Văn khấn giỗPart 20

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Ăn có mời, làm có khiến, đối với người chết cũng vậy.

Một mâm cơm dù thịnh soạn và dù của con cái mình, nếu chúng không mời tất nhiên bố mẹ cũng không ăn nào, cũng như cỗ bàn dù linh đình, đồ

lễ dù trang trọng, nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ mà không thỉnh mời các cụ, ắt hẳn các cụ không phối hưởng.

Ta thường nói tâm động quỷ thần tri nghĩa là người có lòng thì quỷ thần chứng giám, nhưng quỷ thần có chứng giám thì cũng phải có hương đăng và cũng phải thành tâm!

Bởi vậy trong ngày giỗ con cháu phải khấn mời để tổ tiên phối hưởng.

Đã nói tâm động quỷ thần tri, lời khấn dù thô sơ, nôm na tới đâu, hương hồn các cụ cũng thông cảm và thụ hưởng những lễ vật của con cháu dâng lên.

Người Việt Nam vốn xưa nay trọng lễ nghi, mọi trường hợp cúng vái đều có văn khấn riêng:

Duy việt Nam, Nhâm Dần niên, thập nhất nguyệt, sơ thập lục nhật[5] .

Kim thần Chu Văn Mỗ, sinh quán Vĩnh Thịnh xã, Tam Dương huyện, Vĩnh Yên tỉnh, cư ngụ Tân Son Hòa xã, Tân Bình quận, Gia Định tỉnh.

Cẩn dĩ:

Phù lưu thanh chước, mâm bàn cụ vật, thứ phẩm chi nghi; Cảm chiêu cáo vu.

Cao tằng tổ khảo Chu Quý Công, húy Văn Đức, hiệu Tụ Ân, thụy Dã Điền lai lam chứng giám.

Dịch nôm:

Năm Nhâm Dần, tháng mười một, ngày mười sáu.

Nay tôi là Chu Văn Mỗ, sinh quán tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên, cư ngụ tại xã Tân Son Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định; Thành khẩn có:

[5] Thay đổi tùy năm, tháng và ngày.

Hương hoa trầu rượu, cỗ bàn mọi vật

Dám xin kể ra

Nhân ngày giỗ chính, xin kính mời

Hương hồn kỵ là Chu Quý Công, húy Văn Đức, hiệu Tụ Ân, thụy Dã Điền về chứng giám.

Ngày nay, Hán tự không còn thịnh, khấn giỗ người ta thường khấn nôm, đại ý lời khấn như trên.

Khi khấn đến tên người chết, phải khấn lầm rầm rất khẽ trong miệng để

tỏ lòng thành kính. người xưa kính trọng ai không bao giờ đọc tới tên người đó.

Khấn giỗ cần khấn hết tên tục, tên hiệu, tên hèm của người hưởng giỗ.

Tên tục là tên lúc sống vẫn gọi, tên hiệu, tức là biệt hiệu, còn tên hèm tức là tên thụy, tên khi người chết hấp hối tự đặt cho mình, để sau này con cháu khi cùng thì khấn tới.

Con cháu lúc khấn giỗ cần phân biệt các hàng kỵ, cụ, ông bà và cha mẹ.

Đàn ông khấn chữ khảo, còn đàn bà khấn chữ tỷ.

Cao tằng tổ khảo tức là kỵ ông, đối với người khấn là năm đời.

Cao tằng tổ tỵ tức là kỵ bà.

Tằng tổ khảo tức là cụ ông, đối với người khấn là bốn đời, hay nói cách khác người khấn tức là chắt.

Tằng tổ tỷ tức là cụ bà.

Tổ khảo tức là ông, đối với người khấn là ba đời, hay nói khác người khấn tức là cháu.

Tổ tỷ tức là bà.

Hiển khảo tức là cha.

Hiển tỷ tức là mẹ.

Kể từ đời thứ sáu trở đi thì con cháu không phải cúng giỗ nữa.

Trong ngày giỗ, sau khi khấn giỗ xong, phải buông chiếc y môn tức là bức màn thờ xuống để các cụ hưởng lễ.