Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 54
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Một nguyên mới lại bắt đầu từ hội Tý. Ánh sáng bắt đầu dần dần tỏ rõ, nhưng khối hỗn độn vẫn còn duy trì, cho hết nửa phần đầu của hội Tý trong 5.400 năm. Lúc này những phần nhẹ của khối hỗn độn dâng lên thành mặt trời, mặt trăng và các vị sao. Hội Tý phải vượt qua nửa hội sau nữa, và trời sẽ
mở vào giờ Tý đầu tiên, như sách đã nói “Thiên khai ư Tý”.
Đến hội Sửu, đất thành hình bởi những vật cứng của khối hỗn độn, và nước bắt đầu có bởi phần ẩm ướt, cùng với lửa tạo nên bởi phần nóng của khối này. Vì vậy đất ở giờ Sửu, “Địa tịch ư Sửu”.
Rồi đến hội Dần. Trong nửa phần đầu, vạn vật trong đó có người ở giữa trời đất bắt đầu có. Sách Nho do đó nói người sinh ra ở giờ Dần, “Nhân sinh ư Dần”.
Lý và Khí.
Vũ trụ cùng mọi phần tử trong vũ trụ đều gồm hai yếu tố bất khả phân tách là lý và khí.
Lý là nguyên tắc hoạt động của vũ trụ, thúc đẩy mọi vật biến hóa. Lý vô hình, vô sắc, vô vị.
Khí là một khối hơi biến hóa theo lý, do đó khí có một thể, có một hình, ngũ quan có thể nhận thấy được.
Lúc vũ trụ bắt đầu biến hóa gọi là Thái hòa, nghĩa là sự yên tĩnh cực độ, kế đó do yếu tố lý thúc đẩy, mọi việc biến hóa bắt đầu và sự yên tĩnh cực độ
cùng với sự hư không cực độ, gọi là Thái hư, đều chịu biến chuyển do lý tạo nên.
Thái cực
Thái cực chỉ yếu tố lý khi lý là nguyên nhân của mọi cuộc biến hóa vạn vật.
Theo Lễ ký thì “Thái cực hàm tam vi nhất”, nghĩa là Thái cực là ba trong một vì Thái cực là nguyên tắc đưa đến chỗ duy nhất của tam tài là Trời, Đất và Người.
Tất cả mọi vật trong vũ trụ, kể cả những điều rất trừu tượng như những nỗi vui buồn cũng đều có thái cực. Thái cực ở trong mọi vật nhưng vẫn chỉ
có một, như chu Hi đời nhà Tống đã nói: Mặt trăng soi sáng ban đêm chỉ có Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
một mặt trăng; lúc mặt trăng chiếu xuống hồ lại có thêm mặt trăng ở dưới hồ, nhưng có ai bảo mặt trăng bị chia xẻ và mất sự duy nhất.
Âm và dương
Âm và dương là hai trạng thái của những phần tử vật chất trong vũ trụ.
Những phần tử này dưới sự thúc đẩy của lý cấu hiệp với nhau sinh ra ngũ
hành, còn gọi là ngũ đế gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành chia ở bốn phương và trung tâm:
Kim: ở phía Tây
Mộc: ở phía Đông
Thủy: ở phía Bắc
Hỏa: ở phía Nam
Thổ: ở trung tâm
Giữa vạn vật luôn luôn có sự tranh chấp và tương đối, nghĩa là có sự chống chọi nhau cứ từng hai, bốn hoặc hơn nữa tương đối với nhau, tạo nên hai trạng thái Âm và Dương đối chọi nhau. Âm là cái, là tĩnh là chưa hoàn bị, dương là đực, là động, là hoàn bị.
Thí dụ:
Mặt trăng và mặt trời
Đêm và ngày
Thể xác và linh hồn
Ác và thiện v.v...
Theo các sách để lại, chính vua phục Hi (2852-2737 trước CN) đã tìm ra nguyên tắc tương đối Âm và Dương. Một đêm nhà vua nằm mơ thầy con ngựa rồng lội trên sông Hoàng Hà, mang trên lưng một Hà đồ gồm những chấm đen và chấm trắng sắp cân nhau, thành hai hình, lưỡng nghi, đen là âm và trắng là dương. Những hình đó trà trộn với nhau thành bốn hình mới là Tứ tượng; Tứ tượng sinh ra Bát quái; Bát quái sinh ra 64 Trùng quái lại sinh ra 4096 hình kép khác, mỗi hình gồm 12 điểm - và như thế các hình các điểm được nhân lên vô tận(-) phục Hi thay những điểm đen bằng một vạch cắt đôi (-- ) là Âm và những điểm trắng bằng một vạch liền (-) là Dương.
