Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 51

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Trong đám rước có nhiều xã tham dự, xã đàn anh đi đầu.

Xã nào thờ vị thần lớn

hơn, hoặc dân xã đông hơn

nếu cùng thờ một vị thần là

xã đàn anh. các xã giao

hiếu, có nơi cũng cử sẵn

một số chân kiệu để thay

vai cho các chân kiệu xã

chủ.

Sau xã đàn anh, lần lượt

tới xã khác, xã nào kiệu nấy.

nghi trượng trong đám

rước, đại để các xã đều

giống nhau. Trước hết là hai

lá cờ tiết, mao.

Kế đến năm lá cờ đuôi

nheo gọi là cờ ngũ hành.

cũng có khi là những lá cờ

vuông. cờ may bằng vóc

hoặc dạ, mỗi cờ một màu:

xanh, đỏ, vàng, trắng, đen.

có xã chỉ dùng bốn lá cờ,

gọi là cờ tứ phương và có

bốn màu: xanh, đỏ, trắng và

đen.

Sau đó là bốn lá cờ tứ linh thêu mỗi lá một linh vật là Long, Ly, Quy, phượng.

Có khi thay vì bốn lá cờ tứ linh là tám lá cờ bát quái mỗi lá cờ thêu một chữ trong tám quẻ: Kiền, Khảm, cấn, chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. có khi trên lá cờ không thêu chữ mà thêu hẳn một quẻ trong bát quái.

Những chân cờ đều đội nón dấu, thứ nón của quân lính ngày xưa, họ thắt lưng ngang người như trên đã nói, gọi là thắt lưng bó que. cũng có xã, những người này mặc áo nậu áo nẹp, thứ áo dùng riêng để đi rước. Mỗi người đều đeo một chiếc cối con ở trước ngực để đỡ đốc cờ cho nhẹ.

Loạt cờ xong thì đến trống cái do hai người khiêng. Trống cái do thủ hiệu Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

đánh bằng một chiếc dùi trống sơn son thiếp vàng. Một người vác lọng đi che cho trống và thủ hiệu.

Trống rồi đến chiêng. cũng hai người khiêng, một người che lọng và một người đánh chiêng, mỗi tiếng trống lại điểm một tiếng chiêng.

Sau trống chiêng đến ngựa hồng, ngựa bạch hoặc đôi voi tùy theo từng xã. Voi ngựa có tàn hoặc lọng che, và có một người vác binh khí, thường là siêu đao đi kèm.

Voi ngựa đi qua đến hai người vác hai chiếc tán đi hai bên, hoặc có khi đi vào giữa thì hai người đi cách khoảng nhau một chút. Tán cũng giống như

chiếc tàn có thêu ngũ sắc long phượng, nhưng tán thành dài xuống, còn tàn thì thành nông. Tàn và tán bằng vải không xòe lên cụp xuống được; lọng xòe lên cúp xuống được có khi bằng vải sơn hoặc giấy sơn.

Hai chiếc tán đi rồi đến các chấp kích viên vác đồ lỗ bộ và bát bửu. các chấp kích viên đi chia hai bên, còn ở giữa là một viên quan viên mặc áo thụng xanh có lọng che, mang một chiếc biển bầu dục đề mấy chữ Thượng đẳng tối linh hoặc Lịch triều phong tặng.

Hết đoàn chấp kích là phường đồng văn.

Vài người cai đồng văn cầm trống khẩu, một người cầm thanh la, hai người cầm sinh tiền, bảy hoặc tám người đánh trống bản, một loại trống mặt rộng, thân ngắn, đeo trống ngang ở thắt lưng, trống bản đánh bằng hai dùi trống nhỏ. có xã trong đám rước lại có thêm hai đứa con trai, ăn mặc giả gái, mỗi đứa đeo một cái trống cơm trông hao hao như quả bồng, gọi là con đĩ

đánh bồng.

Đám đồng văn này, hễ trống khẩu, thanh la, sinh tiền khởi lên thì trống bản họa lại. Hai con đĩ đánh bồng thì vừa đập trống vừa múa nhịp nhàng có điệu có khúc. cũng có nơi, trong đám rước dùng điệu trống hành quân gọi là điệu trống cà rồng, một người đánh trống cái, năm bảy người đánh trống nhỏ họa lại.

