Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 50
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Mỗi buổi lễ thường có vàng mã của dân làng mang tới cúng. Vàng mã này được đem hóa vào buổi chiều tối, khi dân làng không còn ai tới lễ nữa.
Riêng đồ lễ của làng thì ngay sau khi cúng xong hết tuần hương được đem chia làm đôi, một nửa làm cỗ kiến viên để các bô lão và quan viên hiện diện tại đó uống rượu, còn một nửa chia cho các hàng bô lão chức sắc mỗi người một miếng oản, một quả chuối có khi nửa quả chuối, một miếng trầu làm phần cho được quân chiêm thần huệ. phần dẫu không bao nhiêu nhưng việc chia xẻ rất phân minh. Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp, người ta lấy sự thừa huệ lộc thánh thần làm trọng. người đăng cai vì vậy phải cẩn thận không được để sót người nào được quyền hưởng phần mà không chia.
Đồ lễ của làng do một ông lềnh mãi biện phải lo và đóng vai đăng cai.
Tiền mua đồ lễ, ông lềnh sẽ được làng hoàn lại.
Tế
Tế là cúng theo một nghi thức long trọng và có âm nhạc như trên đã trình
bày.
Tế dùng trong việc hiếu hỷ, sự thần là lễ Trời phật.
Về hiếu tế và hỷ tế xin xem các bài về tang lễ và hôn lễ.
Ở đây chỉ nói tới việc tế lễ thần thánh. Về Trời phật, xin xem các chương sau.
Tế Kỳ phúc
Mỗi năm dân làng trong hai dịp xuân thu, cũng có làng trong tứ thời, có một tuần đại tế gọi là tế kỳ phúc để cầu cho dân làng được bình an.
Tế kỳ phúc là một đại tế nên nghi thức rất là cẩn trọng và gồm có các lễ
sau:
Lễ cáo yết
Lễ cáo yết là lễ trình với đức Thành hoàng việc dân làng tổ chức tế kỳ
phúc.
Trong lễ cáo yết dân làng trình với thần linh những trâu bò sẽ dùng trong việc tế lễ. Trâu bò được xem xét kỹ lưỡng, rồi một người cầm chén rượu đổ
vào đầu chúng. Việc đổ rượu vào đầu trâu bò gọi là tỉnh sinh. Tỉnh sinh rồi mới được giết thịt.
Tả văn và rước văn
Một bậc đại khoa hoặc một tay văn tự trong làng, có chân trong ban tư
vấn, được dân làng cử để tả văn nghĩa là soạn bài văn tế thần. Người phụ
trách tả văn gọi là người diễn văn.
Bản văn tế soạn xong, dân làng phải đến rước văn tại nhà người điển văn.
Dân làng mang long đình, cờ quạt và cắt một viên chức đội mũ Tế, mặc áo thụng xanh đi rước văn. Bàn văn đặt trên long đình rước về đình làng.
người điển văn cũng phải đội mũ tế, mặc áo thụng xanh đi theo sau long đình.
Khi văn rước về tới cửa đình, ông chủ tế, thường là ông cai đám cũng có khi là ông tiên chỉ phải ra nghênh tiếp, đem bản văn vào để trong nội hương án, rồi sau đó mới tế.
Những vai dự tế
Tế phải có một người đứng mạnh bái tức là chủ tế, hai hoặc bốn người Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
bồi tế, hai người đông xướng và tây xướng, hai người nội tán, từ mười tới mười hai người chấp sự.
Tất cả những người này đều kén chọn trong người có chân khoa mục, hoặc chức sắc trong làng.
Ông mạnh bái thường là một vị cao niên và phẩm hàm hoặc đỗ cao nhất làng. Đứng chủ tế là một điều danh dự, nhưng được đề cử vào các chân khác tham dự buổi lễ cũng là vinh hạnh lắm, và thường dân làng chỉ kén những người trong ban tư văn.
Chủ tế đứng mạnh bái, mang trọng trách lễ thần.
Bồi tế đứng giúp chủ tế. Bồi tế đứng dưới người chủ tế và cứ trông theo mà lễ.
Đông xướng và tây xướng, hai người xướng nghi thức trong lúc tế đứng đối nhau bên cạnh hương án.
NỘÌ tán, hai người
đứng hai bên tế chủ,
để dẫn người tế chủ
khi ra vào, và trợ
xướng những khi tế
chủ đã vào chiếu
trong.
chấp sự những
người đứng hai bên
phụ trách việc dâng
hương, dâng rượu,
chuyển chúc, đọc
chúc v.v...