Tất cả mọi hình này được trình bày và cắt nghĩa trong bộ Kinh Dịch.
Tam tài
Mọi vật trong vũ trụ đều có Âm và Dương tương đối nhau, và trong mọi vật có ba yếu tố chính là Tam tài: Trời, Đất và Người.
Trời, Đất: Do sự biến hóa giao động liên tiếp của vật chất phát sinh ra sức nóng và ánh sáng. Những phần tử tinh vi nhất bốc lên trời. Trời gồm: mặt trời, mặt trăng, các tinh tú. Không trung cũng là một phần của bầu trời, chính ở đây có sự trà trộn của ngũ hành để tạo nên nguyên tố căn bản của các vật.
Những phần tử cặn bã, lạnh lẽo, tối tăm đọng lại biến thành đất.
Trời với đất riêng biệt nhưng vẫn liên quan với nhau về phương diện động.
Trời hoàn thiện nhất nên Kinh Thư gọi trời là Thượng Thiên, trời cao, là Hiệu Thiên, trời sáng, là Hoàng Thiên, là Thượng Đế...
Người ta coi Trời là đấng tối cao chỉ huy mọi vật trong vũ trụ.
Khí hóa: do sự giao hợp giữa Âm và Dương, Trời và Đất các động vật trong đó có con Người được sinh ra, giống đực do trời, giống cái do đất. Việc sinh sản đầu tiên này được gọi là Khí hóa. Sau đó các động vật giao hợp thẳng với nhau để sinh tồn, việc sinh sản này là hình hóa.
Theo sách nho, người đầu tiên là ông Bàn cổ do trời đất sinh ra. Ông Bàn cổ hiểu lẽ âm dương biến hóa đã làm chủ được Tam tài - Không sách nào nói đến vợ ông Bàn cổ.
Vạn vật nhất thể: Qua các điều trên ta thấy rằng mọi vật, không phân biệt vật nào đều có một nguồn chung, tất cả đều do nguyên tắc tương đối sinh ra: Trời và đất là cha mẹ chung, loài người là anh em và các vật khác là bầu bạn.
Nếu có sự dị biệt giữa người với người, giữa người với loài vật là do bởi Khí, khí có bốn đặc điểm khác nhau:
Chính là ngay thẳng
Thiên là lệch lạc
Thông là hở, dễ thấm
Tắc là bít lối
Chính và Thông là những đặc điểm của loài người. Thiên và Tắc là những đặc tính của cầm thú, thảo mộc, và Thông còn có thêm nhiều đặc tính khác gây nên sự dị biệt giữa người với người, cũng như trong Thiên và Tắc cũng có những đặc tính khác gây sự dị biệt giữa cầm thú, thảo mộc lẫn với nhau.
Về con người
Về vũ trụ, Nho giáo đã có quan niệm rõ rệt thì về nhân sinh cũng vậy. Nho giáo cũng có một quan niệm riêng.
Bản thể con người
Quan niệm của Nho giáo về con người, qua Tử Tư, cháu đức Khổng Tử, tác giả sách Trung Dung thì mọi người đều sinh ra với một bản thể toàn diện, con người phải sống theo tính tình toàn thiện ấy để tập nhân đức.
Chính Mạnh Tử cũng đã xác nhận loài người sinh ra hướng về sự thiện:
“Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Người ta hướng về điều thiện như nước chảy theo đường dốc vậy.
Sở dĩ loài người không đi tới chỗ toàn thiện chỉ vì không chịu tập lấy nhân đức. Các thánh nhân, các nhà đạo đức chỉ hơn người ở chỗ biết giữ lấy bản năng toàn thiện của con người.
Qua các điểm nhận định về vũ trụ ở trên thì Lý giao hợp với Khí để sinh sản ra mọi vật trong đó có con người. Lý là cái phần toàn thiện thì bản thể
con người do Lý tạo, lẽ tất nhiên cũng phải tốt lành và hướng thiện.
