Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Part 49
About this text. This text comes from a typeset edition that was digitised, so typing and scanning errors remain.
The full text is available in Vietnamese only.
Hai bên Trung đình còn có hai đáy hương án khác trên có đặt đồ lễ của dân làng hoặc của khách thập phương mang tới lễ thần.
Phía ngoài hai dãy hương án này là tả gian và hữu gian.
Đây là chỗ ngồi của những người ngôi thứ còn kém, tuổi chưa mấy cao và dân làng trong khi đình đám.
Nhà đại bái còn được gọi là nhà tiền tế, vì mọi việc tế lễ cử hành nơi đây.
Ngoài nhà đại bái là sân đình. Hai bên sân đình là tả mạc và hữu mạc, còn gọi là hay dãy muỗng hoặc gọi là nhà hành lang. các quan viên sửa soạn mũ
áo vào tế tại hai dãy muỗng này, và khi làng vào đám lớn, đây cũng dùng làm chỗ ngồi cho dân làng.
Ngoài cùng có cửa tam quan, làm cách tôn nghiêm rộng rãi, tường hoa cột trụ, xây đắp chung quanh. Hai bên vách tường, nhiều nơi đắp con rồng con cọp, hoặc vẽ hình đôi võ tướng cầm long đao, hoặc vẽ voi, vẽ ngựa, hoặc làm voi đá đứng đôi bên, trên đầu cột trụ thì xây đắp con sấu sành[10] .
ngoài tam quan, có nơi còn có thêm một sân đình thứ hai nữa gọi là sân ngoài.
HOÀNH PHI CẦU ĐỐI
Trong việc sự thần, làng nào cũng dùng hoành phi câu đối treo từ hậu
[10] Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục.
cùng trở ra nhà tiền tế. những hoành phi câu đối này, nói lên công trạng của đức Thành hoàng hoặc nhắc nhở tới lịch sử oai hùng của ngài. Hoàng phi treo trên mé trên bàn thờ thần, câu đối treo vào các cột đình. ngay hai cột trụ ngoài cửa tam quan bao giờ cũng có một đôi câu đối.
KHUNG ĐÌNH
Đình nhiều nơi làm rất rộng rãi đến năm bảy gian, có khi tám chín gian, cột lớn có sơn son vẽ rồng.
Cũng như nhà cửa, phần nhiều đình đền kiến trúc bằng gỗ và lợp ngói.
Việt Nam ta sở dĩ dùng gỗ vì rừng núi của ta có nhiều gỗ quí. Việc xây cất thời xưa chưa tiến được như ngày nay nên việc dùng gỗ tiện hơn việc xây dựng bằng vôi gạch.
Khung đình thường làm bằng các loại gỗ quí, bền chắc không mọt, không mối như gỗ đinh, gỗ lim, gỗ sến, gỗ gụ, gỗ táu v.v...
Khung đình được cấu tạo như bộ sườn nhà với những sự chạm trổ công phu, các cột được đặt trên các tảng đá để tránh sự ẩm thấp của đất có thể
làm hư hỏng chân cột. Những tảng đá này cũng được đẻo gọt tinh vi và đôi
khi trang trí bằng những hình rồng phượng.
Ngoài các cột bằng gỗ, cũng có nơi xây thêm cột đá để đỡ cái rầm nhà, kiểu cột đá này đã được phổ biến từ lâu ở bên Tàu, từ đời nhà Hán, và về sau những cột đá này ở bên ta đã hoàn thành cổ kính cách trang trí. Ví dụ như
làng Thổ Hà, những cột đá này đã không còn có công dụng kiến trúc nữa mà chỉ có tính cách trang hoàng thôi[11].
VÁCH ĐÌNH
Vách đình xây dựng hoặc làm bằng ván dựng.
phía trước mặt, bàn thờ trông thẳng ra là cửa, thường là cửa lùa hay cửa xếp.
Cửa chính này ở giữa, ít khi mở ra trừ ngày có dân làng cúng lễ hoặc hội hè. ngay hai bên cửa chính, có hai cửa nhỏ. những cửa nhỏ này mở trong ngày thường để dân làng hoặc khách thập phương ra vào lễ thánh.