Nghi thức tế
Trước bàn thờ
thần bao giờ cũng có
một hương án.
Ở trước hương án
này có trải bốn chiếc
chiếu:
Chiếc thứ nhất là chiếu thần vị.
Chiếu thứ hai là chiếu tế chủ thụ tộ, tức là nơi tế chủ lên hưởng lộc của thần thánh ban cho.
Chiếu thứ ba là chiếu tế chủ.
Chiếu thứ tư là chiếu bồi tế.
Chiếu thứ nhất là tế chủ chỉ được đặt chân lên khi làm lễ.
Chiếu thứ hai, tế chủ chỉ được bước lên khi thụ tộ.
Hai bên hàng chiếu có hai chiếc bàn nhỏ, bàn bên đông để bình rượu, bàn bên tây để trầu cau, gọi là đông bình, tây quả. Trên mỗi bàn này đều có một cây nến đốt sẵn.
Khi vào dự tế từ tế chủ cho đến các viên chức chấp sự, đều phải đội mũ, mặc áo thụng xanh, đi hia chỉnh tề, đứng sắng hàng hai bên.
Khởi sự tế, một người rung lên ba hồi trống.
Kế đó là người đông xướng, xướng lên:
* Khởi chinh cổ
Hai người chấp sự đứng hai bên liền đi vào chỗ giá chiêng giá trống một người đánh ba hồi chiêng, một người đánh ba hồi trống, rồi mỗi bên đánh thêm ba tiếng nữa, đoạn vái đi ra.
Người đông xướng lại xướng:
* Nhạc sinh tựu vị
Phường bát âm nổi lên đàn sáo, cảnh nhị và đồng văn đánh trống ầm ĩ
lên một lúc.
Kế lại xướng:
* củ soát tế vật
Hai người, một người cầm cây nến, ở hai bên bàn đông bình, tây quả, một người cầm cái để cắm một bó hương, dẫn tế chủ vào nội điện để xem xét lại đồ lễ có được thành kính và có thiếu gì không. Xem xong lại trở ra.
Khi đi vào đi bên phải, khi ra đi theo bên trái.
Bước chân cũng có nghi thức riêng.
Xuất á và nhập ất.
Xuất á nghĩa là khi ở chiếu chủ tế bước ra thì đi thẳng rồi rẽ sang bên tay trái, bước đi gẫy góc như nét chữ Á.
Nhập ất nghĩa là khi trở lại chiếu mạnh bái từ chỗ phải đi sang bên trái, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
rồi quay một vòng để không lúc nào quay lưng vào kính giữa bàn thờ. Sau khi quay rồi mới đi thẳng về chiếu chủ tế.
Kế lại xướng:
* Ê mao huyết
Một người cầm cái đĩa đựng một ít huyết và mấy cái lòng trâu bò đổ đi.
Sau đó lại xướng:
* Chấp sự giả các tư kỳ sự.
các người chấp sự ai phụ trách việc gì phải chăm chú để giữ việc ấy.
Lại xướng:
* Tế chủ dữ chấp sự giả các nghệ quán tẩy sở.
người chủ tế và các chấp sự đều đến cả chỗ cạnh hương án, có một chiếc kỷ để một chậu nước và treo một cái khăn.
Lại xướng:
* Quán tẩy
người quán chủ rửa tay vào chậu nước.
Lại xướng:
* Thuế cân
người tế chủ lấy cái khăn lau tay.
Lại xướng:
* Bồi tế viên tựu vị
Mấy người bồi tế bước vào đứng ở hàng chiếu của mình.
Lại xướng:
* Chủ tế viên tại vị
Trong lúc đó các chấp sự viên cũng theo chủ tế về đứng lại chỗ cũ của mình.
Lại xướng:
* Thượng hương
Hai người chấp sự, một người bưng lư hương một người bưng hộp trầu đem đến trước mặt tế chủ. Tế chủ bỏ trầm hương vào lư đốt, rồi cầm cái lư
vái một vái. Sau đó đưa lư hương cho người chấp sự mang đặt vào ở hương án giữa.
Lại xướng:
* Nghênh thần cúc cung bái
Như để đón thần, tế chủ và bồi tế đều lạy thụp cả xuống. Người tây xướng
lúc đó xướng:
* Hưng
Tế chủ và bồi tế đứng dậy.
Đông xướng lại xướng:
* Bái
Tế chủ và bồi tế lại lễ.