Vậy sao lại có những điều xấu về luân lý và tinh thần, nghĩa là những điều thiếu nhân đức? Đấy là do nguyên tắc Khí sinh ra. Loài người hơn muôn vật vì đã hấp thụ những cái gì tinh vi nhất của nguyên tắc khí. Tuy vậy, giữa con người, cũng có người khôn ngoan, kẻ ngu độn, đó là vì đã lãnh nhận nhiều ít những yếu tố tốt hay xấu ở Khí.
Như vậy, có thật “nhân chi sơ, tính bản thiện” không?
Ở đây, có thể nói được rằng thật nếu chỉ xét về bản thể của con người lúc mới bởi trời ban cho: nhưng nếu xét qua bản thể đó khi đã được cá tính hóa trong vật chất thì phải nói rằng trong bản thể đó có xấu có tốt, có xấu, có tốt, nhưng nếu lý điều khiển tất cả mọi việc và nguyên tắc vật chất khí không làm trở ngại việc điều khiển này con người sẽ hoàn thiện. Ngoài ra, sự học vấn, cũng bổ khuyết cho con người. Bởi vậy cho nên, khi con người sinh ra, bản thể giống nhau, nhưng sự ăn ở, việc học hành làm cách biệt người nọ
với người kia: “Tính tương cận, tập tương viễn”.
Tất cả, về bản thể con người, quan niệm của Nho giáo tóm tắt trong 12
chữ:
Nhân chi sơ, tính bản thiện.
Tính tương cận, tập tương viễn.
Nhân đức và tài lộc
Nho giáo khuyên người ta làm điều nhân đức. Trong sách Luận Ngữ đức Khổng Tử có nói: “Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân“’, người nhân đức tìm sự an nghỉ trong nhân đức. Kẻ trí thức bao giờ cũng hiểu lời dạy của ngài,
nhưng giới quần chúng không thấu hiểu được hết lời ngài nói. Do đó muốn hướng thiện con người phải cho con người biết có nhân đức thì có lợi lộc, không có nhân đức bị thiệt hại, trong các sách nho, chỉ có kinh Dịch nói tới sự thưởng phạt cá nhân. Mặc dầu không nhắc tới sự trừng phạt, chỉ nói tới đạo đức, nhưng trên thực tế vẫn có người nhân đức hiền lành, còn người xấu xa lẽ tất nhiên không thể tránh được.
Thánh nhân
Thánh nhân là những người hoàn thiện. Chính ra, về phương diện bản thể
lúc mới trời ban cho, Thánh nhân không khác người thường, nhưng Thánh nhân sinh ra trong thời gian thuận tiện dưới một ngôi sao tốt nên tính khí tinh vi và trong sạch.
Trong thời kỳ hỗn độn, vũ trụ còn trẻ trung, có nhiều Thánh nhân ra đời, nhưng lúc trời đất vạn vật càng lâu càng già thì Thánh nhân càng hiếm hoi.
Dưới đây là các Thánh nhân theo Nho giáo.
Phục Hi (2825-2737) Thần Nông (2737-2697)
Nghiêu (2356-2258) Thuấn (2255-2205)
Văn Vương (1231-1135) Vũ Vương (1169-1116)
Chu công (+ 1105) Liễu Hạ Huệ (600)
Khổng Phu Tử (551-479)
Trong các vị Thánh trên, Khổng Phu Tử được tôn là chí Thánh Tiên sư, là Vạn thế sư biểu.
Tử Tư trong Trung Dung quan niệm:
Thánh nhân là con người toàn thiện, mà bản thể phù hợp với thiên lý, có thể sánh ngang hàng Trời Đất. Nhân đức của vị Thánh cũng là nhân đức của Trời Đất. Vị Thánh sáng tỏ như mặt trời và mặt trăng, sự điều hòa của vị Thánh có thể sánh với sự điều hòa của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, ảnh hưởng của Thánh nhân có thể ví như ảnh hưởng các vị thần linh.
Quỷ thần
Theo Nho giáo thì có quỷ thần, nhưng quỷ thần đây không giống như ma quỷ và thần thánh được thờ phụng trong đạo Lão hay đạo thờ thần của người Việt Nam.
