Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 58

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Sau lễ tục cúng có lễ thí thực cho những vong hồn rồi tới lễ phóng sinh tức là đem thả chim, cá, cua, ốc v.v... để chuộc tội cho các vong hồn.

Sau cùng là lễ chạy đàn phá ngục. Trong lễ này có mấy người đạo tràng đóng tuồng Đường Tăng, Đại Thánh, Sa Tăng, Bát Giới chạy chung quanh đàn và có ông thầy phá những cửa ngục, - ngục làm sẵn bằng giấy, - để giải thoát cho chúng sinh thoát khỏi vòng giam hãm tại cõi âm.

Chạy đàn phá ngục xong là lễ tạ, rồi vàng mã được đem hóa ngay tại chỗ.

các vong hồn chúng sinh sẽ chia nhau số vàng mã này, mà tục tin rằng khi xuống cõi âm sẽ biến thành của thực.

Lệ đàn

Lệ Đàn tức là đàn thờ ở một nơi mà trước đây có chiến trận, nhiều tướng sĩ bị trận vong. Lệ đàn của nhà vua lập để thờ các tướng sĩ bỏ mình vì nước, tận trung vì vua giống như đài chiến sĩ ngày nay.

Lệ đàn cũng là một thứ am chúng sinh, nhưng dành riêng cho tử sĩ.

Hằng năm trước đây tại các lệ đàn, nhà vua sức các quan sở tại phải cúng lễ và làm chay cho các vong hồn tử sĩ.

Tục thường cho am chúng sinh và lệ đàn là những nơi rất thiêng liêng, nên người người đều ra công làm phúc trong những dịp lễ bái đàn chay.

Có những trường hợp bãi tha ma vì một lý do gì phải thiên đi nơi khác thì nhà giàu tranh nhau cúng tiểu cúng gạch để hốt cốt và các thiện nam tín nữ

tranh nhau đi rước bách linh để cầu phúc.

Địa ngục qua Đạo Phật

Đã nói tới đạo Phật phải nói tới địa ngục.

Đạo phật chủ trương thuyết luân hồi, và linh hồn con người là bất diệt.

Khi người ta chết, phần hữu hình là thân xác bị hủy hoại, còn phần vô hình là linh hồn sẽ được lên thiên đường, hay phải xuống địa ngục hay sẽ đi đầu thai một kiếp khác, kiếp người hoặc kiếp muôn thú, tùy theo sự ăn ở hiền lành hay độc ác lúc sinh thời đã tạo nên phúc và tội.

Nhưng trước khi lên thiên đường hoặc đi đầu thai kiếp khác, linh hồn

người ta phải qua phong đô.

Phong đô đại đế và Thập diệm Diêm Vương

Phong đô tức là một thế giới rộng lớn bằng thế gian này ở từng dưới trái đất mà ta gọi là âm ty hay âm phủ do một vị hoàng đế có oai quyền cai trị là phong đô đại đế.

Dưới quyền phong đô đại đế có mười vị diêm vương với những quyền hành riêng biệt:

1-

Tân Quảng Vương.

2-

Sở Giang Vương.

3-

Tống Đế Vương.

4-

Ngũ Quảng Vương.

5-

Diêm La Vương.

6-

Biện Thành Vương.

7-

Thái Sơn Vương.

8-

Bình chính Vương.

9-

Đô Thị Vương.

10-

chuyển Luân Vương.

Mỗi vị diêm vương trên có một vị phán quan, nhiều ngục quan và quỷ sứ

giúp việc.

Cân phúc cân tội

Một người vừa chết. Trên trần việc ma chay đang cử hành để chôn cất thể

xác thì linh hồn đã bị quỷ Vô Thường, loại quỷ có trách nhiệm đón linh hồn kẻ chết, dẫn tới trước điện vị Đệ nhất diêm vương là Tần Quảng Vương.

Tại đây có sổ sách ghi đủ về dương thọ, về kiếp hạn luân hồi.

Tần Quảng Vương xét sổ, nếu kẻ thác chưa đến số, linh hồn được trở về

dương thế và sống lại, còn đối với người nào đã đến số, nhà vua sẽ đem sổ

sách xét lại phúc tội. Phúc tội đều đem cân.

Người nào suốt đời chỉ làm lành không làm ác được lên thiên đường.

Người nào phúc nhiều hơn tội lại được đầu thai lên làm người để hưởng vinh hoa phú quý hơn kiếp trước hay làm hạng người thường. Nếu phúc tội bằng nhau thì cũng được đầu thai lên làm người, nhưng phải chịu quan quả cô đơn khổ sở để biết làm nhiều điều thiện hơn kiếp trước.