Tây xướng, xướng:
* Hưng
Tế chủ và bồi tế lại đứng lên.
cứ như thế cho đến khi lễ xong bốn lễ. Đông xướng, xướng:
* Bình thân
Tế chủ và bồi tế đứng ngay mình cho nghiêm.
Kế đến xướng:
* Hành sơ hiến lễ.
Lễ dâng rượu lần đầu.
Người nội tán xướng:
CÁCH XẾP ĐẶT MỘT BUỔI TẾ
I.Hậu cung - 2. Hương án - 3. Chiếu thần vị - 3. Chiếu thụ tộ - 5.Chiếu mạnh bái - 6.Chiếu bồi tế - 7. Đông bình - 8. Tây quả - 9.Tế chủ - 10, 11, 12, 13. Bồi Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
tế - 14. Đông xướng - 15. Tây xướng - 16, 17. Nội tán - 18, 19. Chấp sự - 20.
Xuất á - 21. Nhập ất - 22. Tế chủ, chỗ đúng sau khi từ chiếu mạnh bái Nghệ
đại vương thần vị tiền - 23. Chậu thau nuớc với khăn tay.
Xuất Á: Ông chủ tế từ vị trí A đi lùi ra khỏi chiếu mạnh tới B, quay sang bên phải đi theo B, C, D cho tới E, quay mặt vào bàn thờ.
Nhập Ất: Ông chủ tế từ vị trí E, quay sang bên trái đi theo đường mũi tên trở về A.
* Nghệ tửu tôn sở, tư tôn giá cử mịch.
Tế chủ đi ra chỗ án để rượu, người chấp sự mở miếng vải phủ trên mâm đài ra.
Đông xướng, xướng:
* Chước tửu
Rượu được rót ra.
Kế lại xướng:
* Nghệ đại vương thần vị tiền
Hai người nội tán dẫn tế chủ lên chiếu nhất.
Xướng:
* Quị.
Tế chủ và bồi tế quỳ cả xuống.
Xướng:
* Tiến tước.
Một người chấp sự dâng đài rượu đưa cho tế chủ vái một vái rồi trả người chấp sự.
Xướng:
* Hiến tước
các người chấp sự dâng rượu đi hai bên, hai tay nâng cao đài rượu đi vào nội điện. Xong trở ra.
Xướng:
* Hưng bình thân phục vị.
Tế chủ và bồi tế cùng phục xuống rồi đứng dậy, tế chủ lui ra chiếu ngoài.
Xướng:
* Đọc chúc.
Hai người chấp sự vào ban trong kính cẩn bưng văn tế ra. người nội tán xướng:
* Nghệ đọc chúc vị.
người nội tán dẫn tế chủ lên chiếu trên.
Xướng:
* Dai quị.
Tế chủ, bồi tế, hai người bưng chúc đọc chúc đều quỳ cả xuống.
Xướng:
* Chuyển chúc.
Người bưng chúc đưa cho tế chủ. Tế chủ cầm lấy, vái một vái rồi đưa cho người đọc chúc.
Xướng:
* Đọc chúc
Người đọc chúc lần này đọc bản văn tế.
Đọc văn tế xong, tế chủ lạy hai lạy rồi ra phía ngoài.
Sau đó lại xướng lễ trở lại để dâng hai tuần rượu nữa. Tuần thứ hai gọi là á hiến lễ và tuần thứ ba gọi là chung hiến lễ.
Xong cả ba tuần rượu rồi, người đông xướng, xướng:
* Ẩm phúc.
Hai người vào nội điện bưng ra một chén rượu và một khay trầu.
Xướng:
* Nghệ âm phúc vị.
Người chủ tế đi ra bước lên chiếu thứ nhì.
Xướng:
* Quị
Tế chủ quỳ xuống. Hai người đưa chén rượu khay trầu cho tế chủ.
Xướng:
* Ẩm phúc
Tế chủ bưng lấy chén rượu vái, lấy tay áo che mồm uống một hơi hết ngay.
Xướng:
* Thụ tộ
Tế chủ cầm khay trầu vái rồi ăn một miếng. Đây là thần linh ban thưởng cho tế chủ. Tế chủ phải dùng ngay trước mặt thần mới là cung kính.
Sau đó tế chủ lễ hai lễ rồi lui ra chiếu ngoài.
Xướng:
* Tạ lễ cúc cung bái.
Tế chủ, bồi tế cùng lạy tạ bốn lạy.
Xướng:
* Phần chúc.
Người đọc chúc xong văn tế đốt đi.
Xướng:
* Lễ tất.
