Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 53
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Khi đã bắt đồng thì hoặc lập điện tại gia mà thờ, hoặc thờ theo tại điện của một ông đồng bà cốt khác, hay tại một cửa miếu thờ chư vị. Ông đồng đây, có khi không phải là một người đàn ông, chỉ là một người đàn bà có đồng Đức Ông, cũng như có nhiều bà đồng không phải là đàn bà mà chính là đàn ông có đồng Đức Mẹ.
Bài trí điện chư vị
Điện chư vị thường cũng được lập tại một gian nhà riêng và bàn thờ được trang trí tương tự như ngôi điện thanh đồng, nhưng ở đây thay vì có một bức thần tượng hoặc một bức tranh hay một bài vị lại có nhiều thần tượng, hoặc tranh hoặc bài vị, một vị thần, nam hay nữ, đều có tượng hoặc tranh hoặc nhiều bát hương, bát hương thờ, lại thêm bát hương của các con ông đệ tử. Tại bàn thờ có đủ ngựa, võng, hài hộp, vàng xanh, vàng đỏ, nón dứa, nón nghệ, treo lủng lẳng từ trên xuống hoặc bày ở hương án, có khi ở cả
gầm hương án nữa, vì nơi đây cũng thờ một cô hoặc một cậu nào.
Trong những ngày tuần tiết, cúng bàn thờ chư vị thường có hoa quả bỏng kẹo.
Ngồi đồng hầu bóng
Các ông đồng bà cốt đều có khăn trầu áo ngự, tức là loại khăn áo ngũ sắc để khi ngồi đồng hầu bóng mặc vào.
Những ngày rằm, mồng một, tuần tiết, hoặc khi có người nào đau yếu đến điện kêu cầu, đều có ngồi đồng hầu bóng.
Tại điện đã sẵn có cung văn, tức là người đàn ca lúc hầu bóng, đàn bà như
vậy gọi là chầu văn.
Người chủ điện hoặc một người có căn đồng khác vào ngồi đồng, mặc áo xanh, áo đỏ, đội khăn các mùi, múa may nhảy nhót ở trước cửa điện. Lúc đó là lúc thánh đã ốp
vào đồng.
Bọn cung văn
đàn ngọt hát hay
được đồng ban
tiền lộc cho, có
những người hầu
dâng tức là người
phụ tá để đưa
quần áo cho đồng,
và con công đệ tử
ngồi chung quanh
kêu xin để thánh
chữa bệnh cho
người đau. Thánh,
xin hiểu đây là
người ngồi đồng,
ban truyền bằng
một giọng nũng
nịu, ỏn ẻn, có khi
giọng hờn dỗi để
được nịnh nọt
tâng bốc. Thánh
phán sao, gia chủ
của người bệnh
phải tuân theo, có khi thánh cho uống tàn hương nước thải, có khi nước quết Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
trầu để mang về xoa cho người bệnh, có khi cho bùa đeo. người bệnh khi khỏi phải tới lễ tạ.
Trong lúc lên đồng như vậy, bà đồng đã được thánh ốp vào thưởng ban lộc cho những người hầu dâng hoặc những người đứng chung quanh lễ bái.
Lộc có thể là tiền, là kẹo bánh đã được mua trước cúng tại điện, là trầu cau hoặc thuốc lá.
Những bà đồng thường dùng giấy bạc một đồng hoặc năm đồng kết thành con bướm để dùng ban lộc.
Tất cả những điều trên viết về đồng cốt đều do sự mắt thấy tai nghe, còn thực hư, hư thực đó là vấn đề tín ngưỡng. Ở đây người viết chỉ nhắc lại những điều liên quan về phong tục, nói lên nếp cũ của dân ta.
Cô hồn
Đây cũng là một biến thể của đạo Lão tạo nên bởi các môn đồ lưu phái hoặc do kém ý thức, hoặc do mê tín.
Cô hồn cũng hơi tương tự như đồng cốt, ở chỗ một âm hồn nhập vào cốt một người trần và mượn miệng của người trần này, tức là cô hồn, để nói lên ý muốn của âm hồn.
Người trần có khi được gọi là xác cậu, xác cô, vì một đồng nam hoặc một đồng nữ chết đi, hồn nhập vào người trần này, và chỉ nhập riêng vào người trần này thôi.