Tả gian và hữu gian, về mé đằng trước cũng như ở hai bên đều có tường hoặc vách, duy ở về mé đằng trước có mỗi bên một cửa ra vào, và thêm một cửa sổ. Hai bên vách tả hữu cũng có mỗi bên một cửa sổ, nhưng không có cửa ra vào.
Mặt hậu cũng có tường và có vách. Trừ hậu cung thâm nghiêm được ngăn vách hẳn tại nhiều đình, như đình Kim làng Thị cầu, tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc), khi có sân hậu thì ở hai mé tả và hữu gian có hai cổng hậu ăn ra sân này.
Tường hậu không có cửa sổ.
cửa sổ tại các đình ít khi trổ vuông hoặc chữ nhật và có chấn song, thường là cửa sổ tròn, hình mặt nguyệt hay liên hoàn hay mang hình hoa, lá, mây, trái v.v...
MÁI ĐÌNH
Đình Việt nam thường làm rộng rãi, không có gác trông ở ngoài, vì lòng đình rộng, tưởng như mái đình rất thấp, nhưng khi vào trong đình, nhìn mới thấy cao.
Bốn đầu mái đình thường cong vút nhọn với những nét nhẹ nhàng thanh thoát nhưng cũng lại rất cầu kỳ với sự chạm trổ hoa, lá, mây hoặc chữ.
Sở dĩ những mái đình cong vút ở nơi đầu góc vì theo tục cần tránh ảnh hưởng xấu của những đường thẳng. Có khi những góc đình được xây như
một cành cây, hoặc cũng có khi chỉ như kiểu mái lều đóng cọc.
[11] Đặng Văn Nhâm - Khảo về Kiến trúc đình Việt Nam, Bách khoa số 24, tháng 1/1958.
Đình làm mái cong theo ảnh hưởng của Trung Hoa, tác giả khảo về kiến trúc đình Việt Nam cho rằng mái đình cong là do ảnh hưởng Anh-đô-nê-diêng.
... Căn cứ trên nhiều di tích khác nhau có khắc hình trên đá thờ ở thời nhà Hán thì những đầu mái Trung Hoa cổ xưa đều thẳng tắp. Ví dụ, những hình chạm nổi ở Long Mán trong tỉnh Hồ Nam đề thế kỷ thứ IV.
Đến đời nhà Đường phía Nam Trung Hoa mới bắt đầu xuất hiện mái cong và ảnh hưởng ấy lan dần lên miền Bắc nước Tàu.
Đến đời nhà Tống những mái cong đã rõ rệt lắm và phổ biến khắp Trung Hoa. Thời kỳ này, những họa phẩm của Trang Chu Tuân cũng có ghi.
Nhận xét trên rất đúng, nhưng dù sao thì những mái đình cong, tuy nguồn gốc Anh-đô-nê-diêng nhưng có lẽ đã xuất hiện ở Trung Hoa trước, rồi sau từ Trung Hoa mới truyền sang Việt Nam.
Mái đình thường lợp ngói, loại ngói bằng đặc biệt Việt Nam gọi là ngói mấu, vì có một mấu để móc vào rui mè. Cũng có nơi dùng ngói ống hoặc ngói máng. Ngói ống của người Trung Hoa, ngói máng của ta sáng chế bằng cách thay đổi hình thể ngói ống đem phối hợp với mấu của ta. Ngói máng còn gọi là ngói âm dương.
Thời pháp thuộc, những ngôi đình mới dựng hoặc sửa chữa lại, dùng cả
kiểu ngói mới của Pháp.
Lợp đình cũng như lợp các nơi thờ tự khác, đền miếu v.v... thường lợp hai lần ngói, một lượt ở dưới gọi là ngói chiếu có trang trí sơn phết, và một lượt ở trên gọi là ngói phủ. Lợp hai lần ngói, mái đình rất nặng và sự kiện này cốt để chống đỡ cuồng phong thường xảy ra và đã từng cuốn theo cả những mái nhà lợp nhẹ.
KIẾN TRÚC NHÀ SÀN
Đình làm theo kiểu nhà sàn, suốt từ đình trong cho tới đình ngoài, duy nơi tiền tế, chỗ cử hành tế lễ, trước bàn thờ là không có sàn và ở liền ngay ở
mặt đất. Nơi này ở hai bên đi lên tả gian và hữu gian có bực. Có lẽ vì lý do cung kính, khi tế lễ các quan viên phải đứng dưới thấp nên nơi tiền tế này không làm sàn.