Tế đã xong.
Trong lúc tế, những lúc dâng rượu, đốt văn tế, nhạc sinh đều phải cử nhạc.
Tế xong dân làng theo thứ tự vào lễ thần. chiêng trống lại nổi lên, gọi là chiêng trống lễ.
Đốt hương trong nghi lễ Tết
Trong việc tế lễ bao giờ cũng có đốt hương. Gốc tích sự đốt hương là do Tây Vực truyền sang.
Hương đốt để cầu thần thánh giáng lâm.
Khi xưa tục Trung Hoa khi cúng tế chỉ dùng cỏ thơm hòa với mỡ đốt cho thơm. Đến đời vua Hán Vũ Đế, sai tướng sang đánh nước Hồn Gia xứ Tây Vực. Vua nước Hồn Gia đầu hàng, dâng một thần tượng bằng vàng.
Người nước Hồn Gia cúng tế thần tượng này chỉ dùng hương đốt lên lễ
bái, người Tàu bắt chước và do đó có tục đốt hương.
Tục đốt hương truyền sang nước ta, có lẽ tự đời Tam quốc, khi người ngô là Trương Tân làm thứ sử Giao châu. Trương Tân thường đốt hương để đọc đạo thư.
Đốt hương thường đốt số lẻ: 1, 3, 5 nén vì lẻ thuộc âm.
Tục hiến vật
Ngoài Bắc trong việc tế tự chỉ hiến rượu và các sinh vật thì để toàn sinh nghĩa là nguyên con mới là thành kính, chứ không hiến các món đồ ăn nấu sẵn.
Trong nam trái lại, khi tế lễ có hiến cả các món ăn nấu sẵn.
Tục dâng rượu ở ngoài Bắc và trong nam cũng khác nhau.
Khi dâng rượu ở ngoài Bắc từ chủ tế đến người chấp sự đều đi khoan thai để dâng.
Ở trong nam khi hiến rượu và hiến đồ ăn, có hai người phường tuồng bận
nhung trang cầm nến đi trước, có mấy con hát áo mũ sặc sỡ cầm hương đi sau vừa đi vừa hát những câu chúc, rồi mới đến những người hiến rượu và đồ lễ.
Gần đây trong các buổi tế tại đền Hưng Đạo Vương, 36 đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu), thường có hai em bé mặc quần áo sặc sỡ múa trước bàn thờ khi dâng rượu và đồ lễ. Lại cũng có hai phụ nữ múa theo những điệu múa nhịp nhàng gọi là múa lễ.
Tế Nữ quan
Tế nữ quan tức là buổi lễ được cử hành bởi các bà cô. Thường là những bậc nữ lưu có danh vọng tại làng xã, những người được tiếng tốt mới được dự chân lễ. Lúc dự tế trong người phải sạch sẽ.
Cũng có chủ tế, bồi tế, các vị đông xướng, tây xướng, nội tán chấp sự.
Thường tại các xã có thờ các vị nữ thần hay có tế nữ quan.
Mấy năm gần đây, mỗi năm nhân ngày kỷ niệm Hưng Đạo Vương, tại đền thờ ngài vẫn có tế nữ quan ngoài việc cúng lễ thường lệ.
Làng vào đám
Hàng năm một lần làng vào đám, việc vào đám còn gọi là trà nhập tịch.
Trà nhập tịch thường được tổ chức vào các dịp tháng giêng, tháng hai hoặc tháng tám.
Trà vào đám hàng năm kéo dài vào khoảng bảy tám ngày và gồm có các lễ sau đây:
*
Lễ mộc dục
*
Tế gia quan
*
Rước
*
Đại tế
*
Lễ túc trực
Lễ mộc dục - Lễ mộc dục chính là lễ tắm thần vị. Một ngày trước khi nhập tịch, có khi nửa đêm hôm trước, dân làng dâng lễ có yết thần linh để xin tắm thần vị. phải dùng một chiếc khăn và phải tắm hai lần nước. Lần đầu tiên dùng nước giếng hoặc nước sông trong sạch, nhúng khăn đỏ vào lau. Lau xong, lại lau thêm một lần thứ hai bằng nước trầm hương.
Lễ mộc dục thường cử hành tại đền hoặc miếu là nơi thần linh an ngự. Lễ
tất nhiên tại những nơi chỉ có đình và đình chính là nơi an ngự của thần linh Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
thì lễ mộc cử hành ngay tại đình.