Tục tin rằng hồn đồng nam hoặc đồng nữ nhập vào xác của mình, nghĩa xác người trần mà hồn mượn, thì hồn này có thể giúp đỡ người trần được những điều cầu xin. Do đó, nhiều người ở nhà lập nên một bàn thờ, tự nhận là xác cậu hoặc xác cô của một đồng nam hay đồng nữ nào, là tự nhiên có những người mang đồ lễ tới để cầu xin nhiều việc. Đôi khi xác cậu, xác cô đó lại nói cả việc vị lai cho mọi người.
Thường ra thì cô hồn là người lấy nghề gọi hồn cho người ta mà kiếm ăn[16].
Cô hồn thờ ông Chiêu bà Dí tức là hai vị thần đi chiêu các âm hồn của những người đã chết, có người nhà trên dương thế muốn tìm.
Những nhà có người mới chết, thương sót nhớ tưởng muốn tìm cách gặp
[16] Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục.
hồn người thân để hỏi han về cuộc sống ở cõi âm, hay mời cô hồn về nhà gọi hồn.
Cách thức gọi hồn
Muốn gọi hồn cần phải đặt quẻ, và quẻ phải do người lành vía đặt.
Tôi xin mở dấu ngoặc để nói về vía lành và vía dữ, người vía dữ khi nhìn vào vết thương của một người đau, vết thương có thể bị nặng lên, hoặc khi người đó bế một đứa trẻ sơ sinh, đứa trẻ sẽ khóc thét lên cho đến khi cha mẹ đứa trẻ hoặc người nhà phải đốt vía. Những người đi buôn bán làm ăn, ra ngõ gặp người vía dữ sẽ gặp những sự khó khăn và kém may mắn. Người vía dữ mua mở hàng cho một người bán hàng, người này sẽ ế hàng và cũng phải đốt vía.
Trái với người vía dữ là người vía lành.
Muốn đốt vía người ta thường dùng cây chổi xuể hoặc chổi lúa đã dùng rồi, hoặc nắm lá gối, đốt lên soi chung quanh đứa trẻ đang khóc, hoặc gánh hàng đang bán, vừa soi vừa nói:
-
Đốt vía, đốt vía, vía lành thì ở, vía dữ thì bước!
Người ta soi đi soi lại hai ba lần, nhắc lại câu nói trên cũng chừng ấy lượt rồi đem vứt cây chổi hoặc nắm lá ra xa.
Nếu không có cây chổi hoặc nắm lá gối, có thể dùng một nắm giấy rách hoặc giẻ cũ đốt vía cũng được.
Người ta tin rằng, sau khi đốt vía như vậy, vía của kẻ dữ phải bạt đi, đứa trẻ sẽ hết khóc và hàng hóa sẽ bán được.
Tôi xin đóng dấu ngoặc ở đây là xin trở lại cách gọi hồn.
Người lành vía được kén đặt quẻ, đưa một cơi trầu và mấy đồng tiền, xưa là một trăm đồng tiền kẽm. Món tiền này chính là món tiền thù lao cho cô hồn, ngày nay có thể là năm ba chực hay hơn nữa tùy theo cô hồn.
Cô hồn thắp hương đặt lên cơi trầu, đoạn bưng cơi trầu trong có đặt tiền quẻ, nâng ngang trán khấn khứa ông Chiêu bà Dí để hai vị thần này xuống âm phủ tìm âm hồn người đã chết về.
Một lát sau, âm hồn về nhập vào cô hồn kể lể khóc lóc, nói lại lúc lâm chung, tả oán cảnh tình ly biệt. Lúc ấy cha mẹ, anh em, vợ con xúm vào hỏi han hồn. Hồn sẽ tùy những câu hỏi mà trả lời, và tùy người hỏi nhận anh em vợ con hoặc người khác trong gia đình. Người ta cho rằng âm hồn có thể
nhận đúng ai là cha, ai là mẹ, ai là vợ, ai là chồng, ai là cô, dì, chú, bác, con, cháu, anh em. Âm hồn cũng lại nói được nguyên do tại sao mà chết, chết vì bệnh gì, chết ngày tháng nào, lúc an táng người nhà đã cho chọn theo thi hài những gì. Âm hồn lại cho người nhà biết hiện ở âm phủ đang làm gì và tình trạng ra sao. Âm hồn có muốn xin gì, người nhà sẽ cúng cho.
Những câu cô hồn nói đúng đều được người nhà thưởng tiền, và nếu có những câu sai thì cô hồn, thay lời âm hồn, sẽ nói là quá đau đớn thương xót người sống nên âm hồn đã nhầm lẫn.
Âm hồn nhập vào cô hồn một lát, sau khi đã được người nhà hỏi thăm đủ
chuyện thì thăng.
