kô Hô tuy nói chung một thứ tiếng nhưng ngôn ngữ có thay đổi đôi chút tùy theo địa phương và chịu ảnh hưởng tiếng nói của các sắc tộc láng giềng nên âm điệu biến chuyển nặng nhẹ pha thêm nhiều thổ ngữ đặc biệt của địa phương.
II. Nếp sống cá nhân Người Kô Hô thường thường khỏe mạnh, cao trung bình Ith,60, nặng 55 ký, da ngăm ngăm đen, mắt đen hoặc nâu thẩm, tóc đen và cứng.
Đặc biệt người Kô Hô chân rất khỏe, tay rất yều. Nẽu xách một vật gì nặng độ 20 ký, họ chỉ đi được vài trăm thước là phải để đồ xuống đất để nghỉ, hoặc bắt họ bám vào một sợi dây mà leo thì chỉ leo nồi 2 hay 3 thước là tuột xuống, nhưng nếu cho họ gùi 5o ký họ có thể đi bộ leo núi xuống đèo từ 15 đến 20 cây số một ngày.
- Người Kô Hô thành thật, chất phác, thông minh trung
Trang sách 137bình và hơi lười. Tính tình và nếp sống, tùy sắc tộc, có thay đổi ít nhiều :
- Người Mạ tính tình độc lập, ưa thích tự do và trở nên cục cằn, dữ dắn khi động chạm đến đời sống của họ, cho nên các sắc tộc láng giềng thường nói « Đừng gây chuyện với người Mạ».
Tuy đã sống dưới quyền người Chàm, tiếp xúc nhiều với người Miên, nhưng người Kô Hô ít chịu ảnh hưởng của hai dân tộc và vẫn giữ được sắc thái, riêng biệt của họ.
- Người Sré, trái lại bị nhiều ảnh hưởng của người Chàm và biết làm ruộng cố định ở những thung lũng phì nhiêu.
- Người Nop, Tà Lai, Queyon sống xa xôi, rải rác trên các núi non ở ranh giới Lâm Đồng - Phan Thiết, Lâm Đồng - Bình Tuy nên tương đối hãy còn chậm tiến.
- Người Cil nhất là người Lat thì văn minh hơn cả vì họ được sống quanh vùng Đàlạt và được tiếp xúc từ lâu với người Kinh. Đàn ông biết ăn mặc như người Kinh và thích nhất là quần áo nhà binh. Đàn bà mặc váy, áo cánh ngắn và thích màu sặc sỡ. Về mùa đông họ biết mặc thêm đồ lạnh, hoặc quấn thêm chăn, ban đêm lại có chăn mền để đắp thêm.
III. Đời sống xã hội 1. Xã giao Người Kô Hô rất hiếu khách. Một điếu thuốc lá, một cái bắt tay cũng có thể làm cho hai người trở nên thân mật. Khi khách vào làng, cả làng ùa ra đón khách, chủ làng mang đồ ăn và rượu ra đãi khách, khách có thể từ chối ăn, nhưng không thể từ chối uống rượu, vì từ chối là khách có sự gì bất bình và là điều sỉ nhục cho dân làng, và nhất là khách lại gây gỗ với người nào trong buôn, lúc đó cả làng sẽ xúm lại trả thù và để tâm mãi mãi.
Trang sách 138Khi vào làng khách phải tránh chuyện trò với đàn bà đã có gia đình và khi uống rượu khách nên tránh đưa cần rượn mời đàn bà, vì họ chỉ được phép uống trong bát thôi. 2. Nhà cửa Nhà của người Kô Hô phía Bắc cao hơn nhà của người Kô Hô phía Nam, cột sàn cao từ 2th,50 đến 3th trái lại mái nhà của người Kô Hô phía Nam lại làm sát xuống mặt đất.
Nhà của người Kô Hô làm rất lớn, dài vào khoảng 100 thước, rộng độ 60 thước. Cửa ra vào làm ở đầu nhà và thường hướng về phía ao hay giếng của làng hoặc thẳng gốc với dòng suối chảy qua đó.
Mỗi nhà chứa độ to gia đình, sống quây quần trong đó, ở giữa nhà là một dẫy bếp đặt theo chiều dọc của nhà sàn, mỗi gia đình một bếp, dọc theo mặt vách là dẫy giường dài chạy từ đầu nhà cho đến cuối nhà, và được chia ta từng căn cho mỗi gia đình, bên kia vách người trong gia đình để ghè rượu, gùi thóc và trên vách treo chiêng, cồng, tên, ná và những gùi lớn đựng quần áo. 3. Cưới xin a) Gặp gỡ :
Sự giao thiệp giữa trai và gái không bị hạn chế : họ thường tỏ tình với nhau bằng những câu hát dưới trăng hay những tặng vật mỗi khi gặp nhau trong các buổi cúng lễ, hội hè.
Khi được tặng vật người con trai sẽ được mai mối đến dạm hỏi để xin cưới, cũng có đôi khi nhờ sự trao đồi tình cảm giữa trai và gái, người con trai có thể nhờ người đi đánh tiếng bên nhà gái.
Tập tục cổ truyền của người Kô Hô là người con gái lớn lên sẽ đi hỏi chồng và người chồng sẽ về ở với vợ. Riêng người Mạ, thì con trai đi hỏi vợ.
Trang sách 1396) Lễ ăn hỏi Trước khi cưới chồng, bên nhà gái nhóm họp họ hàng để trù liệu việc xin cưới, sau đó các cậu, bác, anh em tới nhà chàng rể tương lai, mang theo hai chiếc vòng, hai chuỗi hạt cườm và một ghè rượu nhưng cô gái ở lại nhà không đi dự, sợ nhà trai từ chối thì mất mặt.
Sau khi họ hàng nhà trai đã thỏa thuận, cậu con trai mới được hỏi ý kiến, nếu cậu trai thuận hai họ mới bàn đến việc đính hôn, nếu cậu trai không thuận hoặc chưa muốn lấy vợ nhà gái phải đợi một thời gian nữa, rồi lại đi hỏi lại, có khi đến vài ba lần mới thành tựu.
Khi người con thuận rồi, cậu, bác bên gái lấy một chiếc vòng đeo vào tay cậu rề sắp cưới, một chuỗi cườm đeo vào tay người mẹ cậu rế để làm bằng. Các cậu, bác bên nhà trai lấy một chiếc vòng và chuỗi cườm đeo vào tay người cậu bên nhà gái để tỏ ý thuận, đồng thời hai bên lãy rượu ra đãi nhau và bàn luận số lượng đồ sính lễ, ngày làm lễ cưới.