Tại nhiều xã, trước khi làm lễ mộc dục còn có lễ rước nước tức là có một đám rước, rước nước ở sông hoặc ở giếng về đền.
Làng Đông Nhân Hà Nội, thờ Hai Bà Trưng, hội chính vào ngày mồng 5
tháng 2 âm lịch, có rước nước ở sông Hồng Hà vào ngày 4 tháng 2. Làng Thị
càn, Bắc ninh (Hà Bắc), thờ Thánh Tam Giang, mở hội từ 7 đến 16 tháng 8 âm lịch có rước nước ở sông cầu vào ngày 7 tháng 8.
Tế gia quan - Sau lễ mộc dục là tế gia quan. Mũ áo đại trào hoặc bằng giấy vẫn thờ tại hậu cung được phong lại bởi người cai kiệu và những chân kiệu, nghĩa là những người được dân làng cử để khiêng kiệu đức tôn thần trong những buổi rước, những người này phải trai giới từ mấy hôm trước và chỉ những người này mới được tham dự việc phong mũ áo.
Trong lúc vào phong mũ áo, mỗi người phải bịt miệng bằng một chiếc khăn điều để trần khí không xông tới thánh cung, mang tội bất kính.
Mũ áo đai mãng phong lại rồi, được an phụng lên long kiệu, rồi tế một tuần, chờ đến sáng hôm sau thì rước về đình. Tuần lễ này chính là tế gia quan.
Lễ vật dùng vào việc tế gia quan, to nhỏ tùy xã, các bô lão và quan viên cùng hưởng thụ. Sau đó, các người đem chậu nước trầm lau thần vị lúc trước, thứ tự theo trên dưới, mỗi người nhúng tay vào lau lên mặt một chút gọi là quân chiêm thần duệ. cái khăn vải đỏ dùng để lau thần vị cũng được đem xé chia mỗi người một mảnh con cho đều. Đeo mảnh vải này vào cổ sẽ được khước, tránh được bệnh tật và tà ma phải xa lánh.
Rước. - ngày hôm sau thần vị được rước từ miếu về đình.
Đại tế. - Thần vị đã rước về thờ tại đình, dân làng dâng đồ lễ tế một cách long trọng. Đồ lễ có khi rất lớn, làng giết trâu mổ bò, tế xong cả làng cùng hưởng.
Lễ túc trực. - Trong suốt thời gian vào đám, mỗi tối dân làng đều có trầu rượu hoa hương cúng thần do các vị bô lão và quan viên làm lễ. Một số người được cắt canh, trong đó có ông cai đám tại đình để chầu chực hầu hạ thánh, cho đến khi dã đám.
Xướng ca. - Tại nhiều làng tối hôm nhập tịch, có khi luôn mấy hôm sau, dân làng cũng tế thần, đồ lễ tùng tiệm hơn, thường chỉ là cỗ xôi con gà hoặc thủ lợn, có khi là một mâm cỗ nấu. Trong những buổi lễ này, mỗi tuần hiến rượu lại có ca nhi hát thờ thần. Tế xong, ban hát, có khi là ả đào, có khi là hát
bội hát chèo, hát chúc thánh mừng dân suốt đêm. Trong lúc này có các bô lão và quan viên được cử cầm trống chầu.
Toàn dân xã có thể kéo nhau ra đình xem hát, ngồi giải tọa ở sân đình, hai bên bậc lên xuống chỗ tiền tế.
Hát xướng đến nửa chừng, ông thư chỉ đánh ba tiếng trống khẩu, dâng làn đều đứng dậy reo mừng. Rồi pháo đốt lên, tù và thổi lên và hạ đồ lễ
xuống dân làng uống rượu, gọi là dân làng nhưng thường chỉ có các cụ và các quan viên mới được dự bữa này.
Độ một giờ sau, dân làng reo lên lần thứ hai, reo lâu hơn lần đầu. Rồi một giờ nữa dân làng lại reo lần thứ ba và lâu hơn lần thứ hai. Và lần thứ ba này cuộc rượu của dân làng mới tan. Rượu tuy tan, nhưng hát xướng vẫn tiếp tục cho đến sáng.
Và ban ngày lại có hát chèo hát bội và các trò vui khác, tùy theo từng làng.
Tục giao hiếu
Nhiều địa phương, các làng xã gần nhau thường thờ một vị Thành hoàng, như bốn xã phù Đổng, phù Dực, Đồng Viên và Đồng Xuyên huyện Tiên Du, Bắc Ninh (Hà Bắc) cùng thờ đức phù Đổng Thiên Vương, cũng có khi hai ba xã ở cách xa nhau một vài xã khác cùng thờ một vị Thành hoàng, như xã Yên cư thuộc ninh Bình và xã Bảo Lộc tỉnh nam Định (Hà Nam Ninh) cùng thờ đức Hưng Đạo Vương.