Trong sách Lễ Ký, một môn đệ của đức Khổng Tử là Tế Ngã, khi hỏi Ngài về quỷ thần đã được Ngài trả lời:
Khí là sung mãn của thần và phách là sung mãn của quỷ. Phối hợp quỷ với Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
thần, lúc chúng ta cúng lễ tổ tiên là một phận sự cao cả.
Đức Khổng Tử cũng lại bảo Tế Ngã:
- Tất cả những vật gì sống phải chết, và chết mọi vật đều trở về với đất, vì thế mới gọi là quỷ, xương thịt chôn xuống đất sẽ thành tro bụi, còn khí bay lên không trung để trở nên một ánh sáng rực rỡ và cứ dâng lên trời như hơi nước nhẹ nhàng và gây trong tâm hồn chúng ta một mối sợ hãi và buồn chán; đó là bản thể thuần túy của mọi vật không được gọi là tinh và cũng là sự biểu dương của thần. Hơi thở của con người, khí, một ngày kia cũng tắt đi, vì thế ai cũng phải chết. Lúc ấy phách trở về dưới đất, khí lên không trung và là phần tinh vi của vật thể. Nho sĩ gọi tính linh. Người xưa đã chọn một danh từ bao hàm cung kính tôn trọng để gọi những khí phách ấy là quỷ thần.
Trong sách Trung Dung, Tử Tư cũng nói:
-
Quyền pháp của quỷ thần rất lớn, mắt chúng ta không thấy, tai chúng ta không nghe được quỷ thần, tuy nhiên quỷ thần ở trong mọi vật và không lìa ra khỏi các vật được.
Các dòng trên cho ta thấy sự kết hợp giữa quỷ thần với mọi vật, nhất là với con người rất mật thiết và không thể có sự chia lìa được!
Sinh tử
Có sống phải có chết. Lúc chết, khí và phách sẽ phân chia. Linh hồn hay hồn khí trở về trời, còn giác hồn hay hình phách trở về đất. Trong con người đã chết, không còn gì nữa. Kinh Dịch gọi hồn ra khỏi xác là du hồn.
Chết không phải là qua một thế giới khác, nhưng theo lẽ quỷ thần con người phải nghĩ tới việc bảo tồn huyết thống để có người cúng tế sau khi mình đã chết.
Lúc chết, sau hơi thở cuối cùng, con người sẽ tiêu tan và cá tính của một người sẽ là một nguyên tử vô hình trong Thái hư.
Luân lý Nho giáo
Qua các điểm về lý thuyết Nho giáo liên quan tới con người và qua tiểu sử của đức Khổng Tử, ta phải nhận thấy rằng Nho giáo chú trọng tới công việc giáo dục con người, và riêng đức Khổng Tử thì coi việc giáo dục này là vui thú nhất.
Theo Nho giáo, trong lãnh vực, không có sự phân biệt giai cấp trong xã hội, và ở đây mục tiêu chỉ nhằm vào việc giáo hóa.
Đức Khổng Tử tin rằng công phu giáo hóa sẽ làm thay đổi tư cách con người, dù ở giữa thời phong kiến giai cấp quyền lợi phân tranh, nhưng hạng người trí thức có nhiệm vụ giáo hóa phải đứng bên các quyền lợi giai cấp để
phụng sự cho chính nghĩa, cho lý tưởng làm người.
Cái tinh thần bất vụ lợi về giáo dục đã trở nên cái tinh thần truyền thống ở khắp Á Đông. Lối thoát của Khổng giáo đối với xã hội giai cấp đấu tranh không phải là tiêu diệt tất cả mọi giai cấp, việc này không thể có được bất cứ ở đâu và ở giai đoạn nào. Khổng Nho đã có một biện pháp thích đáng để
giải quyết vấn đề này mà quan điểm quyền lợi đã bị bế tắc, biện pháp rất thực tế là đạo đức hóa những hoạt động chính trị, bắt chính trị chỉ là phương tiện để đi đến một xã hội có giáo hóa trong đó Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, giai dĩ tu thân vi bản. Làm như vậy tức là trừ tận gốc các nọc độc của con rắn độc này.
Cái căn bản luân lý của đạo đức hóa mọi tầng lớp theo Khổng giáo là căn bản tam cương, ngũ thường.