Sau lớp đồng văn, đến cờ vía do một người mặc áo thụng xanh vác. cờ

bằng vóc thêu chữ lệnh. cờ này đi có lọng vàng che. Đây là cờ tướng lệnh của thần linh tôn quý lắm.

Tiếp theo cờ vía là gươm dàn mặt cũng gọi là kiếm lệnh. Ba người đội nón dấu, thắt lưng bó que cầm mỗi người một thanh gươm cùng đi ngay hàng hoặc người nọ đi sau người kia.

Kế đến phường bát âm với đàn sáo, nhị, kèn, cảnh... gồm tám nhạc cụ phát ra tám thanh âm cấu tạo nên bởi tám vật liệu khác nhau theo âm nhạc cổ

điển: bào, thổ, cách, mộc, thạch, kim, ti, trúc.

Bào: trái bí thuộc loại bầu leo.

Thổ: đất sét nung chín.

cách: da thuộc căng thẳng.

Mộc: gỗ.

Thạch: đá.

Kim: loại kim khí.

Ti: loại tơ kén.

Trúc: một loại tre.

các nhạc khí dùng để diễn tả thanh âm thường là: não bài, bát, sinh tiến, kèn, trống nhỏ, nhị và sáo hoặc tiêu. các nhạc khí được thay đổi cốt sao cho hợp với thanh âm.

Một bản nhạc họa nên bởi tám nhạc khí do các vật liệu trên chế tạo ra, gọi là bát âm nhã nhạc.

phường bát âm thường cử mấy điệu lưu thủy, ngũ đối trong lúc đi rước.

Sau phường bát âm là long đình. Long đình là kiệu có mái.

Trên long đình có bày đồ hương án ngũ quả. có đỉnh trầm hoặc bình hương nhỏ.

Long đình có bốn chân kiệu khiêng, và lại có sẵn bốn chân kiệu khác đi kèm đề phòng thay thế. Trước mặt long đình có hai người cầm trống khẩu hoặc cầm cảnh đi giống hiệu. cai và các chân kiệu thường đeo một tràng hoa, hoa bưởi hoặc nạnh hương để hương thơm xông lên.

Chung quanh long đình có tàn quạt, có lọng che rất tôn nghiêm.

Một đám rước, có thể có ba bốn long đình, mỗi xã một long đình.

cứ mỗi đoạn có long đình lại có một đoạn nghi trượng như trên.

Sau long đình cuối cùng, lại có các nghi trượng rồi đến long kiệu. Long kiệu không có mái như long đình, nhưng có tàn che. Long kiệu do tám chân kiệu khiêng và tám chân kiệu khác đi kèm để phòng sự thay đổi.

Trong năm bảy xã rước chung, chỉ xã đàn anh mới được cử chân kiệu để

khiêng long kiệu.

Xã nào thờ nhiều thần, mỗi vị thần đều có long kiệu riêng như xã nhật Tân gần Hà nội, mỗi lần rước tới bảy kiệu.

Trên long kiệu có đặt thần vị hoặc mũ mãng tôn thần. ngoài ra cũng có thanh bông vàng nến, và lẽ tất nhiên phải có đỉnh trầm hoặc bình hương.

Kiệu rước Thánh ông do các thanh nam làm chân kiệu, kiệu rước Thánh bà do các thanh nữ đảm trách.

nhiều xã, khi đi rước các chân kiệu, đầu thì đội mũ, mình đóng khố, mỗi người quàng một mảnh nhiễu điều hoặc vải đỏ ngang vai che kín cả mình, cạnh khố đeo một chiếc quạt, một cái túi đựng trầu thuốc gọi là khố áo khăn vắt. Đây là những trường hợp đặc biệt của các xã thờ các vị thần xưa kia đi đánh giặc lội qua sông.

các bô lão, các viên chức trong làng theo sau kiệu mặc áo thụng đi hộ giá.

Ai có phẩm hàm mặc áo có bố tử, che lọng xanh có người nhà đi theo hầu.

ĐÁM RƯỚC ĐI ĐƯỜNG

Đám rước đi trong trật tự, người đi xem rước đứng hai bên đường hoặc cũng đi hai bên.

Long đình và kiệu có khi bay. Đó là do các chân kiệu bị tự kỷ ám thị cùng nhau đi mau, đi mau hơn mãi, hình như bị thúc dục, hoặc có khi vì người ngoài đi xem đông quá xô đẩy, các chân kiệu không kiềm giữ được nên bước trở mau. Tục tin là Thánh giáng cho nên kiệu bay. Trong lúc này mọi người khấn vái.