Kẻ nào tội nặng hơn phúc bị dẫn đi chịu hình cụ tại các cửa ngục rồi mới được đầu thai.

Nghiệt kính đài

Tại điện Tân Quảng Vương có một tấm gương lớn gọi là Nghiệt kính đài.

Người chết soi vào đó, bao nhiêu hành vi của mình lúc sinh thời đều nhất nhất hiện ra. Những nạn nhân của mình, nhất là những kẻ đã bị mình giết, đều hiện ra tấm gương đó để đòi mạng. Phán quan và quỷ sứ chỉ vào gương đó mà ghi phúc tội của mọi người. các linh hồn không thể nào chối cãi được.

Những cửa ngục và hình cụ

Chiếu theo các bản án của điện Tân Quảng Vương, các linh hồn có tội bị

quỷ sứ ma vương dẫn đi chịu hình phạt tại các địa ngục.

Từ điện Sở Giang Vương tới điện Đô Thị Vương, mỗi điện có một cửa ngục lớn và mười sáu cửa ngục nhỏ, cộng tất cả là 8 cửa ngục và 128 cửa ngục nhỏ. Hình cụ tại các ngục không giống nhau, nhưng kẻ chịu hình ở đâu cũng bị đau đớn như nhau.

Tám cửa ngục lớn là:

1- Hoạt đại địa ngục

2- Hắc thăng địa ngục

3- Hợp đại địa ngục

4- Khiếu hoán địa ngục

5- Đại khiếu hoán địa ngục

6- Nhiệt não địa ngục

7- Đại nhiệt não địa ngục

8- A tì địa ngục

128 cửa ngục nhỏ lấy tên theo các hình phạt tội nhân phải chịu. Dưới đây là một vài cửa ngục với các hình phạt:

Ngục phân xi nê: tội nhân phải lội xuống bùn nhơ nhớp;

Ngục hàn băng: tội nhân phải đẩy xuống băng tuyết;

Ngục xuyên cân: tội nhân bị xỏ gân;

Ngục hấp huyết: tội nhân bị uống mất máu;

Ngục bào tâm: tội nhân bị moi tim;

Ngục thác trì: tội nhân phải lội ao nước sôi;

Ngục cát tâm: tội nhân bị cắt tim;

Ngục hàm hỏa bế hầu: tội nhân miệng phải ngậm lửa và bị chẹn cổ; Ngục liệt hùng: tội nhân bị mổ ngực;

Ngục đoạn chi: tội nhân bị cắt chân tay;

Ngục Huyết bồ: tội nhân bị ném trong ao máu bẩn;

Ngục Hoàng phong: tội nhân bị ong vàng đốt;

Ngục Yếu câu: tội nhân bị rết đốt.

Ngục Nha thực tâm can: tội nhân bị quạ moi gan ruột v.v...

Một hình cụ dưới Âm ty: Cho cọp ăn thịt

Tóm lại hình phạt tại các ngục đều ghê gớm như nhau. Lệnh của Diêm Vương truyền ra, bọn quỷ sứ cứ việc thi hành.

Trên những bức tường tại các chùa có tranh vẽ những hình phạt tại các ngục: quỷ sứ rút lưỡi, cưa người, tội nhân bị luộc trong vạc dầu v.v...

Tại điện Tân Quảng Vương không có ngục, nhưng cũng có một nơi gọi là Bổ kinh sở để bắt các sư sãi tụng kinh gian dối bỏ thiếu sót phải vào đó tụng bù.

Tại điện thứ mười của chuyển Luân Vương không có ngục hình nào vì đây là điện coi việc chuyển kiếp đầu thai. Ở điện này có cầu sông Nại Hà, tục gọi là cầu Vòng vì hình cầu cong cong như nửa chiếc vòng, giống như những chiếc cầu vòng mọc trên trời những khi sắp mưa hoặc khi mưa vừa tạnh.

Những kẻ sát nhân, những gái giang hồ, những người bất nhân độc ác khi chết phải leo qua cầu này. cầu vòng trơn như bôi mỡ bắt qua sông Nại Hà.

Những tội nhân thường chỉ leo được đến lưng chừng là ngã lăn xuống sông Nại Hà bị chó ngao, thuồng luồng, rắn giải cắn xé.