Thực ra cô hồn chính là người sành tâm lý, khi nói một câu, thấy người nhà tỏ vẻ không đồng ý là cô hồn đã sửa chữa ngay. Thí dụ hỏi về giờ chết của âm hồn, cô hồn nói: Hồn rằng hồn chết ban ngày. Câu nói không được người nhà tán thưởng, cô hồn liền sửa: Thương cha nhớ mẹ hồn rày thác đêm!
Các cô hồn phần nhiều thường là những người có mục tật, không nhìn thấy gì, nhưng rất thính tai, và dường như có đệ lục giác quan để hiểu biết khi nói lầm.
Những điều kỵ của âm hồn:
Giữa khi hồn đang nói chuyện với người nhà, nếu có người dữ vía bước vào thì lập tức hồn thăng, cũng như khi gọi hồn mà do người dữ vía đặt quẻ
thì hồn không lên!
Ngoài việc kỵ người dữ vía, âm hồn còn kỵ các điểm sau:
- Trước khi hồn chưa về mà có người nhà lấy nồi đất úp vào đầu ông táo, tức là ông đồ rau ở trong bếp, hồn không lên.
- Hoặc có ai nghịch tinh bỏ muối vào bếp, thì hồn cũng không lên được.
Tục cho rằng làm như vậy thì ông Chiêu bà Dí không hỏi han ông Táo được để đi tìm hồn về thì hồn lên làm sao nổi.
Gọi hồn người sống
Có nhiều người muốn thử thách cô hồn, thay vì gọi hồn người chết, người ta đã gọi hồn người sống, những người vắng mặt và có khi cả những người có mặt. Ấy thế mà hồn vẫn cứ lên và vẫn cứ trả lời được những câu hỏi của mọi người, nhiều khi rất phù hợp với những việc đã xảy ra, hoặc tình trạng ở
trong nhà.
người ta bảo rằng đó là ông Chiêu bà Dí đã hỏi han Táo quân nên biết rõ mọi việc trong nhà của người đứng lên hỏi hồn mà nói ra.
Ngày xưa phụ nữ tin gọi hồn lắm. Hễ trong nhà bất hạnh có người mất, dẫu nghèo kiết cũng cố mời cô hồn về để gọi hồn, có khi gọi đôi ba lượt để
đỡ nhớ thương!
Phụ tiên
Phụ tiên cũng giống như gọi hồn chỉ khác ở đây là mời bóng một vị tiên nhập vào cốt người trần, thay vì mời âm hồn người chết.
Tiên lên không truyền phán như cô hồn, tiên chỉ thảo thơ.
Muốn phụ tiên phải tìm những nơi chùa chiền thanh vắng, người nào có việc cầu khẩn phải tắm rửa sạch sẽ, ăn chay một ngày, rồi mua vàng hương trầu rượu bày lên một hương án đốt đèn, đốt hương lễ bái, khấn khứa rồi mới phụ.
Cách thức phụ tiên
Trước chỗ án thờ có một mâm gạo. Một người ngồi đồng lấy khăn che kín mặt, tay cầm một cái bút bằng cành đào. người ta thường kén cành đào mọc về hướng Đông và bẻ cành đào vào buổi sáng, ngọn cành đào chấm xuống mâm gạo.
Một người cầm hương thư vào mặt và hai người ngồi đồng. Vài ba người khác đọc những văn sai để cầu tiên lên, hoặc ngâm những cổ thi. Khi người ngồi đồng bắt đầu đảo là tiên sắp lên.
Lúc đó người ngồi hầu đồng phải khấn khứa, tấu lạy, kêu van. Một lát sau tiên gõ bút vào mâm gạo rồi bắt đầu viết. Tiên viết trên mâm gạo.
Người hầu bút phải trông theo những chữ viết trên mâm, chép ra một tờ
giấy.
Thường thường khi tiên viết xong một bài thơ lại truyền cho những người hầu đồng ngâm lại cho tiên nghe. Lúc đó, tiên muốn truyền phán gì sẽ viết trên mâm gạo để người hầu bút chép lại.
Thơ tiên làm rất nhanh, như kiểu ứng khẩu hoặc ứng bút, không nghĩ ngợi gì. Tiên đã viết ra là thành thơ, cũng có khi tiên làm ca phú, làm tứ khúc.
Lúc tiên mới lên, bài thơ đầu tiên bao giờ cũng là bài thơ để tiên tự xưng danh hiệu của mình cho mọi người biết: Lê Sơn Thánh Mẫu, Quỷ cốc tiên ông hay Vương Ngao lão tổ... cũng có khi vị tiên lên lại là Lý Bạch, hay một Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
tay thi bá nào khác.