Kiệu rước qua núi, khi lên khi xuống phải bò. Lúc bò, các chân kiệu xúm nhau đỡ lấy, lên xuống rất êm, dẫu lấy bát nước để trên kiệu cũng không đổ.

Rước đi đường xa phải có chỗ trí kiệu tức là nơi kiệu ngừng. người đi rước nghỉ ngơi ăn uống, và các chân kiệu cũng nhân dịp này thay phiên nhau.

Cũng có đám rước, ngoài các nghi trượng trên có thêm phường tuồng đóng tuồng đi đường. Và cũng có đám rước thì rước theo thần tích như hội làng phù Đổng kỷ niệm đức phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân, hội Trường An, diễn lại sự tích vua Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận.

Rước về đến đình thì có tế lễ. Lúc lễ, theo thứ tự chức tước mọi người vào lễ, sau cùng mới tới dân chúng.

Về các nghi thức tế lễ, ở trên đã có nói, ở đây tưởng không cần phải nhắc lại nữa.

ngoài việc tế lễ, các xã còn tổ chức nhiều trò vui bách hí tùy theo địa phương trong dịp đình đám.

RÃ ĐÁM

Hội hè chừng khoảng 20 ngày hoặc một tháng là nhiều, đại hội phải bế

mạc. Tục gọi là rã đám.

Trước khi rã đám, dân làng tổ chức thêm một tuần đại lễ.

Buổi rã đám, thần vị lại được rước hoàn cung, nghĩa là rước trở về đền hoặc miếu, nơi thần linh thường bằng y an ngự.

có khi rước vào buổi chiều. có khi rước vào buổi tối. Rước vào buổi tối có đèn đuốc rất vui. nghi trượng rước cũng theo như hôm rước thần vị từ miếu tới đình.

Tại nhiều xã, trong ngày rã đám có những cuộc vui đặc biệt và rất được hoan nghênh, và những cuộc vui này bao giờ cũng chỉ dành vào đêm hoặc ngày rã đám.

Việc vào đám hàng năm của hàng dân chứng tỏ sự hòa bình thịnh vượng của đất nước nói chung và của thôn xã vào đám nói riêng.

Lòng ta mở hội vui mừng,

Chuông kêu, trống dóng vang lừng đôi bên.

Long ngai thành ngự ở trên,

Tả văn, hữu vũ bốn bên rồng chầu.

Sinh ra nam tử công hầu,

Sinh ra con gái vào chầu thánh quân.

Câu ca dao trên đã nói lên nỗi hân hoan của dân chúng khi làng mở hội, và cũng nói lên lòng tôn kính của người làng đối với thần linh. Với sự thịnh đạt của dân xã, người ta ước ao trong làng rồi đây sẽ sinh được công hầu hoặc hậu phi.

NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ KHI LÀNG VÀO ĐÁM

Làng vào đám tức là có việc vui mừng của cả làng. Đây là thời gian kỷ

niệm thần nhân. Dân làng trong lúc này, ai nấy đều phải cố giữ để việc vui mừng cả làng được trọn vẹn và để đức thần linh được hài lòng.

Chính vì đây là một dịp vui, nên những người đang đau buồn tang tóc không được dự đám chia vui với dân làng. cả những người tàn tật cũng vậy.

Trong thời gian làng vào đám, phải tránh tiếng khóc đau đớn, do đó nếu gia đình nào rủi có người nào qua đời, việc tang ma tùng tiệm kín đáo, người nhà không được khóc lóc và đám ma không được kèn trống.

Nếu con cháu muốn làm ma lớn cho người chết, phải quàng xác một nơi, chờ sau ngày ra đám mới được cử hành tang lễ.

Theo tin tưởng của dân gian, các vị thần thường kén người phối ngẫu hoặc bộ hạ trong những ngày hội hè, khi người làng tới xem các trò bách hí.

Do đó, những cô gái có nhan sắc ít dám tới ngó những cuộc vui này, e bị

thần linh kén tới mình. người ta kể truyện lại rằng có người đi xem hội, hợp các thần linh đã bị chết ngay tại sân đình, hoặc chỉ kịp về đến nhà thì chết.

cả những chàng trai đứng đắn cũng sợ bị kén làm bộ hạ của thần, và cũng thường tránh đến xem những trò vui ngày hội.

