Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 61

About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.

The full text is available in Vietnamese only.

Nhóm cầu đồng này về sau bắt liên lạc với ông Lê Văn Trung, hồi đó ở

chợ Lớn và là một người chỉ ham quay cuồng vật lộn, kiếm tiền để sa đọa vào mọi thú vật chất, cờ bạc, thuốc sái, trăng hoa.

Trong một buổi ngồi đồng ở chợ Gạo của phái Minh Lý, do một thân nhân nài ép, ông Lê Văn Trung cho biết đã tiếp xúc được với hồn của nhà thơ Lý Bạch, Lý thi sĩ nói riêng cho ông Trung biết mình là ai và cũng báo cho ông Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

biết là ông phải mang một nhiệm vụ cao cả về đạo giáo.

Sau buổi ngồi đồng này, ông Trung thay đổi hẳn tính tình, ông bỏ hết mọi sa đọa rượu chè, hút sách, cờ bạc, trăng hoa và ông sống theo khuôn khổ

đạo đức.

Rồi do sự run rủi ông Lê Văn Trung được nhóm cầu đồng của ông Phủ

chiêu cho hai đại diện là các ông Phạm công Tắc và Cao Văn Cừ tới gặp và tổ chức một buổi cầu đồng. Chính trong buổi cầu đồng này các ông cho biết là đức cao Đài đã giáng đồng và trao cho ông Trung nhiệm vụ đạo giáo trong đạo mới ngài sẽ thành lập để cứu dân độ thế.

Ông Phủ Chiêu lúc đó “được đức cao Đài trao cho nhiệm vụ” hướng dẫn các ông Trung, Tắc và Cừ trên con đường đạo giáo. Nhóm cao Đài đầu tiên thành hình từ đó. Nhóm này được rất nhiều người tin theo, và vào đầu năm Bính Dần (1926) thì đạo cao Đài đã được rất nhiều người biết tới.

Những buổi cầu đồng càng ngày càng nhiều và được tổ chức tại nhiều nơi: chợ Lớn, Cần Giuộc, Lộc Giang (Long An), Tân Định, Thủ Đức, cầu Kho (Sài Gòn) v.v...

Đạo Cao Đài chính thức thành lập

Với sự tổ chức cầu đồng tại nhiều nơi, đạo Cao Đài được bành trướng rất mạnh và rất được dân chúng hoan nghênh. Thầy đạo được tôn sùng và có nhiều tín đồ, các ông Trung, Tắc, Cừ v.v... liền nghĩ tới chuyện hợp thức hóa đạo để tránh mọi sự lôi thôi phiền phức với chính quyền.

Ngày 7 tháng 10 năm 1926, các ông tất cả 28 người cùng nhau làm một bản tuyên ngôn chính thức thành lập đạo đệ lên cho viên Thống đốc Nam kỳ. Đính kèm bản tuyên ngôn chính thức này, có bản danh sách 247 tín đồ

đủ chữ ký, có mặt tại buổi lễ chính thức hóa đạo Cao Đài.

Bản tuyên ngôn thành lập đạo Cao Đài được chính quyền Nam kỳ tiếp nhận một cách lịch sự, nghĩa là không có ý gì ngăn cản.

Các vị chức sắc Cao Đài, sau đó liền tổ chức những phái đoàn truyền đạo gửi tới miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Việt.

Trong hai tháng đầu tiên, hơn 20.000 ngàn người nhập đạo, trong số đó có rất nhiều các bậc đàn anh trong các thôn xã.

Sự thành công này do ở sự cầu đồng một phần và cũng do ở điểm đạo Cao Đài không trái với các nguyên tắc đạo giáo đang được tuân theo tại Việt

Nam.

Buổi lễ tấn phong chức sắc

Ba phái đoàn truyền đạo đi khắp Nam Bộ cho đến ngày 10 tháng 10 năm Bính Dần (14-11-1926) thì đều quay trở về chùa Từ Lâm Tự, gần Tây Ninh để

lo tổ chức lễ ra mắt đầu tiên của đạo, và đồng thời cũng là lễ tấn phong các chức sắc trong đạo.

Buổi lễ được tổ chức cực kỳ long trọng trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 10

năm Bính Dần (18, 19, 20 - 1926).