Làm lành được hưởng

Tại thập điện Diêm Vương không phải chỉ có những ngục và hình cụ, và không phải tất cả các vị Diêm Vương chỉ chăm lo hành tội người ta đâu. Mỗi vị coi một việc phạt, nhưng mỗi vị cũng lại coi việc thưởng về các việc hay tốt của các linh hồn đã thực hiện trong lúc sinh thời. Nhiều linh hồn ở điện nầy được thưởng về một điều lành nhưng sang một điện khác thì lại bị trừng phạt về một tội ác khác.

Tân Quảng Vương thưởng những người kính trọng chữ viết và quảng bá sách hay.

Sở Giang Vương thưởng những người làm đường, bắt cầu làm phúc.

Ngũ Quảng Vương thưởng người thương kẻ chết vô thừa nhận, cho áo quan hoặc chôn cất giúp.

Diêm La Vương thưởng người phát chẩn cho kẻ nghèo đói...

Biện Thành Vương thưởng người bỏ tiền làm đình chùa.

Thái Sơn Vương thưởng người có hiếu nuôi cha mẹ.

Bình chính Vương thưởng người làm phúc tại các đình chùa.

Đô Thị Vương thưởng người giúp kẻ lỡ độ đường.

chuyển Luân Vương thưởng người giúp kẻ đói khó.

Qua các điều thưởng trên ta thấy người làm thiện bao giờ cũng được thưởng công. Mục đích đạo phật ở đây là khuyến thiện.

Chuyển kiếp sở

Chuyển kiếp sở tức là sở đầu thai thuộc thẩm quyền chuyển Luân Vương.

Sở này rộng 700 do tuần, mỗi do tuần phải đi một ngày mới hết, ngoài bao lưới sắt kiên cố. Trong sở có 81 khu và có tất cả 108.000 đường lối quanh co đưa đi bốn ngả gọi là tứ đại bộ châu. Bên trong chuyển kiếp sở thì tối đen, bên ngoài trong sáng.

Các linh hồn tới chuyển kiếp sở rồi được phân phát đi đầu thai. Kẻ phạm tội ác phải đầu thai làm súc

vật và chịu luôn ba kiếp mới

được chuyển sang kiếp

khác.

Mỗi khi ta giết gà, vịt, dê,

heo vẫn nói: hóa kiếp, kiếp

khác, là có ý cầu phúc cho

con vật được đổi kiếp để

mau lên làm người.

Trước khi đầu thai làm

người, các linh hồn đều

phải qua khu vọng đài tức

là đài quên, và ở đây các

hồn được uống nước mê

thang tức là cháo lú để

quên hết kiếp trước.

Tùy theo thiện ác, kẻ đi

đầu thai làm người sang, kẻ

làm người hèn, kẻ xấu,

người đẹp, đàn ông đàn bà,

v.v...

1- công

hầu khanh

tướng;

2- Quan quả cô độc;

3- Muông thú;

4- chim chóc;

5- cá tôm;

6- Sâu bọ.

Có những phụ nữ sợ mình yếu ớt đối với tội lỗi, không muốn đi đầu thai, xin ở lại cõi âm, chuyển Luân Vương cũng cho phép họ ở lại để trả thù những kẻ kiếp trước đã lừa gạt hoặc tình phụ họ.

Uổng Tử thành

Đây là một tòa lâu đài ở bên phải Thập điện Diêm triều. Ở đây không có ngục và không có hình phạt nào. Đây là nơi những oan hồn những người bị

giết oan uổng được dẫn tới để chờ ngày kẻ giết họ chết đi và linh hồn sẽ

chịu hình phạt trước mặt họ.

Những kẻ giết người sẽ phải chịu đủ thứ cực hình ở Uổng tử thành cho tới khi nào hồn kẻ đã bị họ giết được Thượng Đế cho đi đầu thai mới thôi, nghĩa là mới không còn phải chịu hình phạt ở Uổng tử thành nữa, và lúc đó hồn kẻ sát nhân sẽ phải đưa tới điện Tân Quảng Vương để xét tội trạng và chiếu theo tội ác lần lượt phải chịu trừng phạt tại các cửa ngục như những âm hồn khác.

Những người chết vì hiếu, vì trung, vì nghĩa, vì nước, vì nhà, vì đạo đều được hiển thánh ngay.

Ngài được xứng tụng là U Minh Giáo chủ Địa Tạng Vương bồ tát.

Lẽ ra Ngài đã thành phật và nhập Niết Bàn rồi nhưng sẵn lòng thương xót sinh linh, ngài thề không chịu làm phật nếu địa ngục chưa hết tội nhân.