Lễ tiến thảo

Đây là một buổi lễ tổ chức cúng thần trước khi làng vào đám, dùng người cỏ, cả nam lẫn nữ để dâng thần, những người cỏ này sẽ thay thế nam nữ

thanh niên trong làng để hầu hạ thần. Những người cỏ, sau buổi lễ tiến thảo đều được đem đốt.

Làng nào có làm lễ tiến thảo trước khi vào đám, thì các thanh nam thanh nữ mới dám thỏa sức đi xem hội.

Những đàn bà con gái đang lúc thấy (kinh nguyệt) không được tới đình xem hội, vì lúc đó họ đang ở trong thời kỳ ô uế.

Ông nghiêm Thẩm trong tập “Esquisse D’une Etude Sur Les Interdits chez les Vietnamiens” có nhắc lại lời ông Lagrand là tại xã cửa Bé khi làm lễ cúng ngư thần, đàn bà con gái có chửa hoặc thấy (có kinh), cũng như những người có tang hoặc tàn tật không được bén mảng tới nơi cúng lễ. Tục cũng cho rằng nếu những người đó vô ý bước xuống một chiếc thuyền, người ta phải làm lễ tạ tội. Lễ tạ này không giống lễ thường, người ta lấy nhựa cây tro tẩm vào những bó đuốc và người ta kéo nhau tới đằng sau ngọn núi, trông ra mé biển với đồ lễ gồm gà rượu để cúng tạ ngư thần. Trong buổi lễ, người ta lấy bột nhựa cây tro rắc vào những bó đuốc; lửa bốc lên đã đốt hết những cái ô uế và xua đuổi tà mà. Và sau đó người ta mới yên trí lại hạ thuyền xuống nước.

Kể ra những điều kiêng kỵ rất nhiều, nhưng tựu trung là tránh sự làm ô uế

những buổi lễ. Sự kiêng kỵ này có thể thay đổi tùy theo tục lệ địa phương, sao cho hợp với các vị tôn thần của từng làng.

Những điều phải giữ gìn trong việc Sự thần

Việc sự thần cốt lấy điều tôn kính làm đầu và nhất là khi cúng bái cần phải có lòng thành.

Đối với tổ tiên, người ta đã giữ gìn để khỏi phạm đến sự tôn kính, đối với thần thánh người ta càng phải giữ gìn hơn. Ngoài những việc giữ gìn kiêng kỵ như đối với tổ tiên, còn nhiều việc giữ gìn kiêng kỵ khác, mà một vài điều đã nói ở trên.

Thờ phụng Thần linh, không ai được nhắc tới tên ngài. Trong đời sống hàng ngày nếu tiếng nào trùng với tên thần phải gọi sang tiếng khác.

Thí dụ:

Hoàng phải nói trạnh sang huỳnh

Đang phải nói trạnh sang đương

Vàng hương phải nói trạnh sang vàng nhang.

Ở chung quanh nơi thờ tự những cây cối mọc khi có hoa quả không ai được hái. Vườn tược không ai được phá hoại.

Khi lễ bái y phục phải trang nghiêm và cử chỉ phải đường hoàng.

Đi qua một nơi thờ tự không được trò chuyện ầm ỹ, phải lặng lẽ để tỏ vẻ

cung kính.

Không khiêng một xác chết qua nơi thờ tự. Khi một đám ma bắt buộc phải đi qua trước mặt ngôi đình, một ngôi đền... kèn trống phải ngừng bặt và con cháu không được khóc lóc.

Mỗi mùa hoa quả mới, dân chúng phải chờ thắp hương cúng tại đình đền mới được mua về cúng gia tiên.

Trong lúc hành lễ, hoặc khi có mặt tại nơi thờ tự - ngay cả ở các từ đường tổ tiên - phải tránh không được quay lưng về bàn thờ, quay lưng về phía bàn thờ là bất kính.

Đồ lễ dùng trong việc Sự thần

Việc thờ cúng cốt ở sự tôn kính, sự tôn kính phải được thể hiện không những riêng qua các nghi thức tế lễ mà còn phải do tự tâm. Ta đã nói tâm động quỷ thần tri, khi lòng nghĩ đến sự cúng bái, quỷ thần đã biết. Bởi vậy trong việc sự thần cần phải tâm thành, tâm thành từ khi sửa đồ lễ tới khi cúng lễ.

Đồ lễ không cần nhiều hoặc sang, nhưng cần phải thanh khiết và phải do lòng thành của người dâng lễ.