Tam cương định rõ những tương quan giữa quân thần, phụ tử, phu phụ.
Ngũ thường gồm có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, là năm đức thường con người cần phải có để cư xử với mọi người. Với căn bản luân lý này, khi đã thành nhân, con người phải gắng tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Còn đàn bà phải biết tam tòng tứ đức.
Tất cả cái căn bản luân lý của Khổng giáo đều rút trong các sách gốc của Nho học là Tứ Thư và Ngũ Kinh. Những sách này vừa là kinh điển của các môn đồ đạo Nho vừa là những tác phẩm văn chương tối cổ của Trung Hoa.
Tứ thư
Tứ Thư gồm bốn cuốn sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử.
Đại Học - Sách dạy cái đạo của người quân tử. Sách chia làm hai phần trên là Kinh chép lời đức Khổng Tử, có một chương, phần dưới là Truyện, chép lời giảng của Tăng Tử gồm 10 chương.
Cái đạo của người quân tử tóm tắt ở câu đầu sách: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chí ư chí thiện”, nghĩa là cái đạo người theo bậc đại học là cốt làm sáng cái đức sáng của mình, cốt cải hóa người dân, cốt dừng lại ở cõi chí thiện. Người quân tử phải biết sửa mình, để lo dạy người khác và lấy sự chí thiện làm cứu cánh. Bởi thế cho nên trước hết người Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
quân tử biết tu thân, rồi chỉnh đốn việc nhà, sau đó cai trị việc nước rồi mới bình được thiên hạ. Từ tu thân, qua tề gia, trị việc nước rồi mới bình được thiên hạ, ta thấy phương pháp tuần tự nhi tiến, nhưng việc tu thân vẫn quan trọng nhất. Chính vì vậy mà từ nhà vua tới người dân giả đều phải lấy sự sửa mình làm gốc. Mà muốn sửa mình trước hết phải cách vật, thấu lẽ mọi sự vật rồi trí tri, biết cho đến cùng cực, thành ý, ý phải thành thực và chính tâm, lòng phải ngay thẳng.
Trung Dung: Sách này gồm những điều đạo đức của đức Khổng Tử được truyền lại và do Tử Tư là cháu Ngài chép thành sách gồm 33 chương.
Giảng về đạo Trung Dung đức Khổng Tử có nói trung hòa là tính tình tự
nhiên của trời đất mà trung dung là đức hạnh của người. Người quân tử giữ
đạo trung dung ăn ở đúng mực, không thái quá không bất cập. Đạo trung dung rất dễ theo, nhưng ít người chịu theo. Muốn giữ đạo trung dung phải có ba đạt đức là trí, nhân, dũng. Trí để biết rõ các sự lý, nhân để hiểu điều lành mà làm, dũng để có khí cường kiện theo làm điều lành cho đến cùng.
“Ông Tử Tư lại dẫn lời đức Khổng Tử nói về chữ thành: Thành là đạo Trời, học cho đến bậc thành là đạo người. Đạo người là phải cố gắng hết sức để
cho đến bậc chí thành. Phải học cho rộng, xét hỏi cho kỹ, nghĩ ngợi cho sâu, biện biệt điều phải trái cho rõ và dốc lòng làm điều thiện cho đến cùng. Hễ
ai làm được như thế thì rồi ngu cũng thành ra sáng, yếu thành ra mạnh, tức là dần dần lên đến bậc chí thành. Ở trong thiên hạ duy có bậc chí thành tức là bậc Thánh, thì mới biết rõ cái tính của trời; biết rõ cái tính của trời mới biết rõ cái tính của người; biết rõ cái tính của người thì biết rõ cái tính của vạn vật; biết rõ cái tính của vạn vật thì khả dĩ giúp được sự hóa dục của trời đất và có công ngang với trời đất vậy...
“Sách Trung Dung nói cái đạo của thánh nhân căn bản ở Trời, rồi giải diễn ra hết mọi lẽ, khiến người ta phải giữ mình cho kính cẩn trong khi hành động và khi im lặng một mình. Suy cái lý ấy ra cho đến sự nhân nghĩa để khiến cho cả thiên hạ được bình trị và tán dương cái công hiệu linh diệu của đạo ấy cho đến chỗ tinh thần vô thanh, vô sắc mới thôi”[17].