Tam quan đình cũng không có sàn, và tại những ngôi đình có nhà hậu, nhà hậu cũng không làm sàn.
NHÀ HẬU
Không phải đình làng nào cũng có nhà hậu. Nhà hậu ở mé sau ngôi đình chính, sau hậu cung, cách hậu cung bởi một sân hậu.
Nhà hậu là nơi thờ Thổ công, bộ hạ của đức Thành hoàng và cũng là nơi thờ các người cúng hậu vào đình.
Đình Kim làng Thị Cầu - Bắc Ninh (Hà Bắc) có một nhà hậu rất rộng và một sân hậu to gần bằng sân trước.
Đền
Đền là một nơi thờ tự công cộng được dựng lên để kỷ niệm một anh quân, một vị anh hùng hoặc một vị thần nào đã có công với dân chúng.
Đền thường nhỏ hơn đình, nhưng kiến trúc cũng tương tự như kiến trức của những ngôi đình, nghĩa là cũng chia ra hậu cung và nhà đại bái.
Tại nhiều làng, ngoài vị Thành hoàng chính thờ tại đình, còn thờ các vị
thần khác tại các đền.
Tóm lại, đền cũng như đình là nơi thờ cúng phúc thần. Theo các cụ truyền lại, đền thường là chỗ quỉ thần an ngự còn đình chỉ là nơi thờ vọng, nghĩa là tại đình có bàn thờ, nhưng chỉ trong ngày tuần tiết, vị thần linh mới giáng lâm, còn trong ngày khác ngài lại về đền. Đây là nói những xã chỉ thờ một vị
phúc thần làm Thành hoàng, còn những xã ngoài đức Thành hoàng ra còn thờ thêm các vị thần khác, thì đối với mỗi vị thần phải có một ngôi đền riêng.
Tại đền không có chỗ rộng rãi để dân làng hội họp chỉ đủ nơi để hành lễ
trong những dịp tuần tiết sóc vọng.
Thường trong ngày kỵ, trong làng có mở hội thì dân làng bao giờ cũng tổ
chức rước thần từ đền tới đình.
Tại các nơi đô thị tổ chức thành phường phố, ít nơi còn giữ lại ngôi đình, thường chỉ có đền nên ngày hội kỷ niệm thần linh được tổ chức ngay tại đền.
chung quanh đền cũng như chung quanh đình thường có cây cao bóng mát, gồm các cây cổ thụ như đa, đề, si, sanh là những loại cây quanh năm xanh tốt.
Không kể ở các thành phố, tại nông thôn, đền thường được xây dựng cũng như đình ở những nơi cách biệt dân chúng.
cách xếp đặt tại một ngôi đền cũng tương tự như ở một ngôi đình. nội điện và nhà đại bái cũng sắp đặt như vậy với các đồ thờ đúng theo tục lệ.
nhà đại bái cũng chia làm trung đền, tả gian và hữu gian.
Trước đền cũng có một sân nhỏ và cũng có nhà tam quan.
Đền không xây lối nhà sàn như đình.
BẢN ĐỒ BÌNH DIỆN ĐỀN KIM LĂNG THỊ CẦU HUYỆN VÕ GIANG TỈNH BẮC
NINH (HÀ BẮC)
Miếu
Miếu cũng như đền là nơi quỷ thần an ngự.
Tỷ dụ: Miếu Trúc là nơi thờ Hồ Lân Hầu, phúc thần làng Thổ Tang, nhưng tại làng Thổ Tang cũng thờ Hồ Lân Hầu, nên trong ngày hội mở từ ngày 14
đến 23 tháng giêng tại làng này, dân làng có rước nghênh thần từ miếu Trúc về đình làng.
Hồ Lân Hầu là một Thượng đẳng thần, nguyên là tướng nhà Trần đã từng chống quân Minh.