Viên Toàn Quyền Đông Dương, Viên Thống Đốc Nam Kỳ, và nhiều viên chức cao cấp pháp Nam được mời tới dự.

Qua buổi lễ long trọng này các hàng chức sắc Cao Đài được tấn phong.

Ông Lê Văn Trung được tôn làm Đức Giáo Tông tức là người điều khiển toàn thể đạo Cao Đài, đứng đầu Cửu Trùng Đài.

Ông phạm Công Tắc tức Đức Hộ pháp, đứng đầu Hiệp Thiên Đài có nhiệm vụ thi hành phép tắc của đạo.

Đức Giáo Tông có các hàng chức sắc thuộc ba ngành Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo phụ tá. Những chức sắc thuộc ngành Khổng Giáo mặc áo đỏ, ngành Phật giáo mặc áo vàng, và ngành Lão giáo mặc áo lam.

Ba mầu đó tượng trưng cho ba đức tính:

Màu đỏ tượng trưng cho uy tín;

Màu vàng tượng trưng cho đức hạnh;

Màu lam tượng trưng cho bao dung

Đức Giáo Tông và ba vị Chưởng pháp thuộc ngành Lão giáo mặc áo trắng.

Các nữ chức sắc cũng mặc áo trắng.

Mỗi vị chức sắc đều có nhiệm vụ ngang nhau nếu cùng thứ bực trong đạo tuy nhiên thường thì:

Các chức sắc Khổng giáo chịu trách nhiệm về nhân sự, lễ nghi và trật tự.

Các chức sắc ngành Lão giáo chịu trách nhiệm về tổ chức nội bộ, công việc văn phòng, giáo dục các tín đồ và các công việc từ thiện.

Các chức sắc ngành Phật giáo chịu trách nhiệm về tài chính, tạo tác và mọi việc mua bán đổi chác.

Đức Hộ pháp có hai vị phụ tá:

Vị Thượng phẩm tiếp dẫn linh hồn lên Niết bàn.

Vị Thượng Sanh hướng dẫn con người vào lối đạo.

Ba vị này là ba vị chức sắc tối cao của Hiệp Thiên Đài. Mỗi vị có bốn vị

giúp việc trực tiếp.

Đức Hộ pháp coi về ngành pháp có các vị sau:

Bảo Pháp, lo việc bảo tồn phép đạo.

Hiến Pháp, lo việc đưa pháp đạo đến chỗ hoàn thiện, toàn mỹ.

Khai Pháp, lo việc truyền bá phép đạo.

Tiếp Pháp, lo việc thi hành pháp đạo và tiếp nhận những điều khiếu nại hoặc ý kiến xây dựng.

Vị Thượng Phẩm coi về ngành đạo, tức là về đời sống theo con đường

“đạo” có các vị:

Bảo đạo, Hiển đạo, Khai đạo và Tiếp đạo với nhiệm vụ giống như các vị

trên về ngành “pháp”.

Vị Thượng Sanh coi về ngành thế tức là về đời sống xã hội có các Bảo thế, Hiển thế, Khai thế, Tiếp thế.

Muốn lên các chức vị trên, các chức sắc cao Đài phải đi lần từ các bậc lễ

Sanh Giáo hữu, rồi Phối sư, sau đó có công trạng mới có thể được vào các chức Tiếp, Khai, Hiển, rồi Bảo ở Hiệp Thiên Đài được.

Toà Thánh Cao Đài

Lễ ra mắt chính thức của đạo cao Đài tuy cử hành năm 1926 tại Từ Lâm Tự, nhưng ngôi chùa này về sau không được đổi làm toàn Thánh của Đạo, và Tòa Thánh đã được xây tại xã Long Thành, gần tỉnh lỵ Tây Ninh trên một thửa đất rộng trên trăm mẫu tây.

Nguyên Từ Lâm Tự trước là một ngôi chùa Phật, do hòa thượng Giác Hải ở chợ Gạo (Tiền Giang) tạo tác nên. Hòa thượng sau khi theo đạo cao Đài đã đặt chùa thuộc quyền đạo sử dụng.

Lễ ra mắt chính thức của đạo cao Đài cử hành xong được ít bữa, các tín đồ Phật giáo trước đây đã quyên tiền để xây dựng chùa phản kháng việc hòa thượng Giác Hải đem dâng chùa cho đạo cao Đài mà không được sự đồng ý của họ.