Địa Tạng Vương bồ tát đi thăm hết các ngục tại phong đô, khuyến dụ các âm hồn, mong họ trở nên người thiện, một khi ra khỏi địa ngục.

Đi theo với Địa Tạng Vương bồ tát có Mục Liên Tôn giả, một nhà tu đạo pháp nhiệm màu và cũng thương tội nhân như bồ tát[20].

Cõi âm mênh mông với sông Nại Hà, với các ngục lớn, ngục nhỏ là nơi thưởng phạt người lành kẻ ác.

Theo các nhà phật thì Địa ngục và Thiên đường đều do mình tự tạo ra và đều ở trong lòng mình hết.

Làm lành thì trong lòng thỏa mãn, làm ác thì trong bụng ăn năn.

Địa ngục hay thiên đường đã đến với mình ngay từ lúc sinh thời.

Vậy mình muốn lên thiên đường hay xuống địa ngục mình hãy tự vấn lương tâm mình.

Lễ Vu Lan

[20] Xin xem Lễ Vu Lan và lễ phá ngục.

Lễ Vu Lan là một lễ của nhà phật nhằm vào ngày 15 tháng 7 âm lịch.

Vu Lan chính là cái chậu dùng để chứa đựng những hoa quả phẩm vật dâng cúng - Bởi vậy, muốn gọi đúng phải gọi là lễ Vu Lan bồn.

Lễ Vu Lan bồn tức là lễ dâng các phẩm vật đựng trong chiếc vu lan để

cúng các chư tăng với mục đích cầu xin cho vong hồn người thân của mình được thoát khỏi nơi địa ngục.

Sự tích lễ Vu Lan có từ khi đức Phật còn tạ thế.

Trong bọn đệ tử vẫn tháp tùng của đức Phật có ngài Mục Liên là một vị

tôn giả đã tu được nhiều thần thông. Một bữa ngài Mục Liên dùng thiên lý nhỡn thấy thân mẫu ngài ở dưới địa ngục phải đọa làm quỷ đói khổ sở.

Ngài liền dùng phép mầu mang cơm xuống địa ngục cho mẹ, nhưng ác thay, mỗi khi tay bà mẹ, bà Thanh Đề, chìa ra để nhận cơm thì cơm biến thành khối lửa không sao ăn nổi được. Không làm sao cho mẹ ăn được ngài Mục Liên quay về kêu van đức Phật, Phật dạy rằng ngày rằm tháng bảy, nhân lúc chư tăng mãn hạ, nên sắm sửa hoa thơm quả ngọt để vào chiếc chậu Vu Lan lang đến cúng dâng chư tăng, ăn mày uy đức của chư tăng để chuyển nghiệp tham sân si nơi vong nhân, mới mong cứu thoát được vong nhân khỏi địa ngục. Ngài Mục Liên tuân theo lời Phật dạy quả nhiên cứu mẹ khỏi âm cung.

Từ đó về sau các Phật giáo đồ căn cứ vào lời Phật dạy cứ hành lễ Vu Lan cầu Phá địa ngục.

Qua sự tích trên ta thấy rằng việc phá ngục không phải do một quyền lực nào mà chỉ nhờ vào uy đức của chư tăng chuyển nghiệp tham si nơi vong nhân mà vong nhân thoát khỏi nơi địa ngục. Chính đức Phật cũng đã nói rằng: Thần không bất năng định nghiệp, nghĩa là phép thần thông không thể

định nghiệp cho ai được.

Phật có thể dạy cho biết cách thoát khỏi địa ngục, nhưng muốn thoát được cần phải theo đúng lời Phật dạy, nghĩa là chính vong nhân phải tự

chuyển nghiệp lấy cho mình để tìm thấy con đường thoát khỏi địa ngục.

Như ở trên đã nói địa ngục hay thiên đường đều do mình tự tạo ra và đều ở trong lòng hết. Mình là thủ phạm gây ra tội ác, phải chính mình có chuyển nghiệp mới cứu nổi mình. chuyển nghiệp để phá tan gốc rễ của tội ác, do đó mà vong nhân thoát khỏi được nơi địa ngục.

Như vậy phá địa ngục không phải dùng một sức mạnh nào ở ngoài phá Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

vào mà phải phá tự trong phá ra tức là làm thế nào cho tội nhân chuyển được thức tâm thành thánh chí.

Công đức lớn lao khó khăn ấy, chuyển thức tâm thành thánh chí của tội nhân, phật đã trông cậy vào chư tăng vì:

-

Phật đã đưa ra những điều cần thi hành, mà những điều này phải nhờ

sự gia hộ của chư tăng mới chuyển nổi nghiệp thức nơi chúng sinh.