Không được ăn trước các đồ lễ nếu chưa cúng. Và phải hết sức tránh mọi sự có thể làm ô uế đồ lễ. Không được đựng đồ lễ bằng những thức đựng đã đựng những vật ô uế như quần áo đàn bà chẳng hạn.

Theo linh mục Cadière thuật lại trong tập croyances et pratiques Religicuses thì tại làng chiết Bi Thượng, tỉnh Thừa Thiên, có tục dâng chung đồ lễ lên đức Thành hoàng trong buổi Xuân tế và Thu tế. Các vị hương lý kỳ

lão, chức sắc quan viên trong dịp này đều phải có một cỗ xôi dâng thần. Năm đó, có một ông cửu phẩm mang dâng cỗ xôi. Khi gia nhân bưng cỗ xôi tới phía bàn thờ, bỗng nhiên xôi rời khỏi mâm bắn ra ngoài, người làng cho là sự vô ý của gia nhân ông cửu, nên mọi người bảo lũ gia nhân phải cẩn thận.

Nào ngờ khi chúng sắp đặt mâm xôi lên hương án thì cả mâm lẫn xôi đều bị

hất đi như có người dùng sức đá đi vậy. Trước sự kiện này dân làng yêu cầu ông cửu phải trình bày về cỗ xôi của mình. Ông cửu đã phải thú thật rằng lúc đồ xôi xong, trước khi đánh xôi vào mâm thành cỗ xôi, người nhà đã rải xôi trên một chiếc mủng đặt trên giường bà cửu thường nằm.

Nghe ông cửu nói mọi người hiểu rằng, cỗ xôi đã bị ô uế. Ông cửu phải sửa một cỗ xôi khác cho tinh khiết hơn.

Về đồ lễ cúng thần, người ta không được dùng của ăn cắp dâng lễ, và cũng không ai được tìm cách ăn cắp đồ lễ trước khi cúng.

Người ta kể chuyện rằng tại một xã kia, dân làng mổ một con lợn để tế

thần. Trong bọn làm thịt lợn có một người ăn cắp một miếng tiết định mang về cho con, dấu trong cạp quần. Lúc dâng lễ, bỗng người này hét lên: Miếng tiết! miếng tiết! rồi ngã lăn ra chết. Sợ hãi, dân làng lại xem mới khám phá ra miếng tiết dấu trong cạp quần của người này. Thần linh đã trừng phạt và vật chết kẻ gian.

Khi giết gà vịt để cúng lễ, phải dùng gà chân vàng, nếu dùng gà chân đồng là thất kính.

Hoa dâng lễ phải tuyệt đối tinh khiết, nghĩa là không ai được ngửi bông hoa dùng làm lễ vật. Và cũng không được cúng hoa nhài tượng trưng cho sự

lẳng lơ.

Trong các đồ ngũ cốc, gạo phải cúng loại gạo tốt, gạo thơm và không dùng gạo ba trăng, cũng không ai cúng lễ bằng ngô, kê và khoai lang. Tục truyền rằng ba thứ này gốc ở nước Tàu đã được mang sang nước ta một cách thiếu chính đáng và đã bị ô uế, nguyên trước đây người Tàu cấm mang sang

nước ta ba thứ trên. Sau có một vị quan đi sứ mang được những thứ này về

bằng cách dấu trong chỗ hiểm những hạt ngô và hạt kê, còn dây khoai lang thì vị quan này quấn quanh mình làm thắt lưng.

Không bao giờ làm thịt chó làm đồ lễ, và khi nào lễ người ta cũng phải kiêng ăn thịt chó và ăn tỏi, chó ăn dơ, thịt không tinh khiết, còn mùi tỏi quá hăng sẽ cũng thiếu tinh khiết.

Riêng về việc cúng lễ đức Thánh Quan, người ta không dùng gà trống để

dâng lễ. Tục này do đức Thánh Quan đối với gà trống có hàm ơn. Trong một trận giao chiến, ngài đã nhờ được tiếng gà gáy báo thức mà thoát khỏi tay kẻ địch. Bởi vậy để nhớ ơn gà trống ngài không dùng thịt chúng.

Tóm lại đồ lễ dùng trong việc sự thần phải tinh khiết và do sự thành tâm của người dâng lễ. Và khi cúng lễ, người ta cũng cần biết đến những điều kiêng kỵ đối với từng vị thần để khỏi mang tội bất kính.