KIẾN TRÚC MIẾU
Miếu nhỏ hơn đền, thường xây theo kiểu chữ nhật, với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài. Không có tả
gian và hữu gian, và cũng không có nhà hữu mạc. Sân miếu thường cũng không có, và như vậy lẽ tất nhiên không có nhà tam quan. cũng có một vài ngôi miếu lớn làm theo kiểu chữ đinh thì hai bên nhà tiền tế còn có tả gian và hữu gian, nhà tiền tế ngôi miếu ăn liền ngay với bên ngoài.
Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể ăn vị không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân chúng làm nhộn. Trong miếu cũng có tượng thần, hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ, với thần sắc hoặc bản sao.
Hai bên ngai cũng là hai chiếc tráp đựng y phục mũ mãng hài cốt của linh thần, cùng kim sách ghi thành tích.
Trước ngai là bàn thờ, gồm hương án bằng gỗ hoặc bằng gạch.
Trên hương án có bày những đồ tự khí như đài rượu, quả trầu, mâm bồng, đồ tam sự, ngũ sự v.v...
Ở miếu không có đồ nghi trượng loan giá, vì những tự khí này đều thờ tại đình làng. có thể có tàn tán, cờ quạt bày thờ hai bên bàn thờ.
Tại nhiều miếu, có các tín nữ mang cùng những nón hài, gươm giáo bằng giấy treo đằng trước bàn thờ gần giống như một điện thờ chư vị, cũng có nơi gọi miếu là nghè.
CÁC LOẠI MIẾU
Như trên đã nói, miếu là một ngôi đền nhỏ dựng lên để thờ thần, các phúc thần cũng như các vị thần khác. Miếu thờ vị thần nào thường được gọi rõ như miếu Hai cô ở Kim Liên, Hà NỘÌ, là nơi thờ hai trinh nữ linh thiêng, hoặc người ta gọi theo địa danh như miếu Trúc là miếu dựng lên ở Thôn Trúc, miếu Hát tại xã Hát Môn, Sơn Tây, nơi thờ Hai Bà Trưng.
Miếu thờ thần núi gọi là miếu Sơn thần. Tại miếu Sơn thần thường có thêm một ban nhỏ bên dưới hương án để thờ Ngũ Hổ thần hoặc thần Bạch Hổ.
Miếu thờ thần
sông gọi là miếu Hà
Bá.
Miếu thờ Thổ thần
tại lăng tẩm gọi là
miếu Hậu Thổ.
Có những miếu cô,
miếu cậu thờ những
năm nữ thanh niên
chết trẻ còn thanh
tịnh, gặp giờ linh đã
ra oai tác phúc cho
dân nên được lập
miếu thờ.
Miếu cô hồn còn
gọi là am chúng sinh
là miếu thường lập ở
gần bãi tha ma để thờ
cùng những cô hồn
uổng tử không ai
hương khói.
Trước mỗi ngôi miếu cũng như trước mỗi đền thờ thường có ba chữ đại tự nêu rõ tên miếu.
Linh Sơn tự, đền thờ thần Linh Sơn.
Thủy thần miếu, Sơn thần miếu v.v...
Hai bên cột miếu, nơi cửa ra vào, ta thường thấy có những đôi câu đối viết ngay lên cột hoặc đắp bằng vôi cát được tô lại bằng mực.
Trong miếu cũng có những hoành phi câu đối như ở đình hoặc ở đền nhưng thường ít hơn và cỡ cũng thu nhỏ hơn.
Đình, đền có thủ từ, nhưng miếu thì không.
Dân làng hoặc dân thôn xóm gần miếu cắt cử người hằng ngày đến miếu
đèn hương, nhưng không ai ở ngay miếu, trừ tại một vài ngôi miếu to, có chái đằng sau cho người ở, thì họa mới có người giữ miếu để trong nom đèn hương.
Trong những ngày sóc vọng, dân làng gần miếu kéo nhau mang lễ vật tới cúng bái.
Ban
Ban thường là một bàn thờ tại một ngôi miếu, một ngôi đền để thờ thêm một vị bộ hạ của vị chính thần thờ tại ngôi đền hay ngôi miếu đó.
Nhiều khi người ta cũng xây một ban nhỏ tại một nơi như chân núi, đầu làng để thờ một vị thần linh nào không được thờ tại đình đền miếu, vì không phải là bộ hạ của một vị chính thần.