Những xã cùng thờ chung một vị thần, thường có tục giao hiếu với nhau.
Trong những ngày nhập tịch, các xã đã thờ chung một vị thần, thường cùng vào đám một dịp, những xã này rước lẫn sang nhau gọi là rước đánh giải. Khi xã nọ cử hành đám rước tới xã kia thì các bô lão, quan viên cũng như
các chân kiệu, chân đi rước đều vào đình lễ thần sau khi đã rước kiệu vào.
Sau đó để tỏ tình giao hiếu, xã chủ mời xã khách giải tọa uống rượu và nghe hát.
Việc giao hiếu tùy lệ, có nơi chia nhau mỗi xã làm chủ một năm, các xã khác nhau đều ước hẹn một ngày cử hành đám rước tới xã này, rồi cùng tổ
chức một lễ tế thần chung. Tế xong, các xã cùng thừa hưởng lộc thánh ăn uống với nhau, và cùng nhau dự các cuộc vui chung: nghe hát, xem các trò bách hí, tức là những trò vui như đánh vật, đánh vòng, múa đôi v.v... thay đổi tùy từng địa phương.
Cơm khoản đãi
Thường trong việc giao hiếu, xã chủ bao giờ cũng làm việc khoản đãi xã khách. Đám rước tới đầu làng đã được hàng bô lão quan viên xã chủ áo thụng khăn xếp, đứng đón để đi theo đám rước vào đình.
Và sau cuộc tế lễ, lúc khoản đãi, xã chủ cũng mời xã khách rất cung kính trịnh trọng, thường dùng chiếu cạp điều để mời xã khách.
Xã khách được xã chủ mời chia nhau theo thứ tự trên dưới ngồi ở làng mình để dự tiệc, và xã chủ cũng cùng dự tiệc và phải cắt người tiếp khách đúng theo thứ vị của xã khách, thí dụ bô lão thì do bô lão tiếp, quan viên thì do quan viên tiếp, còn các chân kiệu chân cờ do dân làng tiếp.
Reo hoan thanh
Bữa tiệc khoản đãi này rất vui. có xã chủ lẫn xã khách sau khi an tọa một lúc cùng nhau reo to ba lần, lần đầu ba tiếng, lần thứ hai sáu tiếng và lần thứ
ba chín tiếng. Ba lần reo, gọi là reo hoan thanh, tức là cất lên những tiếng reo mừng liên hoan cách nhau mỗi lần khá lâu để mọi người cùng ăn uống, vì khi đã reo xong lần thứ ba, bữa tiệc phải tan
Cơm quả, cơm quan viên
Xã khách này tuy được xã chủ khoản đãi, nhưng trước đây, khi đi rước thì những người đi rước thường làm sẵn một mâm cơm lịch sự đựng vào trong một chiếc quả đỏ, cho người đem tới xã chủ, gọi là cơm quả để tế thần. các bô lão, quan viên và chức sắc đã có các ông lềnh, mãi biện sắm sửa năm ba mâm, nấu những đồ ngũ trần bát vị, đủ các thứ bánh đường bánh ngọt, gọi là cơm quan viên.
Cơm quan viên cũng đặt lễ thần, sau đó hạ xuống cùng với cơm quả để
hai xã chủ khách cùng ăn trong bữa tiệc khoản đãi.
Trong việc giao hiếu các làng thường hết sức giữ lễ với nhau cố tránh hết mọi sự sơ ý có thể gây nên hiềm khích giữa hai làng.
Hàng năm xưa kia ta có tục vào đám vì Việt nam ta là một nước nông nghiệp, quanh năm làm ăn vất vả, chỉ được nghỉ ngơi vào dịp xuân, dịp thu, nhân những dịp này dân làng mở hội trước là để tế thần, sau là để cùng giải trí.
Ngày nay, ở nhiều nơi, mỗi năm nhân ngày thần kỵ cũng vẫn còn mở hội,
nhưng chú trọng vào việc lễ bái nhiều hơn. ngày hội chính là dịp để dân làng gặp mặt, và đối với nam nữ thanh niên, chính là dịp để cho họ tìm hiểu lẫn nhau. Thực ra nhiều hủ tục thật nên bỏ, nhưng việc lễ bái cúng tế nhân ngày thần kỵ để tỏ lòng sùng kính thần linh và cũng để tạo nên một dịp dân làng gặp gỡ nhau và tìm hiểu nhau nghĩ không phải là điều đáng bỏ.