Trước thái độ này của các tín đồ phật giáo, đạo Cao Đài liền hoàn lại cho đạo phật ngôi Từ Lâm Tự.

Vả chăng ngôi chùa này cũng quá hẹp và đất chùa cũng không đủ rộng

để có thể

xây

dựng

một Thánh

Thất khang

trang xứng

đáng

với

đạo.

Trong

một

buổi

cầu

đồng,

các chức sắc

đạo đã chọn

khu đất xã

Long Thành

để kiến tạo

Thánh Thất.

Khu đất này

đủ rộng để

thiết lập mọi

cơ sở của

đạo.

Vào

khoảng

tháng

dương lịch

1927, Thánh

Thất được di từ Từ Lâm Tự đến Long Thành, và nơi đây đã là Thánh Thất vĩnh viễn của đạo.

Với tòa Thánh Thất mới, đạo càng trường thịnh và số tín đồ ngày một đông, có thể nói hàng ngày có thêm hàng nghìn người xin theo đạo.

Số tín đồ tăng, nhưng cũng như các đạo khác lúc khởi thủy, đạo Cao Đài với sự thịnh vượng đáng kể cũng lại có nhiều người chỉ trích, nhưng các vị

Giáo tông, Hộ pháp, Thượng phẩm, Thượng sanh v.v... nghĩa là các vị lãnh Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

đạo của đạo, tuân theo những sự chỉ dẫn của đức tối cao, đã vững tay lái giữ

con thuyền đạo ngày càng thịnh đạt nhắm theo hướng lương hảo của tinh thần đạo đức. Mọi vị chức sắc đều tự nghiệt ngã với mình để trả lời cho tất cả những sự công kích, phỉ báng của kẻ ngoại đạo.

Các người đã thành công, đạo đã bành trướng mặc mọi sự khó khăn vấp phải.

Triết lý của đạo Cao Đài

Cao Đài là danh tự tượng trưng của đấng Tối Cao. Lần này người hiện xuống trần không do một cá nhân nào, mà chỉ qua các buổi cầu đồng. Theo các tín đồ Cao Đài thì đức Tối Cao không muốn trao cho một kẻ trần nào nhiệm vụ thiêng liêng

được thành lập một đạo mới như Ngài đã từng trao cho một con người về các đạo cũ.

Hình thức xuất hiện mới của đấng Tối cao chính chỉ vì những đạo do con người lập ra không phù hợp được với tất cả nhân loại vì các Giáo Tổ của đạo này công kích những tính thực đạo khác nêu lên.

Đạo cao Đài gồm tất cả các chân lý của những cựu đạo tại Á Đông: Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo.

Qua chỉ bảo của các buổi cầu đồng thì các lý thuyết cao đẹp của các đạo khác đều không được tuân theo một cách đứng đắn, các nhà hành đạo đã làm sai. Trật tự và hòa bình của thời xưa đã mất. Phép tắc đạo đức của loài người đã bị phản bội. Đối với những kẻ kém suy nghĩ cũng như đối với không kẻ nghi ngờ, đấng Tối cao chỉ là một danh từ. Họ quên rằng ở nơi cao xa có ngự trị một vị cao cả, chúa của mọi biến cố trong vũ trụ và của tất cả mọi số

mạng của con người.

Hồi xưa, sự chuyển vận khó khăn, các dân tộc chưa hiểu biết nhau, đấng cao cả đó lập ra qua nhiều thời đại, năm ngành của Đại Đạo: 1/ Khổng giáo là Nhân đạo

2/ Thần đạo, đại diện là Khương Thái công, thờ phụng chư thần.

3/ Gia Tô giáo là Thánh đạo

4/ Lão giáo là Tiên đạo

5/ Phật giáo là Phật đạo

Mỗi đạo đều căn cứ theo phong tục tập quán của từng dân tộc theo đạo.

Ngày nay, ngũ đại châu đều đã được khai thác, loài người đã tự hiểu mình hơn và ai nấy đều mong mỏi hòa bình, nhưng vì đạo giáo khác nhau, nhân loại thường lủng củng lẫn nhau.

Để tránh sự lủng củng này, đấng Tối cao quyết định hợp nhất các đạo để

thống nhất vấn đề tín ngưỡng.