Đồ sinh lễ thường thường gồm có:
- 8 chiếc khăn.
- 4 cái áo dài.
- 4 cái áo cụt. _ 2 cái kiềng bằng đồng hay bằng vàng (tùy theo gia đình nghèo hay giàu).
- Từ 30 đến 6o chuỗi hạt cườm (tùy theo số người nhiều hay ít bên nhà trai).
- I con trâu.
- I con heo.
- I con gà.
- Io ghè rượu.
Trang sách 140Đối với người Mạ sính lễ không có tính cách bắt buộc. c) Lễ gặp mặt Tám ngày sau khi ăn hỏi, cô dâu và họ nhà gái sang bên nhà • cậu rẻ mang theo đồ sinh lễ. Trong buổi lễ gặp mặt này, sau khi nhận lãnh đồ sính lễ, nhà trai liền tô chức buổi lễ cúng và đem ruột gà sống ra treo ở cửa ra vào để cho đôi trai gái chui ra, chui vào và một miếng sắt để ngay giữa cửa để cho họ đạp lên (ruột gà sống tượng trưng cho sự thắt chặt của tình yêu và miếng sắt cho sự sống lâu của đôi vợ chồng).
Tiếp theo hai người cầm mỗi người một chiếc vòng (chú rể cầm bằng tay mặt, cô dâu cầm bằng tay trái), để cho người cậu nắm lấy, dắt qua dắt lại nơi cửa có treo ruột gà ba lần và dẫm dẫm lên miếng sắt ba lần. Sau đó người cậu đưa cô dâu, chú rể vào ra mắt cha mẹ chồng (thường thường cha mẹ chồng không ra đự lễ cúng) rồi đưa ra chỗ bếp lửa để cô dâu đặt tay vào các dụng cụ nhà tếp (việc đặt tay này nói lên kể từ nay cô dâu sẽ lo việc nội trợ).
Tới đây chấm dứt lễ gặp mặt, họ hàng nhà gái trở về nhà sửa soạn lễ rước rể trong khi đó cô dâu tạm ở lại nhà chú rẻ.
Theo tục lệ, từ thời gian ăn hỏi đến rước rẻ là một tháng, trừ khi một vài trường hợp đặc biệt như tang chế, bịnh hoạn.
Nếu không có lý do chánh đáng, bên nào chậm trễ trong việc cưới xin bên đó sẽ phải chịu trách nhiệm.
Trong trường hợp này, Tòa án Phong Tục Thượng sẽ xử như sau :
- Nếu nhà gái từ hôn nhà gái chịu mất đồ sính lễ và bồi thường danh giá cho nhà trai một con trâu hoặc một con heo và một ghè rượu.
- Nếu nhà trai bội hôn nhà trai phải bồi thường tất cả mọi phí tổn và trả lại các đồ sính lễ.
Trang sách 141Trường hợp một trong hai bên mệnh một thì không phải bồi thường gì cả. d) Lễ rước rề Sau một thời gian để cô dâu bên nhà chồng, nhà gái tổ chức một lễ gọi là lễ rước rề, buồi lễ này được tô chức rất long trọng có cả múa nhạc suốt ngày và có chức việc trong làng đến chứng kiến.
Buổi lễ rước rễ được tổ chức như sau :
I. Lễ rửa chân Khi về tới nhà gái, trước khi vào nhà, chú rề phải nện chân trên miếng sắt đã được đặt sẵn trước của, và rửa chân với chén nước lã. Miếng sắt này được nhà gái giữ làm kỷ niệm (miếng sắt là biểu hiệu cho lòng trung thành, và rửa chân bằng chén nước lã là xua đuối mọi sự rủi ro). 2. Lễ đeo vòng Người cậu bên nhà gái lấy ba chiếc vòng và bưng ba chén rượu :
- Một đeo vào tay chú rẻ và uống một chén rượu.
-- Một đeo vào tay người cậu ruột của chú rế và uống một chén rượu (người làm chứng thứ nhất).
- Một đeo vào tay người anh chú rễ và uống cạn chén rượu (người chứng thứ hai).
Tiếp theo đó, người cậu và họ hàng bên trai lấy ba chén rượu và ba chiếc vòng để :
- Một đeo vào tay cô dâu và uống cạn chén rượu.
- Một đeo vào tay người cậu ruột nhà gái và uống cạn chén rượu (người làm chứng thứ nhất).
Trang sách 142- Một đeo vào tay người anh của cô dâu, uống cạn chén rượu (người làm chứng thứ hai).
Khi lễ đeo vòng xong, hai ông cậu bên trai và bên gái rót hai chén rượu, một đưa cho cô dâu và một cho chú rế hai người trao đồi nhau uống, và nghe lời giáo huấn của họ hàng.
Trong lễ ăn hỏi, gặp mặt, rước rể, cô dâu và chú rể phải luôn luôn giữ gìn quần áo sạch sẽ và mới mẻ, nếu không họ hàng cho đó là một điềm bất hạnh.
Khi lễ cưới tất, việc mời đãi họ hàng, bà con làng xóm ăn uống thường kéo dài đến hai, ba ngày.
Của hồi môn của chú rể gồm một con trâu để cày, hai cái chén, hai cái bát, hai cái giỏ đựng cơm, hai bao lúa giống, một con gà, một con heo (tùy theo nhà giầu hay nghèo). Người con trai khi chưa lấy vợ có của riêng chỉ được mang đi một phần ba.
Trường hợp người con gái có mang trước ngày cưới và người chồng thừa nhận đứa con người chồng phải nộp của hồi môn, nếu người chồng không thừa nhận đứa con người chồng không phải nộp của hồi môn.
Ở sắc tộc Mạ, trường hợp nhà trai rất giầu có, không muốn • con trai đi ở rể phải nộp của hồi món như sau và được sự thỏa thuận của nhà gái.
- 2 con trâu → 25 ghè rượu - I cái chiêng cô - Tồn phí các cuộc lề của nhà gái.
Về tuổi kết hôn, người Kô Hô không ấn định rõ ràng, con gái thường thường 17, 18 tuổi, con trai vào khoảng 18, 20 tuổi.