Việc thờ phụng các vị thần khác ngoài Phúc thần

Từ trên chỉ nói riêng tới việc thờ cúng các Thành hoàng mà chưa nói tới việc cúng lễ đối với các thần linh khác.

Qua các nơi thờ tự công cộng đã được trình bày, ta thấy các thần linh đều được dân chúng lập đình đền miếu ban... để thờ phụng. Việc thờ phụng chư

thần đều thực hiện qua sự cúng tế lễ bái, tuy nhiên, đối với chư thần, ngoài phúc thần ra, thường dân chúng chỉ có cúng tế, chứ ít khi có cử hành cuộc tế, trừ những trường hợp đặc biệt lắm, như khi miếu mới khánh thành, hoặc khi có điều gì báo cho dân làng biết cần phải tổ chức tế lễ theo lễ nghi đối với vị thần nào.

Có nhiều vị thần vẫn được dân chúng tôn thờ, nhưng không có nơi thờ tự

ở tất cả mọi địa phương, thí dụ như nam Tào và Bắc Đẩu là hai vị thần, theo sự tin tưởng chủ về sinh tử. Không phải ở xã nào cũng có đền hoặc miếu thờ

hai vị thần này, nhưng khi có việc lễ bái cần phải cúng tới các vị thần này, mọi người đều thiết lập nên một bàn thờ lâm thời, cúng xong lại bỏ đi.

Lại cũng có những vị thần, ở một nơi nào đó được dân chúng coi là rất linh thiêng, nhưng cũng không ai lập bàn thờ. Thí dụ như tại một khúc sông có một hòn đá lớn, dân chúng, giới sống trên sông nước, mỗi khi đi qua khúc sông này thì thắp hương đốt vàng để cầu khẩn được bình yên. có khi một cửa bể thường có nhiều sóng gió nguy hiểm, như cửa Tuần Vường, Thanh Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

Hóa, mỗi khi thuyền bè qua lại, các thuyền chủ đều đốt vàng hương ném xuống nước cầu khấn.

Tại miền Trung, tại địa giới hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, thuộc phủ Vĩnh Linh, có cái phá gọi là phá Tam Giang, mỗi khi thuyền bè đi qua đều bị sóng thần nổi lên muốn làm ụp thuyền, nếu thuyền trưởng không đốt nhang khấn vái, thì thuyền sẽ bị đắm chìm[12].

Cũng có nơi, tại một bàn thờ, dân chúng thờ ba bốn vị thần, như ở bức ảnh in kèm theo đây, một bàn thờ được lập dưới gốc một cây đa to, dân chúng đã cùng thờ ba vị thần.

Thần ngũ phương thổ địa.

Thần bản xứ địa chủ.

Thần đại thụ.

Nhiều khi trên dọc đường ta bắt gặp một chiếc ban nhỏ, nhất là về những vùng rừng núi. Ban ngày thường để thờ một bà chúa khu rừng, hoặc vong hồn một người nào qua đây gặp tai nạn vào giờ linh, những ban này, dù ở

mạn ngược hay ở miền xuôi, không bao giờ có ai trông nom hẳn để lo mọi việc cúng lễ, những khách bộ hành qua lại, người buôn kẻ bán thường dừng chân thắp mấy nén hương khấn vái để cầu vị thần linh phù hộ cho.

Cũng có khi, một miếu nhỏ được lập nên tại một bên đường để thờ cúng vong hồn một vài thanh nam hoặc thanh nữ ngộ nạn, gọi là miếu cậu hoặc miếu cô, như trường hợp ba thiếu nữ ngộ nạn xe hơi trên đường Vũng Tàu, trong số đó có ái nữ ông nguyễn Đình Quát, hiện nay cũng có miếu thờ gọi là miếu Ba cô, xây ngay gần nơi mộ các cô.

Tại các nghĩa địa, các lăng tẩm, có miếu bà Hậu Thổ trông coi về nghĩa địa hoặc lăng tẩm này.

Các vị thần thời gian

Đã nói về thần, tưởng không thể bỏ qua các vị thần cai quản về thời gian.

Theo tục ta tin rằng, mỗi khoảng thời gian lại do một vị thần cai quản.

Tính theo năm thì có mười hai vị thần gọi là thập nhị hành khiển vương hiệu.

Mười hai vị đại vương hành khiển này, mỗi năm do một vị cai trị, kể theo thập nhị chi bắt đầu từ năm Tý.