Hơn nữa qua thời gian, giáo lý cao cả của các đạo đã biến thể, nên đấng Tối Cao phải tự giáng trần để thành lập một đạo mới.

Trong một buổi cầu đồng vào ngày 13 tháng 1 năm 1927, “hồn Lý Thái Bạch” nhập đồng và nói:

Các bạn! Đức Jésus nhân ái ở giữa các bạn để chỉ đường vạch lối cho các bạn. Các bạn phải cố theo người cho tâm hồn được bình thản. Mỗi ngày các bạn hãy nhích lên một bước để gần người. Các bạn đoàn kết nhau lại, thương yêu lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, đó là luật Trời!

Lúc này, mọi người đang chịu sự xét mình, nếu ta chỉ nghĩ tới quyền lợi cá nhân, nếu ta chỉ tìm cách gieo rắc đau khổ, ta sẽ bị lôi kéo trong luồng thác ghê gớm mà kẻ ác sẽ tự phá hủy đời mình và làm nhơ nhớp tâm hồn mình.

Thực ra đạo Cao Đài, mệnh danh là Đại Đạo là một tôn giáo giản dị nhất.

Các tín đồ chỉ cần hàng ngày cầu nguyện ở ngay nhà mình hay ở một thánh thất.

Không có xưng tội. Số các chức sắc chỉ đủ để giảng đạo, để khuyên tín đồ

giữ lấy đức đúng như Đức Khổng Tử đã dạy.

Các tín đồ phái kính thánh thần là những bậc cứu nhân độ thế qua các thời đại. Chúa Jésus, Đức phật, Đức Khổng và các chư thần đều được khấn tới trong những buổi cầu kinh.

Các tín đồ theo nguyên tắc không được phép cầu đồng, như vậy để tránh sự lợi dụng thần quyền của những kẻ dựa vào đồng bóng.

Năm nguyên tắc căn bản của giáo lý Cao Đài

Giáo lý Cao Đài khuynh hướng liên kết các quan niệm tín ngưỡng để cho hợp với đủ mọi trình độ tin tưởng về thần học. Giáo lý này gồm năm nguyên tắc đã được xác nhận:

VỀ LUÂN LÝ:

Nhắc cho mọi người bổn phận đối với mình, với gia đình, với xã hội, một hình thức nới rộng và sau cùng đối với nhân loại, đại gia đình của con người.

VỀ TRIẾT LÝ:

Khuyên con người từ bỏ danh vọng, tiền tài và sự xa hoa, nói tóm lại, con người phải tự vượt những sự ham muốn vật chất để tìm sự bình thản cho linh hồn.

VỀ THỜ CÚNG:

Khuyên con người phải tôn thờ đấng chí Tôn, người cha của tất cả và phải thờ kính chư Tiên, Thần, Phật, Thánh, các vị này họp nên một hệ thống thiêng liêng mầu nhiệm. Con người có thể thờ cúng tổ tiên, nhưng không được cúng mặn và không dùng vàng mã.

VỀ TÂM LINH:

Xác nhận với các tôn giáo khác và với các triết lý duy tâm và duy linh sự

trường tồn của linh hồn. Linh hồn có thể biến chuyển và chịu sự luân hồi do ảnh hưởng của hành động con người lúc sinh kiếp.

VỀ THÔNG THẦN:

Truyền cho các tín đồ xứng đáng những sự khám phá và những sự hiểu biết khả dĩ làm cho con người đạt tới tĩnh tâm.

Những người theo Đạo

Cũng như các đạo khác, người theo đạo thường có nhiều hạng, thì đạo cao Đài phân những người theo đạo làm ba hạng:

CHỨC SẮC

Đây là những người tu hành theo sự khắc khổ của đạo, tự diệt dục và ăn trường chay, chịu mọi sự thiếu thốn, không được dùng rượu hoặc thuốc sái.

Những người chưa thì không thể lấy vợ, còn những ai đã lấy vợ rồi, không bị

bắt buộc bỏ vợ, nhưng người vợ từ đây chỉ là người bạn đường đời.

Chỉ những vị chức sắc mới được cầu đồng để xin cơ bút và chỉ trong những trường hợp thật là đặc biệt.