Trang sách 143Cha mẹ có thể gả cưới khi con cái còn vị thành niên, nhưng tục lệ này chỉ áp dụng ở những gia đình giầu có và thế lực trong sắc tộc. 2. Vấn đề đa thê Người Kô Hô không khuyến khích và đả phá chế độ đa thê, người đàn ông ở sắc tộc này có thể có nhiều vợ với sự chấp thuận của người vợ cả. Người vợ lẽ phải biếu cho người vợ cả một cái khăn, một con heo, năm chén rượu và phải phục tùng người vợ cả.
Riêng các con người vợ lẽ được lấy tên theo họ mẹ. 5. Ngoại tình Người Kô Hô không câu chấp việc đa thê, nhưng lại đả phá mạnh mẽ việc ngoại tình.
Kẻ ngoại tình bị khinh rẻ và bị phạt cho làng một con trâu, một con dê và một con vịt. Đối với người phối ngẫu, gian phu dâm phụ phải bồi thường một trâu, một chiêng cổ và sáu ghè rượu. Có nơi phải đền đến mười trâu.
Mãy chục năm về trước, kẻ quyến rũ chồng hay vợ bị ám sát ngay chứ không cần chờ đến ngày bị phạt. 6. Ly dị Những cặp vợ chồng khi muốn ly dị nhau phải nại đủ một trong những lý do xác đáng như sau :
Và người vợ:
- Bắt quả tang vợ thông dâm ba bốn lần.
- Người vợ bỏ nhà ra đi hoặc bỏ bê việc nội trợ.
- Đánh đập, chửi rủa, ngược đãi chồng hay cha mẹ chồng.
Trang sách 144Vè người chồng :
- Phạm tội đại hình hay chung thân.
- Chồng bỏ vợ con đi mất tích.
- Bê tha, rượu chè không sản sóc vợ con.
- Đánh đập cha mẹ vợ và vợ.
Đối với người Mạ, Sré, một lý do nữa để được ly dị là vợ hoặc chồng bị « Cạc » tức là bị ma quỉ nhập. 7. Sinh nở Điểm đặc biệt trong việc sinh nở của người Kô Hô là sản phụ được ở trong nhà, nằm trong một góc để chờ phút lâm bồn chớ không như các sắc tộc khác phải xuống dười nhà sàn, hay ra ở chòi tạm để chờ sinh nở.
Sản phụ Kô Hô được ưu đãi như vậy có lẽ nhờ ở ảnh hưởng thần thoại xưa của họ như sau :
« Có một người đàn ông vào rừng kiếm dây leo. Mệt quá, anh ta ngồi nghỉ ở gốc cây đa.
Thân cây đa liền hỏi : Ai ngồi đấy ?
Anh ta đáp : Tôi đây, tôi đi kiếm dây leo.
Thần hỏi : Kiếm để làm gì ?
Anh ta đáp : để buộc vợ tôi lại vì vợ tôi sắp sanh.
Thần hỏi : Tại sao phải làm thế ?
Anh đàn ông liền giải thích là mỗi khi đàn bà sanh đẻ phải trói họ lại để mô bụng lấy con ra.
Thần hỏi: Mò bụng làm chết người mẹ thì ai nuôi con.
Anh đàn ông trả lời: Nó sẽ bú đâu gỗi bố nó.
Lúc đó thần cây đa mới dạy anh ta rằng :
Trang sách 145Không cần như thế, phải để chọ người mẹ sống để nuôi con. Hãy cầm lấy củ này, đem về ngâm nước rồi lấy nước đồ lên lưng người mẹ đứa con sẽ tự lọt lòng mà ra. Sau đó hãy cắt nhau, lau cho người mẹ, tắm cho đứa trẻ. Rồi đất lửa lên để cho khỏi lạnh và nấu cháo cho người mẹ ăn để có sữa nuôi đứa trẻ. Ngày hôm sau phải chùi mắt đứa trẻ bằng cỏ « rupar » và đặt cho nó một tên n. (1) Khi sinh, người sản phụ được bà mụ trong buôn đến sắn sóc và cho uống một vài thứ thuốc bằng rễ, củ, lá cây rừng cho mau mạnh.
Tuy nhiên, việc cúng bái vẫn là điều bắt buộc, và trong trường hợp sinh nở càng khó khăn thì việc cúng lễ lại càng quan trọng. 8. Bệnh rật và thuốc mon Người Thượng mỗi khi đau ốm đều mời người thầy cúng thần để xem người ốm có thể khỏi bệnh được không ?
Còn việc thuốc men chữa chạy đều đo ông già làng chỉ bả , cách thức vào rừng kiếm các cây thuốc để uống theo như kinh nghiệm tổ tiên họ đã dùng.
Người Kô Hô là người Thượng biết dùng nhiều nhất các môn thuốc gia truyền.
Họ thường bị bệnh sốt rét, ngã nước, đi kiết ly, phong thấp, bệnh phồi, sán lãi, ghẻ lở, phong cùi và hoa liểu. Riêng bệnh hoa liểu thì do người Kinh và lính Pháp trong khi chung đụng đã đồ bệnh cho họ. du Sud Indochinois (I) DAM-BO. Les populations montagnardes Revue France Asie No 49-50.
Trang sách 146Để chữa bệnh, người Kô Hô thường dùng : a) Củ bosir để trị những mụn, vết thương mưng mú.
Củ được giã nhỏ và đắp vào chỗ đau.
Người Thượng coi củ bosir là thần được.
Củ rụt đề đắp vào các mụn nhọt.
Củ bêgơn nấu nước uống để trị bệnh sốt rét.
Củ chorang-dao nấu nước uống để trị bệnh phong thấp, b) Lá cây bola để cầm máu và làm liền da các vết thương.
Lá cây Koryhl để trị các vết rằn cắn.
Lá cây bang-a để phòng bệnh sốt rét.
Lá cây lohyao để trị bịnh đau bụng. c) Trái cây ớt để trị những chỗ bị sâu bọ đốt, cắn.
Trái cây tong để trị những mụn, nhọt vết thương.
Ngoài ra người Kô Hô còn ăn : d) Thịt hồ để khỏi bệnh đau tim.
Thịt voi để ngủ được.
Người Kô Hô cũng như tất cả các người Thượng khác, người nào cũng biết dùng cây rừng để trị bệnh. Tuy nhiên có • khỏi hay không, họ cho rằng không phải do tác dụng ở những vị thuốc mà do thần linh có giúp hay không.