-

Phật muốn khi nào phật không còn tại thế nữa, pháp môn Vu Lan vẫn có thể thi hành được, mà chỉ cần có hai ngôi Tăng và Pháp là đủ.

Thứ vị quan trọng nhất trong nghi thức Vu Lan, chính là chư tăng, nhưng cũng cần phải có thời cơ thuận tiện để chư tăng thi hành công quả của mình: đó là lúc chư tăng họp nhau trong khóa hạ, và khóa hạ vừa mãn, nghĩa là vào ngày Tự Tứ, lúc chư tăng ai nấy hoan hỉ để bố thí công đức. Do đó ngày rằm tháng bảy là ngày thuận tiện để cử hành lễ Vu Lan.

Ngoài ra, lễ Vu Lan đòi hỏi một hằng tâm ở tín chủ, nhiều ít lễ vật để dâng cúng chư tăng - xin nhấn mạnh đây là cúng chư tăng, chứ không phải dâng cúng phật, vì ở đây không phải đức phật nhận trách nhiệm.

Tín chủ dâng lễ cho các thầy, các thầy đem dâng phật trước khi họ thọ thí đó là việc của các thầy, còn tín chủ chỉ tuân theo giáo pháp của đức phật cúng dâng chư tăng để chư tăng hoan hỉ chuyển pháp luân siêu thăng cho các vong hồn đang bị giam nơi địa ngục.

Ở đây, việc cúng dâng chư tăng không giống như việc dâng lễ để nhờ

việc, nghĩa là nói nôm na, là không phải để trả công chư tăng.

Việc cúng dân chư tăng là một pháp môn rất mầu nhiệm, càng thành kính bao nhiêu, kết quả càng tốt đẹp bấy nhiêu. Của mình đem dâng cho người, phải kính cẩn cầu xin để người nhận cho, có vậy mới là lòng thành của tín chủ. Cử chỉ này là một việc làm giảm bớt tham lam sân si, một hành động đánh tan sự kiêu ngạo của tín đồ, và đó chính là một pháp môn để tiêu tội và tăng đức hạnh.

Về phía chư tăng đây là cả một sự khó khăn, vì nhận của cúng dâng tức là nhận tội tha cho tín chủ, và muốn như vậy, phải có công đức tu hành.

Nếu cúng dâng gặp phải sãi chùa thiếu công đức tu hành, việc cúng dâng sẽ không ích lợi gì mà sãi chùa thêm mang tội.

Chính vì e sự cúng dâng gặp phải sãi chùa thiếu công đức cho nên lễ Vu Lan phải đợi ngày Tự Tứ, ngày các chư tăng hội họp đủ mặt, có kẻ dở cũng

có người hay, người hay sẽ lấy công đức tu hành của mình át kẻ dở, và đem lại kết quả trong việc cúng dâng, nghĩa là chuyển được nghiệp cho các vong nhân.

Hơn nữa trong chư tăng, theo giáo lý nhà phật, gồm cả phàm tăng, hiền tăng và thánh tăng. Thánh tăng là các vị bồ tát, đệ tử của đức phật, nguyện ở lại trong đời độ hóa chúng sinh.

Hiền tăng là các vị đã tư qua nhiều kiếp và đã luôn luôn trau dồi đức hạnh qua các kiếp.

Phàm tăng là các vị sư thụ giới tỳ kheo để trau dồi đức hạnh, tu theo đúng lời phật dạy.

Vả chăng Tăng Bảo là một ngôi oai đức lớn nên chư tăng trong lễ Vu Lan đủ sức để chuyển nghiệp cho vong nhân tội lỗi, và như vậy khế hợp với đại nguyện của chư phật.

Về phía tín chủ, thành tín dâng hương là khế hợp với sở cầu của chúng sinh.

Tất cả các nghi thức thi hành đúng phép làm chấn động cõi u minh, rọi ánh sáng trí tuệ vào thức tâm tăm tối của bọn tội nhân, khiến cho họ tỉnh giấc mộng dị sinh[21], và tỉnh giấc mộng này, tự họ đã cứu được họ.

Mỗi chúng sinh nơi U minh phải riêng đón ánh tuệ quang chứ không ai giúp họ được, kể cả đức Phật. Chúng sinh đón được nhiều hay ít hay không đón được không phải do một sự chọn lọc nào mà chính do nguyên lực của thân nhân họ có đi sâu được tới họ, có cảm được đến họ hay không, do đức của chư tăng có đầy đủ hay không và do nghiệp báo dày mỏng của chính tội nhân. Tâm chúng sinh có động, nghiệp mới chuyển và họ mới được giải thoát.