THỜI QUÂN

Đây là những vị, tuy không phải là những vị tu hành như hàng chức sắc nhưng cũng phải chịu uốn mình theo một vài sự khắc khổ và chịu làm một vài sự thiếu thốn. Những vị này là trung gian giữa thế giới của thần linh với con người. Chỉ những vị này mới được cầu đồng để xin cơ bút. Hàng ngày các vị theo sống cuộc đời của mình, làm công việc mình. Khi nào các vị chức sắc cần xin cơ bút thì các thời quân được mời để ngồi đồng, và chỉ được ngồi

đồng khi có hiện diện

của các vị chức sắc.

Cấm ngặt không được

cầu đồng ngoài trường

hợp trên.

Có mười hai vị, gọi

là Thập Nhị Thời quân.

TÍN ĐỒ

Tín đồ là đám dân

chúng theo đạo, không

phải chịu sự bó buộc

kham khổ nào ngoài sự

tuân theo những điều

luân lý căn bản của

đạo. Hàng ngày tín đồ

phải làm lễ trước bàn

thờ Đức Cao Đài hoặc ở

nhà mình, hoặc ở

Thánh Thất.

Gần đây các người

theo đạo Cao Đài phân

làm hai loại: thượng

thừa và hạ thừa.

Thượng thừa gồm tất cả những ai tu theo đạo chịu mọi sự khắc khổ của đạo, dù là chức sắc hay chỉ là tín đồ. Những bậc thượng thừa này phải để

râu, để tóc, ăn chay diệt dục và chỉ biết một điều là phụng sự đạo.

Hạ thừa gồm các tín đồ khác. Các tín đồ này cũng phải ăn chay một tháng mấy ngày, bắt đầu bằng những ngày sóc vọng, gọi là nhị chay. Có người ăn lục chay tức là một tháng ăn chay sáu ngày. Sau lục chay đến thập chay, một tháng ăn chay mười ngày.

Thề giới hữu hình và thế giới vô hình

Theo các tín đồ cũng như qua sách vở của Hội Thánh thì đạo Cao Đài có một tương lai cao rộng.

Đạo sẽ không phải chỉ bành trướng ở riêng Á Đông mà sẽ là một đạo chung của toàn thể vũ trụ. Đây là một đạo tổng hợp các đạo khác. Đạo Cao Đài không dạy người ta chỉ ở chú trọng về tín ngưỡng của mình, trái lại đạo cầu mong một sự hòa hợp của các tín ngưỡng và các giáo lý.

Đời đời vẫn có một đại đạo để đưa con người tới nơi sáng suốt cao cả, và ở mọi nơi đều có những đền miếu, nhà thờ để con người bé nhỏ có lối hướng về đấng Tối cao.

Chính vì muốn hướng về đấng Tối cao vô hình mà con người hữu hình đi đứng đầu hướng lên trời.

Đạo Cao Đài thành hình ở Việt Nam sẽ là một tôn giáo chung của nhân loại.

Vì đây là một tôn giáo có giáo lý vững vàng, nối liền mọi con người không những chỉ người sống mà thôi mà còn cho người sống nối tiếp với người chết của các thời đại đã qua để sửa soạn những cuộc luân hồi sẽ tới.

Người chết điều khiển người sống, và người chết vẫn sống.

Chỉ có một đấng Tối cao.

Trong vũ trụ chỉ có một đấng Tối cao, tuy có nhiều thần linh khác. Đấng Tối cao đây là nguyên cớ của các nguyên cớ, nguyên tắc của mọi sự hiển hiện. Đấng Tối cao được tôn thờ, kính trọng cầu nguyện ở khắp nơi, trên mọi danh từ khác nhau, nhưng người vẫn là người.

Người đã giáng xuống Việt Nam dưới danh hiệu Đức Cao Đài để truyền bá cho nhân loại một tôn giáo mới: tin theo tôn giáo này, người ta sẽ được thấy Người.

Cao Đài, đài cao nhất.

Cao Đài có nghĩa là chiếc Đài cao nhất, không mái và trên đó có đấng Tối cao mà loài người không có một danh từ nào để chỉ cho đúng.

Cao Đài thay tên cho Người. Đây là một trong nhiều tên của Người mà mỗi tên chỉ có thể có một bình diện, một hình thể vì Người vô cùng vô cực.

Chính bởi vậy nên đạo Cao Đài còn mệnh danh là Đại đạo Tam Kỳ phổ

Độ.