Sau khi xưng danh hiệu rồi, tiên mới lần lượt làm tặng mỗi người hầu đồng một bài thơ, trong bài thơ ẩn rõ sự hay dở của đương sự, riêng đương sự
biết, nếu đương sự hiểu thấu bài thơ.
Có khi tiên truyền lấy rượu uống. Người hầu đồng phải rót hỏa thang.
Tiên cầm bút chấm vào rượu hỏa thang. Tiên cầm bút chấm vào rượu đã là tiên uống rồi!
Có khi tiên hứng đánh cờ, truyền lấy bàn cờ, người hầu đồng phải hầu cờ
tiên. Mỗi khi muốn đi một nước cờ, tiên chỉ cầm cành đào chỉ vào quân cờ
và vạch nước đi. Một người hầu đồng khác nhắc quân cờ đi theo ý tiên.
Có khi đòi xướng họa thơ với người hầu đồng.
Ai muốn xin điều gì, chữa bệnh cầu danh thì viết thơ phong kín mà kêu, tiên sẽ chỉ bảo.
Ngày xưa, mỗi khoa thi học trò thường rủ nhau năm bảy người phụ tiên lên để hỏi về khoa cử.
Tiên có khi lên rất lâu, và có khi thăng sau khi đã giáng một vài bài thơ.
Phụ tiên cũng như gọi hồn và đồng cốt, thực hay hư, hư hay thực chỉ duy những người trong cuộc mới hiểu rõ.
Ngoài ra, đây cũng chỉ là biến thể các môn đồ lưu phái đạo Lão đã tạo nên do sự suy diễn cái tinh thần đạo mà ra.
Xin thẻ
Tại các đền miếu, và cả tại các chùa nữa thường có một hoặc nhiều ống thẻ để thờ. Mỗi ống có trăm thẻ.
Thẻ tức là mảnh tre mỏng, trên có mang một số, số này ăn với quẻ thẻ.
Thẻ còn được gọi là xâm và quẻ thẻ là quẻ xâm.
Quẻ thẻ là gì`?
Một quẻ thẻ là một bài thơ giáng bút trong lúc phụ đồng vị thần linh thờ
tại ngôi đền hoặc miếu có thẻ.
Bài thơ giáng bút được chép lại và ghi số, số bài thơ này ghi vào thẻ tre trong ống thẻ.
Thơ giáng bút ở đây khác với thơ giáng bút lúc phụ tiên ở chỗ được chép lại và dùng để ứng vào những người xin thẻ về sau, còn thơ phụ tiên thì chỉ
hợp với người hầu đồng lúc đang lên.
Mỗi bài thơ giáng bút đều được khắc in với số đã ghi để phát cho người xin thẻ.
Triệu
Trong quẻ thẻ, ngoài bài thơ còn mấy chữ đề là triệu gì. Triệu tức là cái điềm ứng vào quẻ thẻ. Thí dụ: triệu Tướng quân đắc thắng, triệu Vạn vật phùng xuân, hoặc triệu Du thuyền ngộ vũ, có triệu xấu có triệu tốt. Triệu chỉ
những nét đại cương về quẻ thẻ. Triệu Tướng quân đắc thắng là triệu tốt, và ứng vào người xin thẻ như một vị tướng quân được trận, triệu vạn vật gặp xuân; trái lại triệu du thuyền ngộ vũ tức là chơi thuyền gặp mưa là một triệu xấu.
Mỗi quẻ thẻ có một triệu riêng, không quẻ nào giống quẻ nào.
Thường thường trong ống thẻ trăm quẻ, có độ 10 triệu thật tốt mang hai chữ đại cát hoặc thượng thượng, 20 triệu tốt vừa mang chữ đại cát hoặc chữ
thượng; 10 triệu thật xấu mang hai chữ hạ hạ, 20 triệu xấu mang chữ hạ, còn 40 triệu mang chữ trung bình, không tốt không xấu.
Nội dung quẻ thẻ
Như trên đã nói, mỗi quẻ thẻ có một bài thơ, bài thơ này tổng đoán việc cát hung, tùy theo triệu ghi ở đầu quẻ thẻ.
Dưới bài thơ lại phân ra từng mục với lời giải: bản mệnh, mưu vọng, cầu tài, hành nhân, thất vật, lục giáp, quan trạng, bệnh tật v.v...
Lời giải của mỗi mục hoặc là văn xuôi, hoặc có khi lại là một bài thơ riêng.