Đại hội
Như trên đã nói, mỗi năm làng vào đám một lần, việc vào đám tuy vậy cũng không tốn kém gì mấy, năm bảy năm, tùy theo sự thịnh vượng của dân xã, làng lại mở đại hội một lần.
Trong việt Nam phong tục, phan Kế Bính phân biệt như sau: Nhập tịch thì đệ niên năm nào cũng có, còn đại hội thì năm mười năm, hoặc năm bảy năm mới mở một lần. Nghĩa là khi nào hỏa cốc phong đăng, dân gian làm ăn thịnh vượng mới dám hội, hoặc là khi nào được sắc phong của thần, hoặc là khánh thành việc làm đình làm miếu cùng là việc gì là việc mừng chung của làng thì mới hội.
Đại hội cũng như vào đám, vào đám thì sơ sài, còn đại hội thì long trọng, và thời gian cũng kéo dài hơn với nhiều trò vui bách hí.
các lễ trong đại hội cũng chỉ là những lễ phải có khi làng vào đám:
+ Lễ mộc dục.
+ Lễ gia quan.
+ Rước.
+ Đại tế.
+ Lễ túc trực.
SỬA SOẠN
Khi làng đại hội, đình miếu được sửa sang lại, chỗ nào hư thì tu bổ, tường thì quét vôi, chỗ nào cũ kỹ thì lau rửa, sơn vẽ lại. các tự khí nếu hư hỏng phải thay hoặc chữa, cờ tán, tàn lọng, nếu rách thì may mới.
Miếu, đền, đình được kết hoa chăng đèn, cả bên trong lẫn bên ngoài. cờ
xí cắm đều sân trước sân sau, và cả ở lối vào các nơi thờ tự.
Trong dịp này, các tư gia cũng phải lo sắm sửa áo quần để dự hội, nhất là những người có trách nhiệm trong đám hội, các chân kiệu, chân cờ đều phải sắm quần áo cho trang trọng để xứng với vinh dự được cử đi rước thần.
LUYỆN TẬP
Ngoài ra, vì việc tế lễ, rước xách trong đại hội có nhiều khách làng lân cận tới xem, các chân cờ chân kiệu cũng như các quan viên dự tế đều phải có luyện tập trước hàng mươi ngày. Ai có nhiệm vụ nào lo luyện tập nhiệm vụ
nấy: tập đánh trống, tạp tế, tập khiêng kiệu, mỗi ban đều có người đứng đầu chịu trách nhiệm, gọi là người cai.
Cai đồng văn lo luyện tập đánh trống.
Cai kiệu lo luyện tập các chân kiệu.
Cai cờ lo luyện tập các chân cờ tướng, cờ quân, cờ nam, cờ nữ.
Trong khi luyện tập, người cai phải có trầu nước cơm rượu khoản đãi các đàn em. những chân cai được coi là vinh dự và được dân làng kén trong những người khá giả.
Tại những làng có tổ chức kéo chữ hoặc các cuộc vui khó khăn như múa hát cũng phải có sự luyện tập trước.
Việc luyện tập nhiều khi rất vất vả và rất phức tạp.
Về đánh trống, cai đồng văn phải luyện tập cho đàn em đủ ba điệu:
* Trống rước, đánh trong khi rước xách.
* Trống đổ hồi, đánh khi đám rước tới cửa đình cửa miếu và khi trống sắp ngừng.
* Trống tế, đánh trong lúc tế tự.
Về kiệu, cai kiệu phải dùng trống lệnh để dẫn kiệu đi theo dịp trống, có dịp ba tiếng, có dịp sáu tiếng. Lúc kiệu đang đi có tiếng trống riêng, và mỗi khi các chân kiệu thay phiên nhau hoặc đổi vai đều theo dịp trống.
cho đến các chân cờ cũng phải luyện tập khi tiến khi thoái, khi sắp hàng vào lễ, sao cho có thứ tự. Điều khiển các chân cờ, cai cờ cũng dùng trống cho nam phái, còn khi từ cai cờ đến chân cờ đều là thanh nữ, người cai cờ sẽ
dùng thanh la.
Mọi việc luyện tập đều phải được tập dượt lại toàn bộ một ngày trước ngày rước. Trong buổi tập dượt này, mọi đồ nghi tượng được đem dùng như
một đám rước thật.