Thường các ban này rất nhỏ, chỉ có một bệ thờ và mái lợp sơ sài mấy viên ngói, có khi không có cả mái nữa.
Miễu
Miễu là một ngôi miếu thờ những người bất đắc kỳ tử gặp giờ linh. những người này trước khi được thờ phụng, theo tục truyền, thường hiện hồn có những phép lạ chứng minh sự hiện diện với uy quyền của mình.
Được thờ phụng, những người này phù hộ cho dân chúng bình an và thịnh vượng.
Từ trên đã được kể các nơi thờ tự công cộng do dân chúng thiết lập nên để phụng thờ các vị thần linh. Sự phụng thờ này chính là sự thể hiện đạo thờ
thần tại Việt nam. Đạo này, xin nhắc lại không phải là đạo Lão, tuy với ảnh hưởng sai lầm trong đám bình dân, đạo Lão cũng có sự thờ phụng các vị
thần như Thái Thượng Lão Quân, Tề Thiên Đại Thánh...
Sở dĩ có sự lầm lẫn này là khi cúng lễ các thần linh người ta thường lấy lễ
nghi của đạo Lão trong đạo thờ thần.
NHỮNG NGƯỜI PHỤC DỊCH THẦN LINH
Tuy trong việc thờ phụng thần linh không có trung gian hành lễ, nhưng tại các đình, đền, miếu v.v... vẫn phải có người phục dịch thần linh, nhất là trong những ngày hội hè đình đám.
Thủ Từ
Thủ từ là người giữ đình, đền, miếu, am v.v... Tại mỗi nơi thờ tự này, làng thường cắt một thủ từ. Người này phải ngày đêm ở luôn luôn tại chỗ coi việc đèn hương, giữ gìn tự khí, sái tảo trong ngoài cho được sạch sẽ.
Người thủ từ phải chay tịnh không được gần đàn bà ở gần nơi thờ tự.
có xã, người thủ từ được phép đem vợ con đến ở một căn nhà dựng lên trên đất thuộc về nơi thờ tự, nhưng phải ở bên cạnh hoặc phía sau.
Người thủ từ được trồng trọt trên đất đai chung quanh nơi thờ tự và được hưởng hoa lợi.
Người thủ từ được làng cho miễn trừ sưu thuế tạp dịch.
Ngoài ra, lộc thánh do khách khứa đến lễ thần, người thủ từ cũng được hưởng một phần.
phải phân biệt người thủ từ với ông cai đám. người thủ từ lo việc giữ đền, còn ông cai đám có nhiệm vụ săn sóc việc lễ bái.
Cai đám
Cai đám là một vị quan viên được làng chọn bầu lên với nhiệm vụ sự thần và chủ tế trong các buổi tế lễ.
Muốn được làm cai đám rất khó khăn, có những điều kiện rất bó buộc.
Trước hết phải là người làng, tổ tiên đã ở đây ít nhất từ đời tam đại. Phải là người lành mạnh không tàn tật, và cũng không góa bụa. người có tang cũng không được dự vào chức cai đám.
Mỗi người làm cai đám trong một hoặc nhiều năm tùy theo tục làng. Suốt thời gian này, ông cai đám không được gần vợ, không được đi viếng đám ma và đi thăm người đẻ - những việc này bị coi như ô uế, kẻ hầu hạ thần linh bắt buộc phải tránh. Ông cai đám phải lo việc cúng tế thần, do đó không được cúng lễ tổ tiên mình ở nhà, việc cúng lễ này, ông phải trao cho một người khác trong gia đình suốt nhiệm kỳ cai đám để có thể lo tròn việc sự
thần.
Khi làng mở hội, ông cai đám phải luôn có mặt tại nơi thờ tự. Ông ăn ngủ
luôn tại nơi đây.
Có nhiều làng tục lệ ngặt nghèo, trong khi đảm nhiệm chức vụ cai đám, ông cai đám không được về ngủ nhà, và trong thời gian này, nếu vợ ông thụ
thai, dù vợ cả hay vợ thứ mấy ông sẽ phải chịu vạ làng và mất chức vụ cai đám.
Nếu một người đang làm cai đám, rủi có tang hoặc vì đau ốm trở nên tàn tật, người đó cũng bị mất chức và một ông quan viên khác sẽ thay thế.