Ngày nay, nhờ sự hướng dẫn tận tình của các vị tu sĩ, các cơ quan truyền giáo, các tổ chức ý tế, người Kô Hô đã biết dùng đến Au dược và đã thấy những công hiệu « thần thánh» của những viên thuốc nhỏ bé và Ảu dược đang dần dần chiếm lòng tin của họ. 9. Ma chay Khi trong nhà có người chết, thân quyến lo liệu khâm
Trang sách 147liệm người chết và ngả trâu bò làm lễ cúng, xóm làng vào rừng kiếm cây đục lỗ làm áo quan theo hình cái mõ dài, trên có nắp đậy.
Xác chết để trong nhà chừng hai, ba ngày rồi mới mang đi chôn.
Xưa kia người Mạ đề áo quan ở trong nhà hàng tháng.
Áo quan được đục một lỗ ở dưới và được để lên trên một cái vại. Hàng ngày họ mang nước ở áo quan chảy xuống vại đi đồ ở ngoài nghĩa địa. Khi nào xác chết không chảy nước nữa họ mới mang đi chôn.
Người Nop làm một cái chòi đặc biệt, đặt người chết ở đó để bà con trong buôn đến chia buồn. Sau khi chôn cất, họ đốt nhà chời đi.
Người Cil rất sợ chết chóc. Khi có người chết họ lánh đi nơi khác. Khi chôn cất xong, họ chạy ngay về nhà vừa chạy vừa la để đuồi ma quỉ.
Người Kô Hô chôn tất cả người chết trong gia đình vào một chiếc hộ rộng lớn gọi là nhà mả, trên có mái che, người chết trước nằm dưới, người chết sau nằm trên.
Nếu trong gia đình không có người kế tiếp thì một vài năm sau thân quyến sẽ đến thăm mả lần cuối rồi giết trâu bò làm lễ bỏ mả.
Khi người vợ chết, người chồng có quyền trở về nhà cha mẹ đẻ, và được phép đem theo một phần ba của cải, phần còn lại để cho cha mẹ vợ nuôi nấng các con. Nếu không có con, mà bên vợ không có bố mẹ, chị em, người chồng có thể đem về hai phần ba của cải, một phần ba để lại làm của hương hỏa.
Trường hợp người chồng chết trước tất cả của cải thuộc về gia đình người vợ, và bên chồng chỉ được đem về một
Trang sách 148vài đồ vật để kỷ niệm. Người vợ phải trông nom mồ mả người chồng và cúng giỏ trong thời gian hai năm. (Ở vùng người Mạ, người con gái có thể tái giá sau khi chồng chết được một năm mà không phải xin phép nhà chồng).
Khi mẫn tang, người vợ muốn lấy chồng khác, phải xin phép và được sự chấp thuận của gia đình chồng cũ, nếu không có sự chấp thuận sẽ bị ghép vào tội thông dâm, và sẽ bị phạt vạ sáu con trâu và một con trâu nữa để cúng mộ chồng.
Vợ chết, chồng để tang chế trong thời gian một năm, hết hạn người chồng có thể đi cưới vợ khác, nhưng phải có sự chấp thuận của gia đình bên vợ cũ. (Đối với người Mạ, người chồng khỏi phải xin phép). Nếu không sẽ bị khép vào tội thông dâm như đã nói trên.
Gặp trường hợp vợ chết, gia đình vợ có em gái đã trưởng thành, người chồng góa có thể lấy em vợ thay thế không cần kiêng cữ và tang chế, nhưng phải tế một con trâu và năm chén rượu tại mộ người vợ quá cố. Từ đó có thể ăn ở với nhau và lẻ cưới sẽ cử hành sau một năm, nhưng sính lễ cũng phải đầy đủ y như hồi cưới vợ lần trước. 10. Tổ chức họ, làng Trong mỗi dòng họ ngoại (vì theo chế độ mẫu hệ), người con trưởng là tộc trưởng cai quản cả họ. Tộc trưởng ở các sắc tộc khác phần nhiều là người già cả, nhưng đối với người Kô Hô khi nào bố mẹ già độ 6o, 70 tuồi thì nhường quyền lại cho con trưởng.
Trong một làng nếu có hai, ba họ thì có hai, ba ông tộc trưởng. Những người này có nhiều uy quyền trong làng, và mỗi khi có việc gì quan trọng, họ sẽ họp nhau lại bàn luận và định đoạt.
Trang sách 149Để giao thiệp với chánh quyền, họ chọn những người nào bạo dạn, nhứt là những người trước kia đã đi lính làm chủ làng để đại diện cho họ và dân làng ; do đó người Chủ làng ở sắc tộc Kô Hô không có nhiều quyền hành như các sắc tộc khác và những chỉ thị của chánh quyền có được thi hành hay không là do sự quyết định của các tộc trưởng.
IV. Đời sống tinh thần I. Tín ngưỡng vả cúng lỗ Người Kô Hô tin rằng Thần Ndu là thần cao cả nhất trong các vị thần. Từ khi khai thiên lập địa, thần Ndu đã dạy bảo cho dân Kô Hô cách thức sinh sống và định truyền cả phép trường sinh nữa nhưng không ai dám học.
Người Kô Hô còn thờ thần « Ông lớn» « Bà lớn » và cho rằng hai vị nầy có quyền phép làm mưa, nắng, bệnh tật.
Mỗi gia đình Kô Hô lại còn thờ và cúng một vị thần riêng của gia đìmh chọn trong các vị thần núi, thần sông, thần cây, thần gió, thần sét, v.v... và khi đau ốm, bệnh tật, cầu nắng, xin mưa cả gia đình chỉ cúng lễ vị thần đó thôi.
Người Kô Hô chỉ giết trâu để cúng thần trong những lễ lạc, còn hội hè khác họ chỉ dùng heo, gà, dê, bò.
Ngày nay nhiều làng Kô Hô đã theo đạo Công giáo hoặc Tin lành. Họ là những tín đồ trung thành, được các vị tu sĩ hết sức chăm sóc, dạy bảo nhưng thỉnh thoảng họ vẫn cúng lễ và rượu chè say sưa như thường. 2. BoJou, người thầy cúng a) Mỗi một làng, hoặc hai, ba làng có một người thầy cúng
Trang sách 150gọi là BOJOU. Đối với người Mạ, chỉ có đàn ông mới được làm thầy cúng nhựng đối với người Sré, Nop, Cil thì đàn bà cũng được phép làm. b) Người thầy cúng là người có thể liên lạc được với các thần Yang, nên biết được ý muốn của các vị này và sẽ chỉ bảo cho người cúng phải lễ gì cho thần.