[12] Hương Giang - Cây Đa Bến Cộ, Văn Hóa Nguyệt San số 28, tháng 1-2-1958, trang 71.

Năm Tý: chu vương hành khiển, thiên ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan.

Năm Sửu: Triệu vương hành khiển, tam thập lục phương hành binh chi thần, Khúc Tào phán quan.

Năm Dần: ngụy vương hành khiển, mộc tinh chi thần, Tiêu Tào phán quan.

Năm Mão: Trịnh vương hành khiển, thạch tinh chi thần, Liễu Tào phán quan.

Năm Thìn: Sở vương hành khiển, hỏa tinh chi thần, Biểu Tào phán quan.

Năm Tý: ngô vương hành khiển, thiên hải chi thần, Hứa Tào phán quan.

Năm Ngọ: Tân vương hành khiển, thiên hao chi thần, nhân Tào phán quan.

Năm Mùi: Tống vương hành khiển, ngũ đạo chi thần, Lâm Tào phán quan.

Năm Thân: Tề vương hành khiển, ngũ miếu chi thần, Tống Tào phán quan.

Năm Dậu: Lỗ vương hành khiển, ngũ nhạc chi thần, cự Tào phán quan.

Năm Tuất: Việt vương hành khiển, thiên bá chi thần, Thành Tào phán quan.

Năm Hợi: Lưu vương hành khiển, ngũ ôn chi thần, nguyễn Tào phán quan.

Mười hai vị đại vương hành khiển, mỗi vị đều có một vị phán quan giúp việc.

Nói tóm lại, các vị thần linh vốn tự ngàn xưa, từ trước khi có tôn giáo tại Việt nam đã được dân Việt nam ta tôn thờ.

Có thể bảo là một điều mê tín, nhưng tục thờ thần của ta xét qua những điều mê tín không phải không có những điều hay. Tôn thờ thần linh, dân ta nhớ ơn các người, và những tấm gương tốt đẹp của các người đã hằng được dân ta luôn luôn nhắc nhở tới, nhất là những tấm gương sáng của các vị anh hùng đã hết lòng vì giang sơn dân tộc.

NGHI LỄ XÂY CHẦU VÀ Ý NGHĨA

Nói đến lễ xây chầu, thì phải nói đến việc Trời Đất. Trong vũ trụ có ba ngôi quan trọng: Thiên, Địa, nhơn, tức là Đạo Trời, Đạo Đất và Đạo người. Thuở

trời đất chưa phân, thì gọi là Thái cực. Thái cực sinh ra Lưỡng nghi. Lưỡng

nghi sinh ra Tứ Tượng và do đó biến hóa sanh ra vạn vật. Tứ Tượng cũng biến sanh ra ngũ Hành, nên mặt trống chầu vẽ hình Thái cực.

Lễ xây chầu

Lễ này trong làng hoặc trong hội chọn một vị cao niên (phải ngoài 50 tuổi) có đủ vợ chồng, con cái đông đảo, có đức hạnh, cương trực (không nên chấp nối vợ chồng, hoặc không có con cái). Vị hương chức được chọn phải ăn chay một hai ngày trước khi chầu, để cho lòng thanh thỏa, cầu Trời Đất thánh thần phò hộ cho quốc thới dân an, mưa hòa gió thuận, mùa màng tươi tốt, bá tánh an vui.

Trước ngày cúng phải sơn trống chầu lại, vẽ mặt Thái cực trên mặt trống, sắm một khăn vuông đỏ mới để đậy mặt trống.

Nghi lễ

Nghi lễ đã có thầy lễ xướng, sau khi dâng một tuần hương, ba tuần rượu lễ thần xong, chấp sự thỉnh roi chầu theo lễ đến trước sân khấu nơi đã đặt trống chầu, có bàn nghi lễ, rót rượu, khấn vái Thánh tổ hát bộ, đốt vàng, lấy ly rượu lễ rưới lên vàng đang đốt bằng lá bùa tứ túng ngũ hoành để tẩy uế

ở trước xung quanh. Xong, khi lễ xướng “Định vị”, chọn hướng mà để trống chầu. Từ chỗ đứng bước bảy đến gần trống chầu, tùy lượng xa gần mà bước, vừa tầm để đứng đánh trống, hai bước sau hết là chỗ đứng, chân mặt đứng trước, chân trái đứng sau, đứng bằng chữ Đinh, đứng như vậy cho đến khi dứt xây chầu, không xê dịch, giở chân lên. (có người vẽ chữ sát quỉ ở chân mặt để đạp lên chữ sát quỉ đó, nếu người xây chầu vì quá lâu mỏi chân xê dịch, hoặc giở chân lên quỉ sẽ sát hại), thiết tưởng lễ cầu an do lòng thời cúng, sự tin tưởng, tín ngưỡng và lấy ở đức trọng của người xây chầu không cần phải viết chữ sát quỉ mà đạp lên.