Qua các điểm trình bày trên, ta thấy rằng:

-

Về phía tín chủ, đức tin rất cần thiết để cầu xin cho ông bà, cha mẹ

được siêu thăng nhờ pháp môn Vu Lan: tín chủ phải tin ở phép Phật, tin ở

nhân quả thiện ác, tin ở giáo lý nhà Phật.

Đức tin đã khiến tất cả tâm hồn được chuyển thành một nguồn thương không phân biệt thân sơ, một suối hỷ xả không bờ bến, điều kiện.

Phẩm vật trong chậu Vu Lan, chỉ tượng trưng cho đức tin.

Về phần chư Phật, không đức Phật nào thủ vai trò mở cửa ngục hay ra

[21] Dị hình, dị loại mà sinh ra nên gọi là chúng sinh.

lệnh cho kẻ khác mở cửa ngục. Vả lại nói Phật không phải chỉ là một vị Phật nào, mà là Phật của cả mười phương, của cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

Có chúng sinh nên mới có Phật. Phật nguyện cứu độ hết chúng sinh để

chúng sinh cũng thành Phật, và lúc đó giữa Phật và chúng sinh không còn gì là phân biệt nữa. Do đó, danh từ Phật chỉ là giả danh và Phật pháp cũng chỉ

là giả lập để tận độ chúng sinh, theo đúng ý nguyện của mười phương chư

Phật.

Đối với chúng sinh nào Phật cũng nguyện độ cho hết tội lỗi, mọi chúng sinh đều có thể đón nhận Phật pháp, và sự đón nhận sẽ được thành tựu khi nào mỗi chúng sinh đều rõ rằng mình với Phật cùng một thể, mê là chúng sinh tỉnh là Phật.

Ngoài ra mỗi chúng sinh còn phải nhận thấy rằng mình với mọi chúng sinh khác cũng đồng một thể. Khi một chúng sinh cần Phật thì phải nghĩ rằng mình hành động vì toàn thể chúng sinh khác và phải cảm thấy rằng việc cầu khẩn của mình là việc cầu khẩn của tất cả chúng sinh mười phương.

Như vậy, một chúng sinh không phải chỉ có cái sức mạnh của riêng mình, mà đã có cái sức mạnh của cả chúng sinh mười phương, vì lẽ rằng đây không phải riêng bản ngã cá nhân mà đây là bản thể giáp giới. Nhờ vậy cái nguyện lực đồng thể vi ngưỡng sẽ vô biên như pháp giới.

Đồng thể vi ngưỡng nơi chúng sinh, đồng nguyện thùy từ nơi chư Phật nên từ bi đã thành một phương tiện viên mãn nó hàm cả đại giác, đại hùng, đại lực và nó thành tựu tất cả mọi món công đức.

Lẽ tất nhiên trước cái diệu lực từ bi ấy, thức tâm của tù nhân thức dậy khiến ngục thành không còn nữa, và tù nhân đã tự giải thoát.

Lễ Vu Lan cử hành vào rằm tháng bảy hằng năm, các chúng sinh muốn được giải thoát phải có sự chuyển nghiệp và phải chính chúng sinh tỉnh ngộ

nhờ nghi thức lễ Vu Lan.

Lễ Vu Lan tại nước ta ngoài ý nghĩa dùng từ bi làm một phương tiện phá ngục, còn là Tết Trung Nguyên.

Theo phan Kế Bính thì “Ta thường cho hôm ấy là ngày vong nhân xá tội, nghĩa là dưới âm phủ được tha tội một ngày hôm ấy. Bởi vậy nhiều nhà mua vàng mã cúng gia tiên, các nhà có người mới mất, cũng hay đốt mã làm chay về hôm ấy”.

Sở dĩ như vậy vì ta nghĩ rằng trong ngày hôm ấy, vong hồn các tổ tiên ta

được tha tội, có thể trở về cõi trần hưởng lễ của con cháu cúng kiến.