Rước nước
Như trên đã trình bày, rước nước là đi lấy nước ở một cái giếng hoặc một khúc sông nào trong sạch mang về đền để tắm thần vị.
Rước nước thường cử hành một ngày trước khi vào đám với đủ đồ nghi tượng. nước đựng trong bình sạch, đặt lên kiệu rước về đền.
Nước ở hồ ở sông phải chèo thuyền ra giữa hồ giữa sông để lấy nước trong.
PHỤNG NGHÊNH HỒI ĐÌNH
Đây là đám rước để nghênh đón thần vị từ nơi ngài bằng y tới đình để
dân làng cúng tế trong dịp đại hội.
Đám rước cử hành vào sáng hôm sau, cũng như khi làng vào đám, nghĩa là sau lễ mộc dục và lễ gia quan, duy có điều long trọng hơn. Lễ mộc dục và lễ gia quan đã cử hành vào đêm trước, sau lễ rước nước, theo như nghi lễ
thường lệ.
Sáng hôm sau cử hành đám rước nghênh thần, những người có phận sự
đều phải tề tựu tại đền. những người này, nhất là các chân kiệu chân cờ, đều phải trai khiết từ hôm trước và người phải tắm rửa sạch sẽ. những thanh nam thanh nữ được cử vào đám rước hôm nay, ai nấy đều ăn mặc bộ quần áo tốt đẹp mới sắm để dành riêng trong việc rước xách và tế lễ trong những ngày đại hội.
Thanh nam đầu đội khăn, quần trắng, áo dài đen, thường kén đồ tơ lụa, chân đi giày gia định, hoặc có khi đi chân không lúc khiêng kiệu. ngang hông thắt một thắt lưng nhiễu điều hoặc nhiễu xanh mới, tùy phong tục từng xã.
Thanh nữ cũng mặc quần áo mới. Đầu chứt vấn đầu đen lụa hoặc nhung, hoặc sa tanh, mặc áo mặc cặp nghĩa là mặc hai chiếc, chiếc trong chiếc ngoài, màu đen hoặc màu nâu tùy xã. Họ đều mặc váy lụa đen, dưới thời pháp thuộc, nhiều nơi ở gần các đô thị thay váy bằng quần lụa đen, yếm đào với giải yếm mỡ gà. cổ yếm thường cổ xây, cổ sẻ hoặc cổ thìa. Áo thắt vạt, họ
thường dùng áo năm thân. Áo năm thân là thứ áo có chiếc vạt con cũng dài theo chiều dài áo để thắt với vạt cái đằng trước. Áo năm thân khi muốn có thể cài khuy được, khác với áo tứ thân chỉ có thắt vạt được mà không cài khuy được vì hai vạt áo đằng trước đều nhau, mỗi bên một nửa, không có vạt cái và vạt con. chân các cô đi dép cong, thứ dép mũi cong hoát lên. các cô thanh nữ được gọi là các cô phù giá. Ta có câu:
Trai thanh tân chân quỳ vái kiệu
Gái yểu điệu phù giá nữ quan.
Để chỉ các trai gái được làng cắt đi rước, khiêng kiệu và phù giá.
Không kể các thanh nam thanh nữ được mọi người đi xem rước xem tế
đặc biệt chú ý, quần áo phải tinh tươm, ngay các vị bô lão quan viên và chức Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
sắc, ngày hôm nay cũng phải mặc quần áo lịch sự. các quan viên đều mũ tế, áo thụng xanh.
Từ nửa đêm, người thủ hiệu, phụ trách trống cái dóng trống để dân làng biết, ai nấy có việc gì phải sửa soạn sẵn.
Sáng ngày, lúc sắp sửa rước, từ cửa miếu trở ra, mọi người có phần việc đều phải sẵn sàng. Khi người thủ hiệu nổi trống cái thì tài tử đồng văn nổi nhạc, điểm trống, pháo đốt lên, các chân kiệu sắp sẵn để khiêng kiệu, trai cũng như gái.
NGHI TRƯỢNG ĐÁM RƯỚC
Tràng pháo đốt xong, các chân kiệu bắt đầu rước long kiệu từ trong đền hoặc miếu đi ra.
Long kiệu ra tới cửa tam quan phải dừng lại chờ các xã giao hiếu đến đủ, các xã này cũng dự vào đám rước. Lúc đó, mọi người cả xã chủ lẫn cả xã giao hiếu sắp hàng lần lượt rồi đám rước mới khởi hành.