Cuối cùng quẻ thẻ là lời chú giải chung theo ý nghĩa của bài thơ tổng đoán trên.
Đầu năm, các thiện nam, tín nữ đi lễ thường xin quẻ thẻ để xem vận mệnh hay dở quanh năm của mình.
Các thí sinh đi thi, các người buôn bán làm ăn, các người có thân nhân đau ốm cũng thường xin thẻ để tìm hiểu kết quả trước.
Cách thức xin thẻ
Muốn xin thẻ trước hết phải quỳ khấn trước bàn thờ, khấn rõ tên tuổi, sinh quán, trú quán, muốn xin quẻ thẻ về việc gì. Khấn xong lễ bốn lễ rưỡi, ngày nay người ta vái bốn vái dài, ba vái ngắn. Lễ hoặc vái xong, người xin thẻ cầm ống thẻ mà xốc, xốc mãi cho đến khi từ trong ống thẻ một chiếc vọt ra thì Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
thôi. Trong trường hợp có nhiều chiếc thẻ cùng vọt ra một lúc, người xin phải khấn lễ lại và lại xốc ống thẻ cho đến khi được một chiếc thẻ.
Tại miền nam, sau khi xóc được chiếc thẻ bắn ra ngoài rồi, người xin thẻ
còn xin thêm một đài âm dương bằng hai đồng tiền hoặc bằng hai con keo hình mặt trăng lưỡi liềm. Hai con keo đều một mặt phẳng và một mặt vồng lên khum khum, coi như một mặt sấp, một mặt ngửa. nếu đài âm dương ứng theo lời xin nhất âm, nhất dương, tức là quẻ thẻ đương sự xin đã được thần linh chiều theo việc cát hung vận về đương sự mà ứng cho vậy.
Khi đã có một chiếc thẻ bắn ra ngoài và khi đài âm dương đã ứng cho quẻ
đó, người xin thẻ đọc số thứ tự ghi trên chiếc thẻ, rồi ra xin người thủ từ hoặc ban quản trị nơi thờ tự một quẻ thẻ, có in sẵn, theo số đã đọc trên chiếc thẻ.
có nơi, người lấy thẻ phải trả tiền giấy in, có nơi thẻ được phát không cho khách tới lễ bái xin thẻ.
Về đài âm dương, có người xin trước, có được nhất âm nhất dương mới xin quẻ sau.
Trong trường hợp keo âm dương đầu tiên không được, người ta thường khấn khứa xin lại, và như thế cho tới lần thứ ba, nếu vẫn không được nhất âm nhất dương thì người ta sẽ thôi. Hôm đó thần linh không ứng cho đương sự.
Đoán thẻ
Xin được quẻ thẻ rồi, đương sự phải nhờ người đoán, vì nhiều khi bài thơ
tổng đoán cũng như các lời chú giải, nghĩa không rõ ràng, chỉ những người đoán thẻ quen mới hiểu.
Tại trước của các nơi thờ tự thường có những ông thầy ngồi xem số đoán thẻ. Mỗi quẻ thẻ đoán xong, khách đi lễ thường trả cho người đoán thẻ một món tiền thù lao nhỏ.
Những quẻ thẻ ngày nay
Theo lời các cụ thì trước đây, mỗi quẻ thẻ bao giờ cũng là một bài thơ
giáng bút Hán tự.
Số người đọc được Hán tự giờ đây, không có nhiều nên tại các thờ tự, ban quản trị hoặc những người có trách nhiệm đã thuê người diễn nôm và diễn nghĩa những quẻ thẻ, cho in sang chữ quốc ngữ, và có khi vẫn còn kèm cả
chữ Hán.
Tại những nơi thờ tự mới lập gần đây, người ta không xin được thần linh giáng bút thì người ta thuê hoặc nhờ soạn sẵn một số những quẻ thẻ, có hay có dở, có trung bình với đủ lời chú giải, rồi làm lễ cầu thần linh, xin cho mỗi quẻ một số bằng cách rút thăm. có bao nhiêu quẻ thì người ta viết từng ấy số, mỗi số trên thanh tre hoặc một mảnh giấy, đoạn người ta khấn vái để rút một số cho một quẻ thẻ.
Ngày nay ở Sài Gòn, về dịp đầu năm cũng như trong những ngày tuần tiết, người ta kéo
nhau đi lễ và xin
thẻ rất đông tại
các đền chùa như
tại lăng Tả quân
Lê Văn Duyệt ở
Gia Định, đền
Hưng
Đạo
Vương ở Sài Gòn,
đền Sòng Sơn
thờ Liễu Hạnh
công chúa ở
đường Trương
Minh Giảng (Lê
Văn Sỹ), đền Hai
Bà Trưng ở Gia
Định v.v...