Nhờ thần Yang, thầy cúng có thể đuổi được những tà thần ma quỉ, và biết được ai đã bị Caa (ma quỉ) nhập : người nào bị thầy cúng tuyên bố có (Caa) ở trong bụng thì người đó chỉ còn cách trốn khỏi làng đi nơi khác nếu không sẽ bị họ hàng, làng xóm giết đi vì cho rằng người này nuốt mất hồn của họ và làm cho họ chết đi.
Thầy cúng còn liên lạc và nói chuyện được với hồn người chết ; nếu gia đình người chết cần hỏi người chết điều gì phải nhờ thầy cúng làm trung gian hỏi hộ.
Tuy người thầy cúng không có chức tước gì trong làng nhưng nhờ ở sự mê tín của dân chúng nên nhiều khi thầy cúng cũng lợi dụng nghề nghiệp của mình để thị oai mua chuộc người này, người khác. c) Muốn thành thầy cúng, Bojou rất khó : phải có năng khiếu và được thần Yang chọn lựa.
Người được chọn, mới đầu cảm thấy mỏi mệt, biếng ăn, đau mình đau mầy, gặp ai cũng muốn lần tránh và thích đi thẳng một mạch cho đến khi kiệt sức. Nếu tình trạng người này cứ như vậy, các vị bô lão ở làng họp nhau lại bàn luận và mời thầy cúng để xem các thần Yang định làm gì người này.
Nếu thầy cúng tuyên bố là các thần Yang muốn người này trở thành Bojou, thì người đó phải đi đến Bumong (I), nơi phát Bumong ở vùng cư trú của sắc tộc Roglai, ở phía tây tỉnh Ninh Thuận và phía Đông địa vực cư trú của sắc tộc Kô Hô.
Trang sách 151nguyên và là trung tâm phù thủy của các sắc tộc miền Đông Nam Cao Nguyên.
Nếu đến đây người ốm được khỏi bệnh thì đúng là người này đã được các Yang chọn lựa. d) Nếu người này quyết tâm theo lời kêu gọi của thần linh sẽ được một người thầy cúng mang đến trình diện vị Thủ lãnh thầy cúng tên là Aneh, thuộc dòng dõi Tamrac khi xưa, hiện nay đang ở làng Choah, gần Bumong. Sau khi nghe lý do xin của gia nhân và thỉnh ý các vị thần, người thủ lãnh sẽ giao người này cho một thầy cúng già hướng dẫn dạy bảo. Sau một thời gian học tập người thủ lãnh làm lễ truyền phép cho người này trở nên Bojou và trao cho môn đệ một bộ đồ (dek) hành nghề gồm có :
I. Một sợi dây mỗi đầu buộc một cái khoen đồng và ở giữa buộc sáu cái nhạc nhỏ và bốn dải vải đỏ. 2. Một cái roi mây để đuổi những Caa (ma qui). 3. Một cái khén. 4. Một cái nhẫn bùa hộ mệnh. 5. Một cái hạt cây plai lan hình dẹp. 6. Một cái túi bằng cói để đựng đồ nghề.
đ) Trở thành thầy cúng, người này về làng trình với các vị bô lão và xin phép hành nghệ ; tùy theo tài nghệ và khôn khéo, người này sẽ tạo uy tín của mình và dần dần trở nên người quyền thế trong làng. 3. Lỗ tiết Từ cuối mùa nắng đến đầu mùa mưa (khoảng tháng bá âm lịch) đồng bào Kô Hô nghỉ ngơi hoàn toàn : họ tổ chức ăn uống, ca hát, chiêng trống linh đình từ làng này sang làng khác
Trang sách 152hoặc kéo nhau vào rừng săn thú, ra suối bắt cá vui chơi thỏa thích, gái trai cưới xin nhộn nhịp.
Sau đó họ tổ chức lễ đốt rầy, mọi người lại bắt tay vào làm việc và không quên cúng lễ thần linh cho mùa tới được nhiều thóc lúa.
V. Đời sống kinh tế Cũng như các đồng bào Thượng khác người Kô Hô đốt rừng, làm rấy, trông lúa. Đặc biệt là người Sré biết làm ruộng cố định, do sự học hỏi của người Chàm.
Họ còn trồng thêm ngô, đậu, dưa và thuốc lá. Gần đây họ bắt chước người Kinh trồng những cây có trái nhiều nhất là đu đủ, đứa (thơm).
Người Kô Hô cũng biết săn băn, đánh cá. Vùng cư trú của người Kô Hô có nhiều thú săn và cá lớn.
Đàn bà Kô Hô biết trồng bông dệt vải đan gùi nặn bát chén.
Họ lại khéo chân khéo tay và thích màu sắc cho nên vải dệt, gùi đan bao giờ cũng dùng nhiều màu.
VI. Kốt luận Sắc tộc Kô Hô là sắc tộc gồm nhiều sắc dân, mỗi sắc dân lại có một sắc thái đặc biệt.
I. Nổi bật nhất là sắc dân Mạ. Sắc dân này có lịch sử tương đối rõ ràng nhất trong các sắc dân trên Cao Nguyên. Vì ưa thích tự do nên xưa kia họ đã rời bỏ vùng đất phì nhiêu lên vùng đất cằn kỗi cư trú mà họ vẫn sinh sống phát triền và cũng nhờ ở vị trí đặc biệt này họ đã thoát khỏi sự thống trị của người Chàm và người Chân Lạp.
Trang sách 1532. Kế đến người Sré, sinh sống gần người Chàm nên đã hấp thụ được nhiều văn minh Chàm và vẫn giữ được sắc thái riêng của mình. Chuyện thần thoại, cô tích của người Sré rất thi vị, hấp dẫn và là kho tàng cho những nhà nghiền cứu về dân tộc học. 3. Sau cùng là người Lat, Cil ở ngay vùng Đalat nên được hưởng nhiều sự giúp đỡ về y tế, giáo dục của các vị tu sĩ Công giáo, Tin Lành, đời sống của họ có phần tiến bộ và thoải mái hơn các sắc tộc khác.
Trang sách 154LƯỢC ĐỒ CÁC NHÓM NGỮ TỘC TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM NHÓM MÔN-KHƠ-ME I Vân-kiều - Bru VĨ TUYẾN 17° Tôi-ôi - Pakoh GỮANG THO TEU Phương Khatu Cua HRÉ 3 Cua DIẾ QUÀNG NA Monom Sedang SEDANG Rengao I0 II Alakong HALANG NGA BAHNAR Alataurg KONTUM MNONG Cil Lat BINJH - ĐiNM Sre KoHO Ma PLEIKU Nop STIÊNG PHú BÔN CHROO Pre NHÓM MÃ-LAI POLYNÊDIÊNG DARLAC TARAI Jarai • Hroi RHADE QUANS ĐỨC PHUJC 3 Roshai ROGLAI BINH!