Đại đạo là con đường lớn.

Tam là ba. Tôn thờ ba lần đấng Tối cao duy nhất trong đức Cao Đài. Ba đấng Tối cao tức là ba ngôi: Thượng ngôi ở đức Phật, Trung ngôi ở đức Jésus và hạ ngôi là ngày nay ở đạo Cao Đài.

Kỳ là thời kỳ. Đấng Tối cao bất diệt. Hiện tại là thời kỳ của Người.

Đấng Cao Đài giáng hiện trong đệ tam thời kỳ của quá khứ, hiện tại và vị

lai.

Phổ là sự hy sinh, sự chịu đói, sự chờ đợi của điều gì sẽ tới, của điều gì đã tới. Chịu đói để chờ món ăn của trời, tức là lời của đấng Tối cao. Người tu đạo, triết gia ai cũng cầu mong sống bằng món ăn cao cả đó. Nhịn món ăn trần gian để rồi sẽ nhận món ăn thượng giới. Trong sự nhịn đó, người tu hành sẽ thấy đức Cao Đài.

Độ là sự giải thoát.

Và chính nhờ sự giải thoát này mà có sự phán đoán cao cả và sự bao dung.

Đức cao Đài dạy người ta biết bao dung và biết thương yêu.

NGŨ GIỚI

Những người tu đạo cũng như các tín đồ thượng thừa phải chịu theo năm điều cấm:

1/ Không sát sinh, vì sát sinh là làm mất nguồn sống của một sinh vật, đồng thời làm mất theo cả trung tâm lương tri của nó.

2/ Không biển lận để tránh sự sa ngã vào con đường vật chất bởi những ham muốn tư hữu và thống trị. Hiện nay xã hội đang ở trong tình trạng mà tất cả dường như đều thúc đẩy tính kiêu căng và lòng tham vọng.

3/ Không ham ăn ngon.

Kiêng ăn thịt, chỉ ăn chay.

Kiêng uống rượu, rượu có hại cho trí óc và tinh thần.

4/ Không bị lôi kéo bởi sự xa hoa

5/ Không nói những lời tội lỗi

Các Thánh Thất và Nghi lễ

Chúng ta đã hiểu biết sơ qua về nguồn gốc và triết lý đạo cao Đài, chúng ta cần tìm hiểu sự trang trí những thánh thất tức là những nơi thờ tự của đạo cao Đài và mọi nghi lễ về sự hành đạo.

Thánh thất và bàn thờ

Các thánh thất là những ngôi nhà ba mặt có tường, còn một mặt là lối ra vào có che bức mành mành. Những giờ lễ mành mành được kéo lên để lộ ra con Mắt Tối cao. Thánh thất phải xây làm sao để con Mắt ở về phương Bắc vì theo cơ bút thì tại Bạch Ngọc Kinh, ngai của đấng Tối cao ở về phương Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

Bắc, phương Đông ở mé trái, phương Tây ở mé phải.

Có bàn thờ bày các tự khí.

Trong những giờ lễ, có thắp một đôi nến, năm nén hương và có đốt trầm.

Tại các tư gia, bàn thờ đức Cao Đài có thể đặt trên lò sưởi. Nơi đây có bày biện đủ các tự khí để khi hành lễ thắp nến, thắp hương và đốt trầm.

Bàn thờ có thể thiết lập trên một chiếc bàn cao hơn các bàn khác ở trong nhà, kê sát vào tường gian giữa nhà.

Giờ lễ

Hàng ngày tín đồ Cao Đài hành lễ bốn lần vào 6 giờ sáng 12 giờ trưa 18 giờ

chiều 24 giờ đêm

Quỳ trước bàn thờ, tín đồ để hết tâm hồn hướng về đức Cao Đài, bắt đầu thắp hương rồi đọc kinh.

Đại ý lời kinh nói là Trước sự đau khổ vô biên của loài người, ánh dương quang sáng chói ở phương Đông.

Lão tử, đã giải thoát cho nhân loại.

Ba đạo hướng con người đến đức hạnh

Khổng giáo vạch đường Trung Dung.

Phật giáo khuyên người từ bi hỉ xả.

Lão giáo dạy sự trọng lẽ thật và kỷ luật của tính tình.