Luận ngữ - Đây là cuốn sách ghi lại những lời đức Khổng Tử khuyên dạy học trò hoặc các câu chuyện giữa Ngài với các nhân vật đương thời về nhiều vấn đề từ luân lý, triết lý đến chính trị học thuật.
[17] Trần Trọng Kim: Nho giáo, quyển I, trang 279.
Sách này có thể coi là cuốn sách dạy đạo người quân tử một cách thực tiễn và sự mô tả tính tình cử chỉ của đức Khổng Tử như phác họa ra một cái mẫu mực hoạt động cho người đời sau theo.
Mạnh Tử - Sách do Mạnh Tử viết ra, gồm bảy thiên, chia làm hai tập, Thượng Mạnh, ba thiên và Hạ Mạnh, bốn thiên.
Sách nói lên tư tưởng của Mạnh Tử về luân lý, chính trị và kinh tế.
Về luân lý, sách chủ trương “Nhân chi sơ tính bản thiện” nhưng tính thiện có thể thiên lệch đi vì hoàn cảnh, vì tập quán, vì vật dục nên cần phải có giáo dục để nuôi lấy lòng thiện. Mấy điều cốt yếu trong việc giáo dục này là dưỡng tính, giữ vững chí hướng và dưỡng khí, giữ lấy khí phách.
Mạnh Tử lại thường nhắc nhở tới phẩm cách của người quân tử, mà ông gọi là đại trượng phu hoặc đại nhân có đủ bốn điều nhân, lễ, nghĩa và trí.
Về chính trị, ông chủ trương đạo trị dân phải trọng nhân nghĩa trên tài lợi mới tránh được biến loạn và chiến tranh.
Về kinh tế, ông chủ trương kẻ bề trên phải trù tính làm sao cho tài sản của dân được phong phú rồi mới dạy dân và bắt dân làm điều hay được. Ông đưa ra các phương lược để làm cho phát đạt việc canh nông, mục súc và công nghệ của dân. Dân có hằng sản rồi mới hằng tâm được, nghĩa là dân có sung túc mới dễ làm điều thiện.
Ngũ kinh
Cũng như Tứ Thư, Ngũ Kinh là những cuốn sách gốc của Nho giáo. Trước đây có sáu kinh, nhưng về sau kinh Nhạc bị thất lạc, chỉ còn ngũ kinh.
Kinh Thi - Vốn là những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc chương ở nơi triều miếu do đức Khổng Tử sưu tập và lựa chọn.
Kinh Thư - cũng do đức Khổng Tử sưu tập trong chép điển, mô, huấn, cáo, thệ, mệnh của các vua tôi bên Tàu tự đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông chu.
Kinh Dịch - Đây là cuốn sách tướng số dùng về việc bói toán và sách lý học cốt giải thích lẽ biến hóa của trời đất và sự hành động của muôn vật.
Sách này gần đây đã được ông Nguyễn Mạnh Bảo sưu tầm và dẫn giải trong Dịch kinh tân khảo gồm bảy tập, dày 4360 trang.
Lễ Ký - chép các lễ nghi trong gia đình, hương đảng và triều đình.
Kinh Xuân Thu - Đây là tập sử ký nước Lỗ do đức Khổng Tử san định lại, chép công việc từ đời vua Lỗ Ân công tới đời vua Lỗ Ai công, tất cả thời gian Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
243 năm, từ 722 đến 481 trước Tây lịch.
Tứ Thư và Ngũ Kinh là hai bộ sách gốc gồm những điều cốt yếu của Nho giáo cho mọi người hiểu rõ triết lý cũng như luân lý của đạo Nho. Ở đây chỉ
nhắc sơ qua, tập sách này nhằm nhiều về phong tục Việt Nam qua tín ngưỡng triết lý và giáo điều của bất cứ tôn giáo nào.
Nho giáo tại Việt Nam
Ảnh hưởng của Nho giáo hiện này còn vững chắc trong dân chúng Việt Nam, và những phong tục của dân ta, rất nhiều bị chi phối bởi Nho giáo, nếu không bắt nguồn hẳn tự Nho giáo.