Nếu vì một lý do tang chế, ông cai đám bị mất chức, khi mãn tang ông sẽ
được trở lại chức cũ.
Cai đám là một vị khả kính trọng trong dân xã. Ông là vị chủ tế trong các buổi lễ tế. những việc làng liên quan tới việc sự thần phải có ý kiến của ông, nhất là việc chi thu.
Có làng chỉ cắt một ông cai đám. có làng cắt nhiều ông đám, mỗi giáp cải một ông như làng Thị cầu, làng Kim Đôi huyện Võ Giàng tỉnh Bắc ninh (Hà Bắc). Trong số các ông đám được cắt ra sẽ có một ông được cử làm cai đám, còn gọi là ông đám nhất.
Quan viên và Lềnh
Trong làng xã, đàn ông từ thập bát trở lên chia ra làm nhiều hạng tùy theo tuổi và cũng tùy theo chức vụ đã từng giữ trong làng, có khi tùy theo sự tín nhiệm của dân làng giao phó những trách nhiệm phụ trách trong việc sự
thần. các hạng có chỗ ngồi riêng tại đình làng, và chia từng bàn. Trên cùng là các bàn thượng, chỗ ngồi của các bô lão đã từng khao thượng thọ. Bàn thượng tùy theo số bô lão, nhưng thường chỉ có một bàn gồm bốn cụ nhiều tuổi nhất trong xã. Đối với những xã to, có thể có được hai ba bàn thượng, ít nhất niên kỷ phải từ 70 tuổi trở lên.
Dưới bàn thượng là bàn nhất, chỗ ngồi của các quan viên.
Quan viên là những người được dân làng cử ra để lo việc phụng thờ thần linh. Quan viên phải phụ trách cúng tế, lễ bái trong những ngày sóc vọng hay hội hề. Mọi việc trong làng liên quan tới cúng tế phải do các quan viên bàn định. Ông cai đám hay đám nhất đứng đầu hàng quan viên.
Làng có nhiều giáp, mỗi giáp cử một số quan viên nhất định, có khi tùy theo nhân số, có khi số quan viên phân chia đồng đều cho mỗi giáp không kể giáp to giáp nhỏ, giáp nhiều xuất đinh, giáp ít xuất đinh. có thể mỗi giáp có một quan viên được tôn là ông đám, và trong trường hợp này, ông cai đám đứng đầu hàng các ông đám và quan viên, được gọi là ông đám nhất, như trên đã nói.
Các quan viên, vì đã có nhiệm vụ lo việc sự thần nên được các quyền lợi trong dân xã cũng như các cụ trên bàn thượng.
Số quan viên của mỗi xã thường là 12 người. Trong những buổi tế lễ, ông đám nhất giữ việc chủ tế, còn các ông đám khác và quan viên phải chia nhau các chức vụ bôi tế, xướng tế, chấp sự v.v...
Tại các tư gia, các thôn xóm, khi có tế lễ cũng thường phải nhờ tới các quan viên.
Dưới các quan viên là các ông lềnh, cũng do dân chúng các giáp bầu ra, thường mỗi làng có sáu ông lềnh, có nơi còn gọi các ông lềnh là các ông mãi biện. Nhiệm vụ của các ông lềnh là phải mua đồ lễ trong những ngày tuần tiết sóc vọng, hội hề. các ông phải trù liệu hết mọi khoản liên quan tới cúng tế theo như sự bàn định của các quan viên. Thường các ông lềnh phải ứng tiền trước và có khi hết hội hè mới thu lại được do tiền của dân làng đóng góp.
Trong những ngày hội hè cúng lễ, các quan viên và lềnh bắt buộc phải có mặt tại đình. nếu vì lý do đau ốm hay tang chế không tới đình được, phải nhờ các ông quan viên hoặc lềnh khác lo việc thay mình và trả một món lệ
phí.
Tự điền, Tự trạch
Mỗi làng thường có một số ruộng riêng mấy mẫu lấy hoa lợi dùng trong việc cúng lễ thần linh. những ruộng này gọi là tự điền.
cũng có làng dành riêng về việc cúng lễ một số ao, đầm, hồ gọi là tự trạch.
Hằng năm ngư lợi những tự trạch dùng vào việc tế tự thờ thần.