Khi nghe lễ xướng phế cân, gỡ khăn vuông trên mặt trống, lau mặt trống, xếp khăn lại quấn vào khoảng giữa roi chầu. Dùng roi chầu vẽ lên mặt trống lá bùa Tứ Tung (Bốn ngang) ngũ Hoành (năm đường xuống). Trước khi vẽ lá bùa này phải niệm câu chú: nam Mô Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật định. Vẽ lá bùa xong, roi chầu nhịp lên đầu trống và lời cầu nguyện: Nhứt khắt nguyện, thiên hạ thái bình, hà an xã tắc.

Nhị khắt (bên trái) nguyện, phong hòa vỏ thuận, bá tánh an cư lạc nghiệp.

Tam khắt (bên mặt) nguyện, Hội viên nam nữ vẫn an, bổn hội được miên Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

trường vĩnh cửu.

Sau ba khắt ở vành trống, đem roi chầu vào giữa thái cực điểm, mỗi điểm xướng lên cầu nguyện:

Nhứt điểm: Thiên thiên thanh.

Nhị điểm: Địa địa ninh.

Tam điểm: Nhơn nhơn trường sanh.

Rồi đánh ba hồi theo thức tiền bần hậu phú (trước người ta đánh hồi thứ

nhứt 80 roi, rồi thúc, hồi thứ nhì 100 roi, thúc hồi thứ ba 120 roi thúc. Sau nầy bớt lại 36, 72, 108, hoặc ít nữa 20, 40 và 60). Khi dứt hồi thứ ba xướng lên câu: Hội viên nam nữ và bá tánh trong quận đồng thọ phước Lộc Thọ

(Hội viên đứng hai hàng khăn đen áo dài, khi nghe xướng rồi đồng dạ). Chấp sự đánh chín chập, ba roi ba hiệp rồi để cho tiếp giá. (Tiếp giá có roi chầu riêng). Chấp sự đã xong đem roi chầu lên bàn thần và làm lễ.

Nên nơi nhớ roi chầu đánh từ cửa sanh (xuất buồn hát bội) qua cửa tử

(nhập).

Ý nghĩa cuộc Lễ xây chầu là khai thông Thái cực, giải thích: Thúi Cực: Thuở trời đất chưa phân thì gọi là Thái cực. Thái cực là một khối tròn bằng khí nguyên chất gồm Âm Dương lúc vũ trụ chưa phân. Sau rồi tùy luật động tịnh mới sanh ra nóng lạnh, biến ra âm (lạnh) dương (nóng).

Lưỡng nghi. - Khí trong và nhẹ nổi lên làm Trời, khí đục và nặng chìm xuống làm đất (tức là Âm Dương Lưỡng nghi).

Tam Tài: Trong vũ trụ có ba ngôi quan trọng là Thiên, Địa, nhơn. Đạo Trời là âm dương, Đạo đất là nhu cương và Đạo người là nhân nghĩa.

Tứ tượng: Lưỡng nghi sanh ra Tứ Tượng là:

1-

Thái Dương

2-

Thiếu Dương

3-

Thái Âm

4-

Thiếu Âm

Thái Dương là mặt trời, Thái Âm là mặt trăng (nói rõ hơn là mặt trời ở

trong thái dương hệ, mặt trăng ở trong thái âm hệ). Có âm dương tương giao chuyển động biến hóa sanh ra vạn vật. Tứ Tượng lại biến thành Bát quái là: càn, Khôn, chấn, Tốn, Khảm, Ly, cấn và Đoài.

1- càn là trời, là cha ở hướng Tây Bắc

2- Khôn là đất, là mẹ ở hướng Tây nam

3- chấn là sấm, trưởng nam ở hướng Đông

4- Tốn là gió, trưởng nữ ở hướng Đông nam

5- Khảm là nước, trung nam ở hướng Bắc

6- Ly là lửa, trung nữ ở hướng nam