Tục xưa nếp
cũ, mấy ai bỏ
được dễ dàng.
NHO GIÁO
Cũng như Lão giáo có một ảnh hưởng rất sâu xa tới gia đình và xã hội Việt nam, nho giáo là một trong tam giáo đã được dân ta sùng tín từ thời Bắc thuộc, nghĩa là từ gần hai nghìn năm nay, đã du nhập vào Việt nam cùng với sự đô hộ của người Trung Hoa và cũng có những thời kỳ toàn thịnh.
Người ta gọi nho giáo là Khổng giáo nghĩa là đạo của đức Khổng Tử. Gọi như vậy không phải là vì đức Khổng Tử sáng lập ra đạo nầy, nhung chính vì ngài là người đã biểu dương và phát huy lẽ đạo
Trước khi tìm hiểu nho giáo một cách sơ lược, thiết tưởng cần biết qua thân thế đức Khổng Tử.
Đức Khổng Tử
Đức Khổng Tử sinh ngày 27 tháng 8 năm canh Tuất tức là năm thứ 21 đời Vua Linh Vương nhà chu, và là năm thứ 22 đời vua Tương công nước Lỗ, vào năm 445 trước Thiên chúa giáng sinh. Quê ngài ở làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông.
Chính tên húy ngài là Khâu và tự là Trọng NÌ.
Thánh phụ là Khổng Thúc Lương, tự là Thúc Lương Nột làm quan nước Lỗ.
Thánh mẫu là Nhan Thị, đi cầu tự ở núi Ni Sơn mà sinh ra Ngài.
Có sách chép tổ tiên đức Khổng Tử thuộc về hoàng tộc nhà Ân, và Ngài chính là con cháu Vi Trọng làm vua nước Tống. Về sau tới đời ông của Ngài là Khổng phòng Thúc di cư sang nước Lỗ và do đó nước Lỗ đã trở thành quê hương của Ngài.
Bà Nhan Thị là vợ thứ của cha Ngài. Khi lấy bà thì cha Ngài đã 70 tuổi và đang ước ao sinh được con trai.
Bà Nhan Thị muốn cho chồng được như ý mới lên núi Ni Khâu cầu tự. Sách chép rằng khi bà tới núi thì lá cây ở trên núi đều dựng đứng lên, và lúc bà trở
về thì lá cây lại ngả chúi xuống đất.
Khi đức Khổng Tử sinh ra, trên đầu có cái gò giống như núi Ni Khâu, vì vậy nên Ngài được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni để tỏ ý biết ơn và kính trọng núi Ni Khâu vậy.
Những điềm lạ trước khi Đức Khổng Tử ra đời
Sách chép lại rằng trước khi đức Khổng Tử ra đời có nhiều điềm lạ.
Trước ngày sinh Ngài hai hôm, tại Khuyết Lý, tỉnh Sơn Đông, ở phía Tây Nam, cách huyện Khúc phụ, quê hương của Ngài, ba dặm có một con Kỳ Lân hiện ra và nhả ra một tờ ngọc thư có đề chữ rằng: “Thủy Tinh chi Tử, Kế Suy chu Vi Tố Vương” nghĩa là con của Thủy Tinh, nối ngôi nhà chu đã suy mà làm vua không ấn.
Bà Nhan Thị tới nơi lấy làm lạ mới lấy dây lụa buộc nơi sừng con Kỳ Lân để làm dấu tích. Hai đêm sau, con thú ấy biến mất.
Tới đêm bà Nhan Thị sinh Ngài, có hai con rồng hiện xuống quấn chung quanh bà.
Và ở ngoài sân có năm ông lão đứng ngay trước cửa nhà, năm ông lão ấy chính là năm vị sao Kim Tinh, Mộc Tinh, Thủy Tinh, Hỏa Tinh và Thổ Tinh.
Người ta đoán rằng bởi Ngài là con của Thủy Tinh nên vị sao nầy hiện xuống, còn bốn vị sao kia cũng xuống để chúc mừng ngày sinh ra ngài. Cho đến lúc ngài ra đời, trong phòng bà nhan Thị có tiếng nhạc nổi lên và ở không trung có tiếng nói: “Thiện cảm Sinh Thánh Tử”, nghĩa là trời cảm lòng cầu nguyện cho sinh con thánh.
Sách cũng có chép rằng khi ngài mới sinh, ở ngực ngài có ghi mấy hàng chữ đại ý nói: cái đạo của người làm phép tắc cho thế gian.