Nho giáo truyền sang nước ta từ thời Bắc thuộc, khi nhà Hán đô hộ nước ta, bởi các ông Tích Quang và Sĩ Nhiếp. Hai ông này đã đem phong tục và văn hóa Trung Hoa truyền dạy cho dân ta khi các ông làm Thái Thú quận Giao chỉ, ông Tích Quang đầu thế kỷ thứ nhất, và ông Sĩ Nhiếp từ năm 187
đến năm 226.
Trong suốt nghìn năm đô hộ, Nho học đã lan rộng trong dân chúng Việt Nam và dưới đời Đông Hán đã có những người Việt Nam thi đỗ và được bổ
làm quan với người Tàu như Lý cầm, Lý Tiến và Trương Trọng.
Hết thời kỳ Bắc thuộc, bước qua thời kỳ tự chủ, Nho giáo càng có một ảnh hưởng rộng mạnh hơn ở nước ta, nhất là dưới triều nhà Lý và triều nhà Trần.
Chính Nho giáo đã đào tạo ra những bậc anh tài ngày nay còn ghi tên trong sử sách như Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Mạc Đĩnh chi, Lê Văn Hưu v.v...
Thời kỳ thịnh hành nhất của Nho giáo tại Việt Nam phải kể là dưới triều đình nhà Lê mà Nho giáo được coi như Quốc giáo.
Nho giáo còn thịnh hành ở Việt Nam cho tới thời pháp thuộc.
Đồng thời với sự nhập cảng thêm tôn giáo mới tại Việt Nam, người pháp đã bãi bỏ thi cử nho học để gây sự suy kém của Nho giáo tại nước ta.
Ngày nay tinh thần phục hưng Nho giáo đang nẩy nở ở một vài lớp người với việc thành lập hội Khổng học. Mặc dù trong tình trạng suy kém, ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn rất sâu đậm trong mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam.
Những nơi thờ tự Đức Khổng Tử
Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dân ta cũng như người Trung Hoa, đã lập
ra những nơi thờ tự để duy trì đạo Khổng trong nước. Từ vua chí dân, để tỏ
lòng sùng đạo hàng năm đều có tế lễ tại các nơi thờ tự này là Văn miếu, Văn từ và Văn chỉ.
Tại khắp các nơi, từ thôn xã trở lên đều có văn từ văn chỉ, với những kiến trúc khác biệt không giống các nơi thờ tự của đạo lão hoặc đạo thờ thần.
Ở những nơi văn từ văn chỉ, văn miếu này, người ta thờ đức Khổng Tử, vị
chí Thánh tiên sư, Vạn thế sư biểu, cùng với các bậc danh nho và các nhà khoa cử.
Văn từ và văn chỉ
Mỗi xã hội Việt Nam trước đây, điều có một văn từ hoặc văn chỉ để thờ
đức Khổng Tử và các bậc khoa hoạn trong làng.
Kể từ thời Pháp thuộc tới nay, nhiều làng, vì toàn thể dân xã theo đạo mới là Thiên chúa giáo, nên những nơi thờ tự hoặc bị bỏ hoang phế hoặc được sửa chữa thay đổi để biến thành nơi thờ chúa Jêsus cho đúng với tín ngưỡng mới.
Văn từ hay văn chỉ là một đàn xây, thường ở đầu làng, có bệ thay cho hương án. Đàn nầy có mái hoặc lộ thiên, có mái gọi là văn từ, lộ thiên gọi là văn chỉ.
Kiến trúc và bài trí
Văn từ và văn chỉ thường xây trên một gò cao phong cảnh thanh nhã êm đềm.
Kiến trúc văn từ hoặc văn chỉ khác hẳn kiến trúc đình, đền, miếu...
Mỗi văn từ hoặc văn chỉ thường có ba lớp.
- Lớp trong cùng thờ đức Khổng Tử được mọi người tôn làm Tiên Thánh Sư, chủ trương cho việc văn học trong làng. Lớp này gồm một ban xây thay cho hương án, hai bên có những đôi câu đối, và ở trên nếu là văn chỉ thì viết ngay vào tường, nếu là văn từ thì có hoành phi mang mấy chữ Vạn Thế Sư
Biểu, hoặc chí Thánh Tiên Sư.
Trên ban có bình hương riêng. Tuy tại nơi đây không có bài vị nhưng mấy chữ đại tự ở hoành phi hoặc viết ngay trên tường để thay cho bài vị.