Về sự tích ngày lễ Vu Lan, có sách chép khác với sự tích kể trên. Thực ra, cũng vẫn là chuyện ngài Mục Liên cứu mẹ, nhưng ở đây câu chuyện không nói đến việc cúng dâng chư tăng và sự chuyển nghiệp của vong nhân. Để

đọc giả tiện việc tham cứu, xin ghi lại sau đây sự tích này: Ngày xưa có ông La Bộc, con ông phó Tưởng là người rất thông minh và hiếu thảo với cha mẹ. Ông mồ côi cha từ lúc nhỏ, sống với mẹ, mẹ rất tham lam gian ác. Ông luôn luôn ở bên mẹ để phụng dưỡng, nhưng về sau vì nghèo khó quá, ông phải từ giã mẹ tới tỉnh Kiên Liên kiếm ăn. Ở đây ông đã làm ăn phát đạt và trở nên giàu có. Ông thu xếp gởi về cho mẹ một món tiền lớn, rồi sau đó ông cũng về thăm mẹ.

Nhận được tiền của con, bà Thanh Đề đem tiêu xài hết, rồi vào chùa niệm Phật ăn chay và định bụng rằng nếu con về sẽ nói dối đã cúng vào các chùa chiền đình miếu hết.

Khi La Bộc về tới nhà được biết việc hoang phí tiêu hết cả tiền đã gởi về, ông đã ngã quỵ xuống đất máu ra lai láng vì tiếc của.

Bà Thanh Đề lo sợ vội vàng cứu chữa, và sau đó bảy ngày, bà Thanh Đề bị

chết.

La Bộc thương xót mẹ lắm, chôn mẹ xong, làm nhà ở ngay bên mồ mẹ ba năm mới thôi, các loài chim thấy ông có hiếu đến đậu chung quanh và mỗi con lại tha ít đất để đắp lên ngôi mộ mẹ ông.

Mãn tang ba năm, ông La Bộc sang nước Kỳ Đồ tìm tới Phật xin phép được ở lại tu luyện.

Phật ưng thuận sai thầy Kha Na cắt tóc ông, đặt tên là Đại Mục Kiện Liên, cho vào tu ở chùa Lã Bí trong rừng Quít Sơn. Ngày nay, người ta gọi tắt tên ngài là Mục Liên.

Một ngày kia, vâng lệnh đức Phật, ngài Mục Liên đến chùa Thiên Giai là nơi có âm hồn ở. Ngài trông thấy cha là Phổ Tường mà không thấy mẹ.

Ngài buồn bã nhớ thương mẹ khóc lóc. Đức Phật hiện tới bảo mẹ ngài tuy trước có mộ đạo, nhưng vì tham lam và điêu ngoa nên phải đày xuống địa ngục.

Mục Liên xin phép đức Phật được xuống địa ngục tìm mẹ.

Đi khắp địa ngục, ngài cũng không gặp mẹ, sau hỏi thăm quỷ sứ mới được biết mẹ bị giam ở ngục A Tỳ. Gặp ông bà mẹ mừng lắm khóc lóc than thở kể

hết mọi điều khổ sở với con và nhờ con cứu ra khỏi địa ngục.

Vâng lời, ngài Mục Liên đưa mẹ ra khỏi ngục, nhưng quỷ sứ ngăn lại nói rằng phải có lệnh của đức Phật. Ngài Mục Liên lại quay về dương thế kêu van đức Phật.

Thấy Mục Liên là người hiếu hạnh đức Phật chấp thuận và bảo: Nhà ngươi cứ yên lòng trở lại địa ngục. Ta sẽ hóa phép cho mẹ ngươi thành con chó để nhà ngươi được gặp.

Vâng lời, Mục Liên lại xuống địa ngục. Vừa tới nơi đã thấy con chó cái quanh quẩn bên mình. Ông hiểu đó là mẹ liền hóa phép cho trở lại thành người. Ông đem lời hiếu hạnh ngọt ngào khuyên răn mẹ phải thật thà và phải dốc lòng theo chân lý đạo Phật.

Từ đó hai mẹ con tu hành ăn chay niệm phật rồi tự nhiên đêm rằm tháng bảy, bà mẹ hóa tiên lên trời. Mục Liên thấy vậy vội vàng theo mẹ và cầu xin đức Phật xá tội cho cả bảy đời họ hàng của ông nữa.

Dựa theo sự tích này, đến rằm tháng bảy, các chùa chiền miếu vũ có làm chay, chạy đàn, phá ngục cho các tội nhân.

Do đó Tết Trung Nguyên còn được gọi là ngày xá tội vong nhân.

Lễ Siêu thăng

Nhân nói tới lễ Vu Lan, trong đó việc chuyển nghiệp phải nhờ uy đức của chư tăng và sự tỉnh ngộ của chính vong nhân, không thể không nói tới việc cầu siêu cho những vong hồn người quá cố, tức là lễ siêu thăng cầu xin Phật độ cho các vong hồn này thoát khỏi nơi địa ngục.