LONG LONGI LÂN : 00 CHURU TẬT NINH CHAM ;BİNH ! PHƯỚC THANH BINH , DUÓNGI - Tur ¡ LorG KHAI" , 20 , TUẢNG;
KIEN PHONG •SAIÇON đ: PHươc TuY ĐỊNH TƯƠNG •KIÊN NÒ PHU QUỐC BẾ ĐÔNG HÃI GIA CHƯỜNG THIÊN ĐAC LIỀU AN XUYÊN PI CÔN SỞN TỲ LỆ xiÊn
Trang sách 155BẢN LIỆT KÊ DANH SÁCH CÁC SẮC TỘC THƯỢNG TẠI CAO NGUYÊN MIỀN NAM một chi nhánh của sắc tộc Khatu sống ở vùng A Tuat rừng núi phía Tây Quảng Nam. một chi nhánh của sắc tộc Rhadé sống ở vùng A Dham Buôn Hô tới tận sông Hleo và Krông Hnang, (tỉnh Darlac). một chi nhánh của sắc tộc Bahnar sống ở vùng Alatanag • An Khê (tinh Pleiku). hay Alakone sống ở phía Bắc An Khê (Pleiku).
Alakong dân số ước lượng 11.00o người. một chi nhánh của sắc tộc Djarai ở Tây bắc Pleiku A Rap Tây nam Kontum; dân số ước lượng 2.000 người. một sắc tộc lớn ở Nam Kontum, Bắc Pleiku và Bahnar Tây Bình Định, đứng thứ ba trên Cao Nguyên về mặt đông dân, có 58.833 người (75.000 người theo tài liệu không chính thức) gồm có nhiều chi bộ như : Kontum, Jolông, Gôlar, Tô sung, Konkode, Konkudeth, Alatanag, Alakong hay Alakone, Bonom, Roh, Krem, Bahnar Cham, But. Người Bahnar thuộc nguồn gốc In- donésien (Anh đô nê diêng), tiếng nói thuộc loại Môn Khmer (Môn kờ me). một chi nhánh của sắc tộc Bahnar ở quận Vân- Bahnar Cham Canh (Nam Bình Định); dân số độ 5.000 người.
Bih một chi nhánh của sắc tộc Rhadé, lai giống giữa người Rhadé và Mnông, sinh sống ở Lạc Thiện (tỉnh Darlac).
Blô một chi nhánh của sắc tộc Rhadé ở vùng đồi cỏ M' drack (tỉnh Khánh Hòa).
Trang sách 156Bơnom còn gọi là Bơ Nam, Mơ Nôm, Mơ Nam, một chi nhánh của sắc tộc Bahnar ở phía Đông An- Khê, dân số ước độ 7.000 người.
Brila: còn viết là Bờ-ri-la, một chi nhánh của sắc tộc Dié, thích sống trên núi thật cao ở cực Bắc Kon tum, Tây Quảng Tín.
Bru còn viết là Bờ-ru, Bờ-rou và còn được gọi là Vân Kiều (xem Vân Kiêu).
Bù-Deh một chi nhánh rất nhỏ của sắc tộc Stiêng (Xem Stiêng). một chi nhánh rất nhỏ của sắc tộc Stiêng (Xem Bù-Dip Sitêng).
Budông một chi nhánh của sắc tộc M' nông ở vùng Ba Biên Giới.
Bulach một chi nhánh rất nhỏ của sắc tộc Stiêng.
Bulo một chi nhánh rất nhỏ của sắc tộc Stiêng.
Bunor một chi nhánh của sắc tộc M' nông ở phía Nam quận Kiến Đức (tỉnh Quảng Đức). một chi nhánh của sắc tộc M'nông ở Đông nam Burung quận Đức lập (Quảng Đức).
But một chi nhánh của sắc tộc Bahnar ở rừng rậm phía Đông nam Kontum và Tây Bắc An Khê.
Cà Giồng còn được gọi là Cùa (Xem Cùa).
Cà-Tu (Xem katu) Câu-Mạ còn gọi là Châu Mạ, Chơ Mạ hay Mạ (xem Mạ).
Chrau còn gọi là Chờ-Rô hay Giờ-Rô hay Rô là một sắc tộc sống ở vùng Long Khánh, Tây Bình Tuy ; dân số 6.428 người (15.000 người theo tài
Trang sách 157liệu không chính thức) ; tiếng nói thuộc loại Môn- Khmer. còn gọi là Chờ-Ru hay Chư-Ru là một sắc tộc Chru ở vùng Tuyên Đức và Tây Ninh Thuận, dân số ước độ 5.000 người (15.000 người theo tài liệu không chính thức) ; tiếng nói thuộc loại Malayo- polynésien. còn gọi là Chill hay Kịl là một sắc tộc trong Cil nhóm Kô Hô, cư trú ở Tuyên Đức, dân số ước độ 10.500 người ; tiếng nói thuộc loại Môn- Khmer. còn gọi là Khùa, Cà-Giồng là một sắc tộc sống Cùa ở vùng Tây Quảng Ngãi và Quảng Tín; dân số ước độ 11.60o người gồm hai chi bộ Trầu và Kor ; tiếng nói thuộc loại Môn Khmer. còn gọi là người đồng cỏ cây nhỏ ; là chi Dedrak nhánh của sắc tộc Sédang, sống ở vùng Đông Bắc giữa sông Psi và Bla. một chi nhánh của sắc tộc M' nông, ở tả ngạn Dibri Ea Krong về phía Tây Banmêthuột. còn viết là Dễ, Jeh là một sắc tộc cư trú ở Dié những ngọn núi cao nhất ở Cao Nguyên, trong miền cực Bắc Kontum và Tây Quảng Tín, dân số 4.080 người (10.000 người theo tài liệu không chính thức) gồm chi bộ Pờ-Rắc, Đờ-Ram, và Bờri la (Brilar) tiếng nói thuộc loại Môn Khmer. còn viết là Da Rai, Jarai, Gia-Rai là một sắc tộc Diarai đông người nhất ở Cao Nguyên miền Nam ; dận số là 134.538 người, và theo tài liệu không chính thức là 150.000 người, cư trú tại Pleiku, Phú Bồn, Nam Kontum, Bắc Darlac, và Tây Phú Yên ; sắc
Trang sách 158tộc Djarai gồm có các chi bộ Djarai Pleiku, Dja- rai Cheoreo, Arap, Hờ Drung, Kờ-Buan, Hờ- Roi, M'dhur, Hà Lang. Người Diarai thuộc dòng giống Indonésien (Anh-đô nê-diêng) tiếng nói thuộc loại Malayo-Polynésien (Ma-lai Pô-ly-nê- diêng). một chi nhánh của sắc tộc M' nông ở phía Nam Dip Dakmil (Đức lập).