Lúc thiếu thời
Năm Ngài lên ba tuổi thì Thánh phụ qua đời.
Lên năm, lên sáu tuổi ngài ưa chơi những đồ dùng trong nghi lễ cúng tế
như đèn, nến v.v... Chơi với chúng bạn, ngài xếp chúng bạn ngồi thành hàng trước rồi ngài ngồi một cách cung kính, hoặc bày đồ tế lễ tập cúng tế với nhau.
Năm lên bảy tuổi, Ngài khởi học với Án Bình Trọng, quan đại phu của vua cảnh công nước Tề. Bẩm tính thông minh, ngài học viết rất dễ dàng, ngài học xa, kiến văn rộng, hiểu thấu lẽ huyền diệu của tạo hóa.
Năm 19 tuổi, Ngài kết duyên với con gái Tống hầu tên là Thị Quan.
Xuất chính
Trong sách Luận ngữ, đức Khổng Tử có nói:
- “Ngô Thiếu Dã Tiện, cố Đa Năng Bỉ Sự” nghĩa là Ta lúc niên thiếu vì nhà nghèo, nên phải làm việc ở nhiều chỗ không xứng đáng.
Năm 20 tuổi, Ngài nhận làm Ủy lại cho bá tước Quý Thị chức. Ủy lại chuyên Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
trông coi các vựa lúa.
Năm 21 tuổi, Ngài được phong làm Tư chức lại, trông coi đồng cỏ nuôi súc vật dùng trong việc cúng tế.
Năm 22 tuổi, Ngài dạy học ở Khuyết Lý. Ngài rất nổi tiếng trong việc giáo dục con em mặc dù Ngài còn ít tuổi.
Năm Ngài 51, vua nước Lỗ nghe tiếng Ngài dùng Ngài làm quan Tư Khấu, coi việc hình. Một năm sau vua nước Lỗ lại phong Ngài làm Nhiếp chính sự, nhưng chỉ ít lâu về sau, Ngài thấy nhà vua đam mê về nữ nhạc, trễ nãi việc triều chính, Ngài can ngăn không được, xin từ chức.
Sự nghiệp
Sau khi từ quan tại nước Lỗ, Ngài đi chu du khắp các nước chư hầu, trải qua Tề, Vệ, Sở, Tống... với ý nguyện mong đem đạo học của Ngài ra để cứu đời, nhưng tới đâu, Ngài cũng không được các vua chư hầu hết lòng tin dùng.
Ngài lại trở về nước Lỗ, mở trường dạy học ở Hạnh Đàn.
Ngài san định lại kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Nhạc, kinh Xuân Thu gọi là Lục kinh. Kinh Nhạc sau bị thất truyền nên chỉ còn lại Ngũ
kinh.
Ngài dạy người ta những điều Hiếu, Đễ, Trung, Thứ, Tu, Tề, Trị, Bình.
Hiếu: để thờ cha kính mẹ
Đễ để hòa thuận với anh em
Trung để hết lòng với vua với nước
Thứ để ở với người cho hợp lẽ
Tu để tự sửa nết mình
Tề để quản trị gia đình
Trị để lấy đạo trị nước
Bình để yên thiên hạ.
Tám điều trên là tôn chỉ của Ngài mà cũng là của Nho giáo.
Ngoài tám điều đó, Ngài lại dạy người ta lục nghệ là:
Lễ, phép giữ lễ nghi
Nhạc, phép âm nhạc
Xạ, phép bắn cung
Ngự, phép cưỡi ngựa
Thư, phép viết
Số, phép tính.
Theo ngày nay, Lễ là phép giao thiệp, Nhạc để giải trí, Xạ và Ngự là thể
thao, Thư là văn nghệ, còn Số là toán pháp.
Học trò Ngài đông tới 3.000 người, nhưng được xếp vào bậc cao hiền thông hiểu hết lục nghệ chỉ có 72 người. Trong bọn cao hiền nầy duy có Nhan Hồi, Tăng Sâm là giỏi hơn hết.
Ngài thọ 73 tuổi, mất vào ngày 18 tháng hai năm Nhâm Tuất tức là năm thứ 41 đời vua Kinh Vương nhà chu, 373 trước Thiên chúa kỷ nguyên.
Ngoại thư chép rằng khi Ngài đang làm bộ sách Xuân Thu, có người nước Lỗ đi săn bắt được con Kỳ Lân què một chân, đem bỏ ở ngoài đồng. Khi Ngài trông thấy con thú, Ngài trừng mắt nói:
-
Ngô đạo cùng hĩ, nghĩa là cái đạo của ta đã cùng đường rồi.