- Lớp thứ hai gồm ba ban, một ban ở giữa và hai ban ở hai bên. Cả ba ban này đều xây gạch thay cho hương án.
Ban ở giữa thờ những người đã đỗ Đại khoa từ Tiến sĩ và những người làm quan từ tam tứ thập trở lên.
Ban bên phải thờ những người đỗ Trung khoa từ cử nhân và những người làm quan từ lục thất phẩm trở lên.
Ban bên trái thờ những người đỗ Tiểu khoa, từ Tú tài và những người làm quan cho đến bát cửu phẩm.
Các bậc tiên hiền nước ta như chu Văn An, Hàn Thuyên đều được dân xã thờ vào ban giữa. Các người Trung Hoa có công truyền bá Nho giáo sang Việt Nam như Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp cũng được thờ ở ban này.
Việc phân biệt ba ban trên gọi là liệt tự, nghĩa là liệt hạng để thờ phụng.
Ba ban phân các hạng được dân làng thờ làm ba hạng nhất, nhì, ba, có bia ghi rõ ở văn từ hoặc văn chỉ.
- Lớp thứ ba là bái đình tức là cái sân dùng vào trong việc tế tự.
Văn từ và văn chỉ thường được xây ở các xã nhưng nhiều tổng và huyện cũng có xây văn tự hàng huyện hoặc hàng tổng.
Tế tự
Tuy trong việc thờ phụng liệt tự các hào mục, tổng lý các ông đồ không có khoa bảng không được ghi tên trong bia của dân xã, nhưng trong khi tế
tự, thường dân làng vẫn khấn mời cả các vị nầy tới phối hưởng cùng với các vị có tên ghi trong bia làng.
Cũng có nhiều làng quá chú trọng về đường khoa mục, chỉ ghi tên liệt tự
những người đã thi đỗ, còn những người dù có làm quan mà không xuất thân tự nơi khoa ban, thì dầu phẩm trật đến nhất nhị phẩm cũng không được ghi tên trong bia làng, chỉ đến lúc tế mới được đem vào phối hưởng.
Hàng năm, tại các văn chỉ và văn tự dân làng tế hai lần gọi là xuân tế và thu tế.
Việc tế tự, nghi thức theo như nghi thức tế các thần linh đã được nói rõ ở
trên, trong đạo thờ thần.
Cả sự cúng tế cũng giống như cúng lễ các thần linh, chính vì sự giống nhau trong nghi thức này, mà người ngoại quốc cho rằng giữa các tôn giáo tại Việt Nam không có một ranh giới rõ rệt. Sự thật đạo nào vẫn ra đạo ấy tuy trong nghi thức cúng tế lễ bái có giống nhau.
Ngày xưa, năm nào có khoa thi, các sĩ từ trong làng họp nhau tới lễ tại văn tự hoặc văn chỉ, gọi là làm lễ kỳ khoa. Có nhiều nơi cả làng lễ để cầu cho xã mình được nhiều người đỗ đạt.
Khi thi xong, các ông tân khoa đều ra lễ tại văn từ hoặc văn chỉ để tạ ơn đức chí Thánh tiên sư và các bậc tiên hiền.
Dưới thời kỳ Pháp thuộc, các thí sinh các kỳ thi nền học mới cũng thường tới lễ tại văn từ hoặc văn chỉ của làng để cầu xin sự phù hộ của Thánh hiền trong kỳ thi, rồi khi thi đỗ cũng lại tới đó làm lễ tạ ơn.
Các người có con đi học vỡ lòng, cùng với đồ lễ tới nhà ông đồ, xưa kia cũng dắt con mang đồ lễ tới văn từ hoặc văn chỉ để khấn xin được học đạo Thánh. Đứa trẻ sắp đi học khai tâm sau khi người cha khấn lễ xong cũng phải lễ trước bàn thờ các vị Thánh hiền.
Văn miếu
Văn miếu là đền thờ đức Khổng Tử của toàn nước Nam. Xưa kia nước Việt Nam chỉ có một văn miếu ở Hà Nội, nhưng về đời vua Gia Long vì kinh đô đóng tại Huế, nên nhà vua cho xây thêm một văn miếu thứ hai nữa. Do đó nước ta mới có hai văn miếu.