Dlié Ruê một chi nhánh của sắc tộc Rhadé sống ở vùng sình lầy Krông Ana (Sông Cái) thuộc tỉnh Darlac.
Dram còn viết là Dờ-Ram, một chi nhánh của sắc tộc Dié sống ở vùng cực Bắc tỉnh Kontum. một sắc tộc sống ở cực Bắc Kontum, dân số Duam 3.500 người ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Đá- Vách còn gọi là Hờ Rế (xem Hré).
Đê (xem Rhadé).
Ede (xem Rhadé).
Ening một chi nhánh nhỏ của sắc tộc Rhadé ở phía Bắc M'drack. • Epân một chi nhánh nhỏ của sắc tộc Rhadé ở phía Bắc M'drack.
Gar một chi nhánh của sắc tộc M'nông sống ở phía Đông nam quận Lạc Thiện (tỉnh Darlac). một chi nhánh của sắc tộc Bahnar sống ở Bắc Golar Pleiku. là một sắc tộc lai giống giữa người Sédang và Hàlang Djarai, sống ở vùng Tây bắc Kontum và ranh giới Việt Lào, dân số độ 2.516 người và theo
Trang sách 159tài liệu không chính thức là 10.00o người ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer. còn viết là Hờ-ăng-đê-a là tên thồ ngữ của sắc Handea tộc Sédang (xem Sédang). • một chi nhánh của sắc tộc Diarai, sống ở Đông Hờ-drung bắc Pleiku và Đông nam Kontum, dân số ước độ 8.000 người. còn viết là Hờ-rế, và còn gọi là Rẽ, Đá-Vách là Hré một sắc tộc quan trọng và đông dân ở vùng Bato Minh Long và Nam Sơn Hà (tỉnh Quảng Ngãi), dân số độ 43.015 người và theo tài liệu không chính thức là 50.000 ; tiếng nói thuộc loại Môn- Khmer. còn gọi là Hờ-roi, một chi nhánh của sắc tộc Hroi Djarai, lai giống giữa Djarai và Rhadé, sống ở Tây Phú Yên, Tây nam Bình Định, và Tây bắc Phú Bồn ; dân số ước độ 7.633 người, và theo tài liệu không chính thức là 10.00o người ; tiếng nói thuộc loại Malayo-Polynésien. một chi nhánh nhỏ của sắc tộc Rhadé ở phía Bắc .
Hwing M' drack (tỉnh Khánh Hòa). (xem Djarai).
Jarai một chi nhánh của sắc tộc Bahnar ở Đông bắc Jolong Kontum dân số là 3.657 người. một chi nhánh của sắc tộc Khatu sống ở phía Tây Kao Quảng Nam. còn viết là Cà-Giồng (xem Cùa).
Kayong một chi nhánh của sắc tộc Djarai ở phía Tây Kbuăn Pleiku
Trang sách 160một chi nhánh của sắc tộc Rhadé ở thượng lưu Kdrao Krong Pach (tỉnh Darlac). một chi nhánh của sắc tộc Rhadé ở thượng lưu Kdung Krông Ana (Sông Cái) thuộc tỉnh Darlac.
Khat một chi nhánh của sắc tộc Kha-Tu sống ở phía Tây Quảng Nam.
Khatu một sắc tộc tương đối lạc hậu nhất ở Cao Nguyên miền Nam sống ở phía Tây nạm Thừa Thiên, Tây Quảng Nam và Tây bắc Quảng Tín ; dân số là 23.136 người và theo tài, liệu không chính thức là 50.000 người và gồm những chi bộ : A-Tuat, Kao, Khat, Ngưng ; tiếng nói thuộc loại Môn- Khmer. tên của người Sédang ở rừng rậm trong vùng sông Pô-Kô và Psi phía Nam Quần Sơn Ngọc Linh (thuộc Kontum).
Kmun một chi nhánh của sắc tộc Rhadé ở thượng lưu Krông Ana (Sông Cái).
Koho một nhóm sắc tộc gồm các sắc dân Mạ, Sré, Cil, Lat, Tring, Nop, Talai sống ở vùng Tuyên Đức, Lâm Đồng, Tây Ninh Thuận, Bắc Bình Tuy, Bắc Long Khánh và Đông Quảng Đức ; dân số là 64.770 người nhưng theo tài liệu không chính thức thì vào khoảng 100.00o người ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Konkode một chi nhánh nhỏ của sắc tộc Bahnar sống ở vùng An Khê.
Konkodeth một chi nhánh nhỏ của sắc tộc Bahnar sống ở trung tâm An Khê.
Kor một chi nhánh của sắc tộc Cùa sống ở vùng Tây Quảng Tín.
Trang sách 161tên chi nhánh chính của sắc tộc Rhadé, sống Kpa ở chung quanh Banmêthuột.
Krem một chi nhánh của sắc tộc Bahnar sống ở phía Bắc Bình Định thuộc quận Vĩnh Thạnh và An Lão ; dân số ước độ 8.500 người. một chi nhánh của sắc tộc Rhadé ở vùng ranh Krung giới Pleiku-Darlac: còn viết là Kờ-tua, K' tur một chi nhánh của sắc Ktua tộc Sédang lai Bơnom, sống ở ranh giới Kontum Quảng Ngãi dân số 715 người. một chi nhánh của sắc tộc Rhadé sống ở vùng Ktul trung lưu Krong (Sông) Buk và Krông Pach. một chi nhánh của sắc tộc Sédang sống ở Tây Kyon nam Daksut và ranh giới Việt Lào ; dân số 548 người.
