CÂU GÀPhần 3 · trang 16–18

Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.

Trang sách 16TOAN ÁNH Anh Cả cười ha hà bảo:

- Thế rạ bác định đến đây thử tài đệ phải không ?

Tài đệ đã khá chưa? Nghệ của bác thì đệ xin phục. Vậy xin quan bác trao lại cho đệ cái tráp, đệ xin dâng lại quan bác khăn gói !

Anh Ba Ngụ cười :

- Tài quan bác cao lắm, đệ xin chịu. Thiên hạ đặt quan bác ở trên đệ là phải lắm.

Anh Cả trố mắt nhìn anh Ba Ngụ và hỏi :

- Ra bác là Ba Ngụ ở tỉnh Đông ? Chẳng trách được!

Bác lãy được tráp của đệ là phải lắm.

Anh Ba Ngụ gật đầu và chỉ chiếc tráp anh đã đề ở chân giường từ lúc nào không rõ.

Anh Cả nhặc chiếc tráp đề lên đầu giường rồi nói :

- Khăn gói của bác đệ vẫn để ở quán hàng nước, sáng mai ta cùng ra lấy cũng không muộn gì.

Vừa lúc ấy chị Cả đun nước sôi pha trà mang lên. Chị trố mắt nhìn ông khách của chồng lù lù hiện ra giữa ban đêm. Uống trà, câu chuyện giữa anh Cả và anh Ba rất tâm dầu ý hợp. Từ ngày ấy hai người trở nên đôi bạn thân tương trợ nhau rất nhiều trong cái nghề không vốn và câu truyền ngữ Nhất Cả Trường Xuân-Vũ, nhì Ba Ngụ tỉnh Đông không còn ai phản kháng và được lưu truyền rất sâu rộng trong giới trích cược.

CÂU GÀ Một đàn gà đang ăn, con bới cỏ con rỉa lông, con chạy ngang, con chạy dọc, nếu có bóng người tới tất nhiên chúng hoảng sợ chạy rối rít con mẹ gọi con con, con lớn trước con sau. Bắt được một con gà trong đàn dù là chủ nhân đàn gà, cũng phải khó khăn, phải cần có người phụ lực săn trước chặn sau mới bắt nồi.

Trang sách 17AN TRÓM VA BÁT TRỘM Ây thế mà có người không phải là chủ nhân của đàn gà cũng không phải là • người nhà của chủ nhân thường ngày vẫn cho gà ăn, lại bắt được gà một cách dễ dàng giữa ban ngày mà đàn gà không chạy tán loạn, cũng không một tiếng gà kêu.

Bắt gà như vậy là cả một nghệ thuật vì nếu có tiếng gà kêu, người nhà chủ nhân chạy ra bắt gặp thì anh ăn trộm gà khó mà chạy đằng trời. Chỉ một lời tri hô là đủ cho dân làng người ta đồ ra vây bắt anh ăn trộm.

Lõi ăn trộm gà giữa ban ngày như vậy trong làng đạo trích gọi là Câu gà.

Người đi câu gà thật là tài giỏi. Hằng đã trõm đàn gà nào là đàn gà ấy phải mất với hẳn năm bảy con.

Muốn câu gà hẳn phải đi quan sát tình hình của từng đàn gà trong làng trong xóm trước. Nhà nào có đàn gà bao nhiêu con, thường những giờ rào hay kiếm ăn ở mé vườn nào, và những lúc nào nơi đó vắng vẻ, hằn đều ghi nhớ rõ rằng trước khi thi hành thủ đoạn của mình.

Đối với người đi câu gà việc bắt gà không là truyện khó, truyện khó là kiếm được đàn gà ăn ở nơi vắng vẻ, nhất là ở những đằng sau vườn mà vườn đó lại không có tường ngăn với bên ngoài, chỉ có hàng rào tre hoặc cây gai nào khác.

Đã biết có đàn gà kiếm ăn ở nơi nào rồi, người câu gà chỉ việc tới đó là bắt được gà một cách rất dễ dàng.

Các bạn đã có dịp đi về nhà quê lần nào chưa, nhất là về những vùng quê Bắc-Việt trước đây. Và các bạn có bao giờ bắt gắp một vài người trong có vẻ rất lù đù, xù xù trong những chiếc áo tơi mặt dầu trời đang nắng chang chang và không có triệu chứng gì là sắp mưa. Đây không phải là những nhà thiên văn học đoán trước được trời mưa, nên mang áo tơi đi phòng sẵn, đấy chỉ là những

Trang sách 18TOAN ÁNH anh, và có khi cà đàn bà nữa, những chị đi Câu gà. Chiếc áo tơi của các anh các chị nầy là một dụng cụ rất cần thiết đề dấu những con gà câu được. Ngoài chiếc áo tơi lá ra, các anh các chị này bao giò cũng mang thêm một chiếc bị, vật dụng tối yêu cho việc câu gà. Không có chiếc bị, việc câu gà không xeng, tuy trong việc câu gà ngoài chiếc bị ra, cũng còn cân dễn vật liệu khác.

Người di câu gà không cần nhiều vật liệu, họ chỉ cần chiếc bị, một gói hạt tiêu xay rói, một bát cơm nguội hoặc một ống bỏ thóc. Thật là giản dị hết sức, những vật liệu này ở đâu cũng sẵn.

Đến nơi có đàn gà ăn. Người câu gà vứt cơm hoặc thóc xuống đất, rồi ần vào một chỗ chờ cho gà tới mồ những hại cơm hoặc những hạt thóc đó. Những hạt cơm hoặc những hạt thóc này dân gà tới nơi có chiếc bị.

Trong bị cũng có cơm hoặc thóc, nhưng lại có cả hạt tiêu tán nhỏ nữa. Gì ăn những hạt cơm hay thóc ở ngoài, lăn đến chiếc bị, thò đầu vào trong bị mồ cơm hoặc thóc làm vung bụi hạt tiêu lên. Bụi hạt tiêu bắn vào mắt vào mũi gà.

Gà bị cay, sặc hạt tiêu, nhắm mắt lai đi loạng choạng, giữa lúc ấy người câu gà ở chỗ ần đi tới với chiếc áo tơi lá, chỉ việc ung dung vô gà, đút vào trong áo tơi mà gà không kịp kêu nửa tiếng.

Lấy được gà rôi, người câu gà phải mang gà tới chỗ khác cất, lẽ tất nhiên có một đồng đảng chực sẵn đè giử những con gà câu được. Cất xong con gà câu được rồi, người câu gà mới lại quay tới chỗ củ đê câu con gà khác. Chiếc áo tơi chỉ dùng đẻ dấu gà, nhưng không bao giờ người câu gà giữ gà ở trong mình lâu vì có thề gà bị ngạt, và nhất là có thề tị chủ nhân rắt gặp khám xét.

Câu gà như vậy, mỗi ngày người câu gà có thè cầu dược dăm bảy con' Không nhiều đâu, nhưng cũng đủ lắm rồi.