Như vậy một gốc đã có ba ngành khác nhau.

Người ta phải rõ điều trên, giữ tâm trong sạch để đọc thánh kinh.

Đọc kinh xong, người ta hát những thánh ca.

Lễ vật

Lễ vật cúng dâng trong những buổi hành lễ rất đơn sơ.

Sáng sớm và buổi chiều, cúng dâng nước trà, trưa và đêm thì dâng rượu lễ.

Nước trà đựng trong một tách nhỏ, đặt bên cạnh một tách khác đựng nước trong. Rượu lễ dâng trong ba chén con. Những tách chén này ngoài giờ lễ phải đậy kín.

Những ngày sóc vọng tức là mồng một và rằm âm lịch, cúng lễ bằng hoa quả.

Giữa bàn thờ, có ngọn đèn nhỏ thắp ngày đêm. Ngọn đèn tượng trưng cho lửa thần và nguồn sáng cao cả chiếu soi vũ trụ.

Trong lúc cầu kinh đọc thánh ca, hai ngọn nến được thắp thêm và có thắp

hương. Trong những lễ trọng mới có đốt trầm.

Ý nghĩa cách bày biện lễ vật

Sự bày biện lễ vật trên bàn thờ có một ý nghĩa riêng.

Như trên đã nói, con mắt Thần bao giờ cũng ở phía Bắc, do đó phía Đông là Dương còn phía Tây là Âm.

Trong Vụ Trụ, phải có âm dương mới có mọi mặt

1/ Hai ngọn nến tượng trưng cho Âm và Dương. Ngọn bên trái thuộc Dương phải thắp trước, ngọn bên phải thuộc Âm thắp sau.

2/ Năm cây hương tượng trưng ngũ quan của con người.

3/ Ba ly rượu lễ, rượu cất bằng Nho tượng trưng cho tướng tinh và huyết khí con người. Rượu lễ là cốt của cây nho, cũng như huyết khí là cốt của con người.

4/ Tách nước trong tượng trưng cho Dương phải đặt bên trái con Mắt, còn tách nước trà tượng trưng cho Âm đặt bên phải. Nước và trà này hòa lẫn thành nước Thánh, nước Âm Dương dùng cho người ốm trị bệnh và dùng làm phép cho người nhập đạo.

Hoa cũng là Dương, còn Quả là Âm.

Những cánh hoa đã cúng đem phơi khô pha nước chữa được bệnh cho ai thật lòng tin tưởng vào đức cao Đài.

Vũ trụ gồm Tam Tài là Thiên, Địa, Nhân.

Trên trời thì có Nhật, Nguyệt, Tinh.

Dưới đất thì có Thủy, Hỏa, phong.

Con người thì có Tinh, Khí, Thân.

Đồ lễ tượng trưng ba chất của con người: Hoa là Tinh, rượu lễ là Khí và nước trà là Thân.

Vài môn phái

Đạo Cao Đài thành lập từ năm 1926, đến nay bành trướng đã rộng.

Vì sự bành trướng này, nên gần đây đạo chia làm nhiều phái. Đáng kể hơn cả là mấy phái ở Tiền Giang do ông Nguyễn Văn Ca lãnh đạo và phái ở Bến Tre do ông Nguyễn Ngọc Tường lãnh đạo. Phái ở Tiền Giang là phái Minh Chơn Lý, còn phái ở Bến Tre là phái Bần Chỉnh Đạo.

Giáo lý đạo nào cũng có điều hay, nhưng một đạo có tồn tại được hay không phải chờ thời gian định đoạt.

Riêng về đạo Cao Đài, ta thấy rằng, trong một thời gian ngắn, đạo đã phổ

biến rộng trong quần chúng và hiện nay ở nhiều nơi có tín đồ không phải riêng gì ở Nam Bộ mà còn ở miền Trung và Cao Nguyên nữa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

• phan Kế Bính. - Việt Nam phong tục, Đông dương tạp chí, 1914-1915.

• Vũ Ngọc Liễn. - Moeurs et coutumes du Vietnam

• E.Tavernier. - La Famaille annamite

• phan phong Linh. - Thắng cảnh Việt Nam qua thi ca

•

Chu Ngọc Chi. - Thọ mai chi lễ

•

Nguyễn Bá Trạc. - Gia lễ giản yếu

• L.Cadière. - L’Annam, Croyances et Religions

• Huyên Mạc Đạo Nhân. - Tướng, mạng, mộng, bốc

•

Huyên Mạc Đạo Nhân. - Quan niệm quỷ thần theo Khổng giáo, VH.N.S số 19, tháng 2, 3-1957.