Lat một sắc tộc trong nhóm Kôhô sinh sống ở Đàlạt và Tuyên Đức, có 1.271 người, tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Mạ còn gọi là Câu Mạ, Châu Mạ, Chơ Mạ, Maa ; là một sắc tộc đông người nhất trong nhóm Kô-Hô sinh sống ở Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức và Long Khánh ; dân số 26.070 người, tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
M' dur còn viết là Mờ-dur, Mờ-đuya là một chi nhánh của sắc tộc Diarai lai Rhadé sống ở vùng Tây Phú Yên và Tây bắc Khánh Hòa ; dân số 7.633 người. còn viết là Mờnông là một sắc tộc lớn sống ở M' nông vùng Quảng Đức, Nam Darlac, Tây Lâm Đồng và Bắc Phước Long ; gồm có các chi bộ : Rlam, Gar,
Trang sách 162Dibri, Preh, Nông, Bunor, Dip, Burung ; dân số 27.730 và theo tài liệu không chính thức là 40.000 người; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer. còn viết là Menam, Monam, Bơnom (xem Bơ- Mơnơm Nom). còn viết Noup, là một sắc tộc trong nhóm Kôhô;
Nop dân số là g8i người ; tiếng nói thuộc loại Môn- Khmer. còn gọi là Tồi-Ôi, một sắc tộc sống ở Tây nam Pa-Coh Quảng Trị và Tây bắc Thừa Thiên ; dân số là 6.584 người ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer. một sắc tộc ở Tây nam Thừa Thiên dân số ước Phương độ 5.000 người; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer. một chi nhánh của sắc tộc Di Ế sống ở ranh giới Po-Rak phía Bắc Kontum, Nam Quảng Tín.
Preh một chi nhánh của sắc tộc M'nông sống ở quận Đức Lập và Tây nam Banmêthuột. là một sắc tộc rất nhỏ thuộc nhóm Kôhô sống Queyon ở phía Nam Blao (tỉnh Lâm Đồng) ; dân số độ vài trăm, tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer. • Rai một chi nhánh của sắc tộc Roglai sống ở phía Đông bắc Bình Tuy và Tây nam Bình Thuận ; dân số là 2.787 người ; tiếng nói thuộc loại Malayo-Polynésien.
Raglai một chi nhánh lớn của sắc tộc Roglai sống ở Ninh Thuận, Nam Thánh Hòa, Bắc Bình Thuận, Đông Lâm Đồng ; dân số là 27•775 người, tiếng nói thuộc loại Malayo-Polynésien.
Rhadé còn viết là Radé và còn gọi là Ê-dê, Đê ; là một sắc tộc lớn và đông dân thứ nhì ở Cao Nguyên
Trang sách 163miền Nam, sống ở vùng Darlac, Nam Pleiku, Tây nam Phú Yên, tây bắc Khánh Hòa và bắc Quảng Đức gồm các chi bộ Kpa, Adham, Dlié Ruê, Krung E pân, Hwing, Ening, Blô, Kdrao, Kdung, Kmun, Ktul, Bil, M' dur ; dân số là 79.595 người ; tiếng nói thuộc loại Malayo-Polynésien.
Rlam một chi nhánh của sắc tộc M' Nông, sống ở Nam Lạc Thiện (tỉnh Darlac) và ở vùng hạ lưu Krong Ana (Sông Cái) và Krong Knô (Sông Đực).
Roglai còn gọi là Aglai, Orăng lai được chia ra làm Bắc Roglai sống ở Nam Khánh Hòa, Nam Roglai sống ở Ninh Thuận và Bình Thuận ; ngoài ra sắc tộc này còn có chi bộ lớn là Raglai và hai chi bộ rất nhỏ là Rai và Tà-Lợp ; dân số là 30.8ro người nhưng theo tài liệu không chính thức là 50.000 người, tiếng nói thuộc loại Malayo-Polynésien.
Rơngao còn viết là Rengao hay Reungao, là một chi nhánh của sắc tộc Sédang lai Bahnar sống ở phía Tây Dakto (tỉnh Kontum) ; dân số là 9.123 người.
Roh một chi nhánh của sắc tộc Bahnar sống rải rác ở vùng An Khê; dân số ước độ 12.000 người. còn viết là Sơ-đăng và còn gọi là Sédéang, Hà- Sédang Đăng, Handea, Hotea, Rotea, Hoteang là một sắc tộc quan trọng sống ở vùng bắc Kontum ; người Sédang sống ở vùng rừng rậm được gọi là Kmrang (Kờ-mờ ràng) và sống ở vùng rừng thưa được gọi là Tơdrah (Tơ-đờ-ra) ; dân số là 26.120 người nhưng theo tài liệu không chính thức là 50.000 người ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Sop một sắc tộc nhỏ trong nhóm Kô-hô, sống ở ven
Trang sách 164sông La Ngà tỉnh Lâm Đồng ; dân số độ vài trăm ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer. còn viết là Sờ-rê, Sré là một sắc tộc ở nhóm Kô- Srê Hô sống ở Lâm Đông, Tuyên Đức, Bình Tuy, Ninh Thuận, dân số là 21.778 người, tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Stiêng là một sắc tộc lớn sống ở vùng Phước Long, Bình Long, Bắc Tây Ninh, Bắc Bình Dương và Tây Long Khánh. Người Stiêng ở vùng Bình Dương, Long Khánh được gọi là Tà-Mun ; sắc tộc này có vài chi bộ nhỏ gọi là Budeh, Budip Bulach, và Bulo ; dân số độ 36.700 người, tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Striêng một sắc tộc sống ở vùng cực Đông bắc Kontum dân số là I.12o người tiếng nói thuộc loại Môn- Khmer.
Tà-Kua một sắc tộc sống ở Quảng Nam và Quảng Tín dân số 2.700 người; tiếng nói loại Môn-Khmer.
Tà-Lai một sắc tộc nhỏ trong nhóm Kô-Hô sống ở Lâm Đồng ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Tà-Mun (xem Stiêng) Tơ-Dra tên người Sédang sống trong vùng rừng thưa ở Đông nam quận Dakto (xem Sédang).
Tôi-Ôi còn gọi là Pa-Coh, một sắc tộc sống ở Tây nam Quảng Trị và Tây bắc Thừa Thiên ; dân số là 6.584 người ; tiếng nói thuộc loại Môn-Khmer.
Tolotenia chi nhánh của Bahnar sống ở nam An Khê, dân số 10.843 người.
Trang sách 165một chi nhánh của sắc tộc Bahnar, sống ở Đông To-Sung Pleiku. còn viết là Traw, một chi nhánh của sắc tộc Cùa Trầu sống ở vùng Tây Quảng ngãi giáp Kontum. còn viết là Tờ-ring là một sắc tộc trong nhóm Tring Kô-Hô, sống ở Ninh Thuận và Khánh Hòa; dân số 4.145 người ; tiếng nói thuộc loại. Môn-, Khmer.