Hoa lợi và ngư lợi nếu không đủ, dân làng phải cùng nhau đóng góp hoặc trích công quỹ để lo việc cúng lễ.
Bia hạ Mã
Việc thờ thần cốt ở sự tôn trọng. Đi qua trước nơi thờ tự ai cũng phải giữ
dáng điệu cung kính. người đi ngựa cũng phải xuống, người đội nón, đội mũ
phải ngã mũ nghiêng nón.
Để nhắc nhở mọi người giữ sự cung kính với thần linh, tại hai đầu, khi sắp tới một nơi thờ tự thường có một tấm bia đá ghi hai chữ “hạ mã” nghĩa là xuống ngựa. Bia này dựng cách dinh đền vào khoảng mười thước khi tới đỉnh đền, ở bên đường về mé đình đền.
SỰ THẦN
Trong việc thờ thần, cúng lễ là điều quan trọng, không có cúng lễ không có sự phụng thờ.
Việc cúng lễ tại các đình đều thường thực hiện quanh năm dưới hình thức thắp hương đèn mỗi buổi chiều tại các bàn thờ. có nơi, hương đèn liên tiếp thắp suốt ngày đêm.
Ông cai đám chịu trách nhiệm việc hương đèn, nhưng người thực sự phụ
trách trầu nước cũng như dầu đèn và thắp hương là ông chủ từ.
Hương phải thắp tại khắp các bình hương trên các bàn thờ từ trong nội điện ra ngoài đình trung. Mội điện là nơi cung cấm không ai được lui tới ngoại trừ ông cai đám và ông thủ từ.
Ngoài việc hương đèn quanh năm, còn việc cúng lễ trong những ngày nhất định.
Đó là những ngày lễ sóc vào mồng một đầu tháng, lễ vọng vào ngày rằm mỗi tháng và những ngày tiết lạp bốn mùa:
Lễ khai hạ, ngày mùng bảy tháng giêng; ngày này còn là ngày lễ khai ấn, ấn dấu của thần linh bắt đầu khai dụng trong dịp năm mới.
Lễ Thượng nguyên, ngày rằm tháng Giêng.
Xuân tế, ngày đinh đầu tháng Hai.
Lễ Kỳ An, vào dịp cuối xuân đầu hạ.
Tết Hàn Thực ngày mồng ba tháng Ba.
Tết Thanh Minh, 15 ngày sau ngày xuân phân.
Lễ Hạ Điền, vào dịp cấy lúa.
Tết Đoan ngọ, ngày mồng năm tháng năm. Tết Trung nguyên, ngày rằm tháng Bảy.
Thu Tế, ngày đinh đầu tháng Tám.
Lễ Thượng Điền, vào dịp lúa đã cấy xong và đã bắt đầu trổ đòng đòng.
Tết Trung Thu, ngày rằm tháng Tám.
Lễ Thường Tân, còn gọi là lễ cơm mới, vào tháng chín.
Lễ Trùng cửu, ngày mồng chín tháng chín.
Lễ Trùng Thập, ngày mồng mười tháng Mười.
Lạp Tiết, ngày mồng hai tháng chạp.
Tết Táo Quân, ngày hai mươi ba tháng chạp.
Những ngày lễ tiết trên, tuy có cúng lễ, nhưng thường không có tế, trìu Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
ba ngày Xuân tế, Thu tế và Lạp tiết.
Việc cúng tế quan trọng nhất trong năm là ngày nhập tịch của dân làng, tức là ngày làng vào đám. năm bảy năm làng lại mở đại hội một lần, việc cúng tế lại càng long trọng hơn.
Làng thường vào đám nhân dịp mùa xuân hoặc mùa thu, nhưng cũng nhiều làng làm lễ nhập tịch nhân ngày thần kỵ hoặc ngày thần đản, nghĩa là ngày giỗ hay ngày sinh nhật của thần.
Trong những ngày tuần tiết hội hè trên, dân làng đều có dự lễ cúng thần.
những người tới lễ hoặc có mang đồ lễ riêng, có khi là lễ mặn có khi là lễ
chay, nhưng bao giờ cũng có hoa quả trầu rượu vàng hương, hoặc có người không tiện mang đồ lễ, cúng một số tiền để dùng trong việc dầu đèn tại nơi thờ tự.