• Trần Tuấn Khải

(Á Nam). - Khổng Tử dưới con mắt các nhà tân học

Trung Quốc, VH.N.S. số 21, tháng 5-1957

• Hà Tấn phát (Viên tài). - Văn công, thọ mai gia lễ

• P.Huard et M.Durand. - Connaissances du VietNam

• Nguyễn Văn Huyên. - Les temps de la pure clarté et la convervation des tombes au pays d’Annam.

•

Đặng Văn Nhâm (Từ Quyên). - Khảo về kiến trúc Đình Việt Nam. -

Bách khoa số 24, tháng 1-1958.

• Trần Trọng Kim. - Việt Nam sử lược

• Trần Trọng Kim. - Nho giáo

• L.Bezacier. - L’art Viêtnamien

•

Trần Văn Tùng. - Việt Nam, les hommes “d’au delà du Sud”.

•

Trịnh Văn Thanh. - Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển, quyển I.

• Phan Phát Huôn. - Việt Nam giáo sử.

•

Nghiêm Thẩm. - Esquisse d’une étude sur les interdits chez les

Vietnamiens

•

Nguyễn Văn Khoan. - Essai sur le Đình et le culte des génies tulélaires des villages au TonKin.

• Nguyễn Văn Khoan. - Le repêchage de l’âme

• Nguyễn Hiến Lê. - Đại cương triết học Trung Quốc

• Huỳnh Hữu Hiên. - Đàn Nam giao Nguyệt san Lành

Mạnh, số 64, ngày 1-1-62.

•

Nam Giao. - collection des Amis du vieux Huế, Imp. Đắc Lập, 1942.

•

Paul Boudet. - Le Nam Giao, sacriffice au ciel et à la Terre, Indochine n0 83, 2-4-42.

•

Phạm Quỳnh. - Le Grand rite du Giao, Indochine n0 84, 16-4-42.

•

Nguyễn Khoa Toàn. - Le Nam Giao, sa signification mystique et culturelle, Indochine n0 84, 16-4-42.

•

A. De Rotalier. - Le Nam Giao 1942, Indochine n0 84, 16-4-42.

•

Louis Malleret. Quelques divinités du Panthéon boud- dhique, Indochine n0 13, 22-1-42.

•

Revue Horizon. - L’Agencement des Temples Boud- dhiques au VietNam, composition du Panthéon bouddhique

-

Ed.spéciale n0 18.

•

Lê Hùng phong. - Địa ngục dưới con mắt người phương Đông, Trung Bắc Chủ Nhật, số 78, ngày 14-9-1941.

•

Lê Văn Tất (Thần Liên). - Sự tích chùa Tây An núi Sam và mộ

phật Thầy.

•

Gabriel Gobron. - Histoire et philosophie du Caodaisme, Bouddhisme, rénové, Spiritisme, Vietnamien, religion nouvelle en Eurasie.

•

Lịch sử quan phủ Ngô Văn Chiêu, người sáng lập đạo Cao Đài.

•

Tuệ Giác. - Việt Nam phật giáo đấu tranh sử.

•

Nguyễn Văn Kiểm. - Tân Châu.

•

Dương Quảng Hàm. - Việt Nam văn học sử yếu.

•

Đức Hòa. - Vài nhận xét về các tượng thờ và cách bài trí trong các chùa Việt Nam, VHNS số 58, tháng 2-1961.

•

G.Coulet. - Cultes et Religions de l’Indochine Annamite.

•

Thạc Nhân. - Các vấn đề nghi lễ và phong tục xã hội

Việt Nam: Thừa kế hương hỏa, Xã Hội Nguyệt San, số 4 tháng 1-1966.

•

Nguyễn Mạnh Bảo. - Dịch kinh Tân khảo.

•

Nha Công Tác Xã Hội Miền Thượng. - phong tục đồng bào Thượng.

•

Thái Văn Kiểm. - Những nét đan thanh.

•

Lan Đình, phương Anh. - Lửa thiêng đạo màu.