Theo kinh điển nhà phật thì thành tựu Bồ đề có thể chia làm ba bực:

- Thượng căn thì tức thời thủ chứng, nghĩa là thành Phật ngay.

-

Trung căn, sau khi chết rồi mới được siêu thăng.

-

Hạ căn, phải đi vào giai đoạn trung ấm mới thành tựu, nghĩa là phải cần đến sự tụng kinh siêu độ và phải cần tới những việc công đức của con cháu vì họ mà thực hiện. cho nên, nếu thân thuộc người quá cố biết làm việc công đức sự siêu thăng ắt có, nhưng phải lấy tụng kinh niệm Phật làm cốt yếu. Vong nhân sau khi chết phải trải qua những cảnh tượng hãi hùng, đã tự

nghĩ đến việc tự cứu mình, bởi thế cho nên nếu có người chỉ bảo niệm Phật cầu siêu, họ sẽ chịu phép Phật vâng lĩnh, nghe kinh và tự tạo nên hiệu lực vô thường.

Trong việc cầu siêu cần phải lưu ý ba điều: trai giới, thành khẩn và tuyển trạch.

Trai giới

Cả nhà ai nấy đều phải nhất luật giữ gìn trai giới, dù có khách khứa cũng không được thết đãi rượu thịt. Đồng thời phải dè dặt giữ gìn đối với tất cả

mọi thứ ô uế khác.

Thành khẩn

Đối với người chết phải thành kính nghĩ nhớ để cầu tự cảm ứng, không phải chỉ ở bề ngoài mà phải tự thâm tâm. Việc cúng lễ phải tự lo liệu không thể giao cho người khác làm thay được.

Trường Khanh đời Tống cho chép lại chuyện sau đây:

Ở Thông châu có ông Tư Mã Dưỡng Khiêm đã vì vong phu nhân làm rất nhiều Phật sự. Vài năm sau, một hôm người tiểu thiếp của ông bỗng chết đi một đêm rồi tỉnh lại, thuật cho Tư Mã Dương Khiêm hay là phu nhân ở nơi âm cung bị giam trong ngục tối và rất khổ sở, nhắn lời về xin ông vì phu nhân làm việc công đức. Người tiểu thiếp cũng đã nói cho vong hồn phu nhân hay là ông Tư Mã vẫn thường làm nhiều Phật sự, không lẽ đó lại là những điều vô ích sao. Phu nhân đã cho biết, trong khi làm những Phật sự

đó, trong nhà đã thiếu sự trai giới và lòng thành khẩn. Hơn nữa không chọn các nhà sư có công đức tu hành. Phu nhân có nhắc lại việc trong khi sa môn tụng kinh ở nhà trên thì ông Tư Mã đánh cờ ở dưới, nên phật sự ông làm đã không có hiệu quả gì. Ông Tư Mã nghe nói rất là thương vợ, và sau đó chọn các danh tăng có giới đức, sửa sang chỉnh đốn trai giới, làm đạo tràng luôn ba ngày đem cầu siêu cho vợ, với tất cả lòng thành khẩn.

Tuyến trạch

Phải cầu những vị chân tu đạo hạnh, những người tu hành phóng đãng, phá giới chỉ biết đến lợi không nên cầu thỉnh, vì những người này chưa đủ

công đức tu hành, phật sự thực hiện sẽ không ích lợi gì.

Nếu mời lầm phải các sãi chùa còn thiếu sót đối với luật tịnh hạnh, vong hồn người khuất sẽ biết rõ và có thể cho đó là một sự lường gạt họ, họ sinh ra tức giận thêm tội lỗi để bị đày sâu ở địa ngục. Cho nên bao giờ trước khi làm lễ, cũng cần khai thị bằng mấy lời nói cho vong hồn người khuất rõ sự

lòng thành của mình, và nếu trong phật sự có sự lầm lẫn là do cá nhân của nhà sư. Thường các Thiện trí thức khai thị bằng những lời sau đây: Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

Vãng vong phải hiểu rằng thân của vị tăng già đây (có thể đọc lên pháp danh của nhà sư), tức là thân của Phật, mà phải khởi ý tưởng rằng chỉ nương theo Pháp chứ không nương theo người, mặc dầu người tác pháp đó có lầm lẫn thế nào, đều do cái lỗi ý thức ta chưa được trong sạch đó thôi. Cũng như