Một buổi sáng thầy Tử công trông thấy Ngài vắt tay sau lưng kéo cây gậy thủng thỉnh đi ngoài cửa ngâm:
Thái sơn kỳ đồi hề!
Lương mộc kỳ hoại hề!
Triết nhân kỳ hủy hề!
Dịch:
Núi Thái Sơn đổ rồi!
Cây lương mộc mất rồi!
Người triết nhân tàn rồi!
Sau khi ngài mất.
Ngài mất rồi, học trò lập đền thờ ngay ở chỗ nhà ngài. Thầy Tăng Tử chép lời Ngài soạn ra sách Đại Học, các học trò ghi chép lời ăn nết ở của Ngài soạn ra sách Luận Ngữ. Sau đó Tử Tư soạn ra sách Trung Dung và 110 năm sau, thầy Mạnh Tử soạn ra sách Mạnh Tử.
Những sách đó được truyền bá để dạy thiên hạ và do vậy đạo Nho ngày một lan rộng.
Tại Trung Hoa cũng như ở các nước đã từng nội thuộc, đạo Nho ngày càng được tôn sùng nên càng thịnh đạt.
Khắp nơi, đâu đâu cũng có đền thờ Ngài, và mọi người tôn ngài là chí Thành Tiên Sư.
Tại nước ta, đền thờ Ngài cũng được thiết lập từ làng xã cho tới kinh đô: đó là văn chỉ, văn từ và văn miếu.
Hàng năm tới ngày đản sinh Ngài, tại các nơi này đều có cúng tế.
Nguồn gốc Nho giáo
Như trên đã nói, Nho giáo có từ lâu, từ trước khi đức Khổng Tử ra đời.
Bắt đầu từ đời vua phục Hi chế ra bát quái gồm tám quẻ càn, Khảm, cấn, chấn, Tốn, Ly, Khôn và Đoài và sáng lập ra văn khế; kế đến đời vua Hạ Vũ
dựng ra cửu trù tức là chín phương pháp để trị thiên hạ, gốc triết học Nho giáo đã phát sinh.
Với các lời khuyên răn của các ông Đại Vũ, cao Dao, Y Doãn, phó Duyệt tóm thâu trong mấy chữ Điển, Mô, Huấn, cáo, Thệ, Mệnh, nền luân lý Nho giáo đã được dựng:
Điển là phép tắc
Mô là mưu chước, là cách thức
Huấn là dạy bảo
Cáo là lời bảo xuống
Thệ là lời răn bảo tướng sĩ
Mệnh là mệnh lệnh
Rồi vua Nghiêu, vua Thuấn đặt ra điển hình, chu công chê là lễ nhạc tạo nên gốc chính trị học của Nho giáo.
Cho đến đời Xuân Thu, đức Khổng Tử mới góp nhặt các lời lẽ văn chương của Tiền Thánh để dạy thiên hạ, lập thành một lối học riêng, lối học đó chính là Nho giáo.
Lý thuyết Nho giáo
Nho giáo đã có một ảnh hưởng xâu xa trong dân chúng và đã tạo nền nếp trong phong tục Việt Nam. Muốn hiểu biết ảnh hưởng ấy, cần biết sơ
qua về lý thuyết của Nho giáo trên hai phương diện vũ trụ và con người.
Về vũ trụ
Theo nguyên tắc chung về vũ trụ, các triết gia Á Đông cho rằng vật chất đã có từ muôn thuở, vũ trụ, quả đất đã có từ lâu đời và sẽ mãi mãi, qua sự
biến chuyển từ kiếp này qua kiếp khác. Cứ sau mỗi thời kỳ 129.600 năm, tất cả trở lại tình trạng hỗn độn, ngoại trừ những mầm mống bất diệt sẽ tạo nên thời kỳ sau.
Thời kỳ 129.600 năm là một Nguyên. Nguyên chia là 12 hội, mỗi hội 10.800
năm. Lúc vũ trụ đi tới hội thứ 11, tức là hội Tuất, tính theo hội đầu là Tý, loài
người và vạn vật phải tiêu diệt. Đến hội thứ 12 là hội Hợi, tất cả mọi vật đã tạo nên đất phải tan rã hoàn toàn để hòa với những vật lỏng trên trời thành một khối gọi là hỗn độn hay hỗn mang. Trong nửa phần thứ hai của hội Hợi, tức là 5.400 năm, đêm tối bao trùm vũ trụ cho đến ngày tận thế.