Dân làng khi có việc tại gia đình đều có lễ tới đình hoặc đền làng, việc vui mừng cũng như việc tang chế để cầu khẩn với thần linh:
* Sinh con cái,
* cưới xin,
* Ma chay,
* Khao vọng v.v...
có thể nói rằng, mỗi biến cố quan trọng xảy ra tại gia đình, khi có lễ cáo gia tiên thì gia chủ cũng sửa lễ cúng thần linh tại làng, trước là để trình báo biến cố sau là để cầu xin sự phù hộ của ngài.
Những ngày Thần húy và Thầng đản
Ngày thần húy tức là hóa nhật của thần, còn gọi là ngày thần kỵ, nôm na là ngày giỗ của thần, còn ngày thần đản tức là ngày sinh của tôn thần.
Trong những ngày này tại đình làng có cúng lễ, và cũng có khi làng mở
hội có tế, có rước xách linh đình.
Cúng tế lễ bái
Cúng tế cốt để tỏ lòng thành kính đối với những người đã khuất cũng như
đối với thần thánh Trời phật.
Theo Đào Văn Tập thì cúng nghĩa là dâng lễ vật lên thần thánh tổ tiên, còn tế nghĩa là cúng lễ theo nghi thức long trọng.
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển thì cúng nghĩa là cung kính, còn tế nghĩa là cúng Thần phật hoặc tổ tiên.
Qua mấy định nghĩa trên của hai học giả Đào Duy Anh và Đào Văn Tập thì cùng là dâng lễ vật là để tỏ lòng cung kính, còn tế là cúng một cách long trọng hơn.
Định nghĩa như vậy có thể cho là đúng được, nhưng có điều mà hai nhà học giả đều không để ý tới là trong buổi tế bao giờ cũng có âm nhạc để lễ
cúng được long trọng hơn, còn trong buổi cúng có thể có chiêng trống và âm nhạc hoặc không.
Vậy cúng có thể định nghĩa theo “Tự Điển Việt nam phổ thông” của Đào Văn Tập cúng là dâng lễ vật lên thần thánh tổ tiên nhưng ta cần thêm vào định nghĩa này sau hai chữ tổ tiên hai chữ Trời, phật nữa và cũng nên thêm cúng có thể có hoặc không có âm nhạc.
Tế ta phải căn cứ vào âm nhạc mà định nghĩa:
Tế: cúng lễ theo nghi thức long trọng, có âm nhạc.
còn lễ bái tức là vái lạy cung kính khi đứng trước một bàn thờ hoặc các người trên.
Để tìm hiểu tín ngưỡng của dân ta, nhất là sự thờ phụng tổ tiên thần thánh, tưởng không thể không tìm hiểu kỹ lưỡng việc cúng tế.
CÚNG
Ta cúng tổ tiên, thánh thần, Trời phật, nhưng cần phân biệt sự cúng giỗ
với cúng lễ sóc vọng và tiết lạp.
Cúng giỗ thì cúng trong ngày kỷ niệm người chết tức là trong ngày giỗ; lễ sóc vọng và tiết lạp cúng vào những ngày tuần rằm, mồng một, cùng những ngày tiết lễ quanh năm.
Lễ Sóc vọng
Như trên đã nói ngày mồng một là ngày sóc, ngày rằm là ngày vọng.
Trong những ngày này tại các gia đình, người ta có sửa lễ cúng Tổ tiên, Thổ công, Thánh sư, Tiền chủ, Thần tài... tại những bàn thờ gia đình.
Có thể cúng mặn, trừ cúng phật, hoặc chỉ cúng hương hoa trầu rượu.
Tại chùa có cúng phật, dân làng tới chùa lễ phật với đồ lễ gồm hương hoa, oản chuối...
Riêng ở miếu đền và đình, dân làng sửa lễ oản chuối, trầu rượu hoặc lễ
mặn lễ thần.
Cúng lễ Thần linh
Việc cúng lễ thần linh khác việc cúng lễ gia tiên tại các từ đường.
Trong những ngày sóc vọng hoặc tiết lễ thường, ông chủ lễ thường là ông cai đám, sau khi đặt đồ lễ lên bàn thờ phải thắp hương đèn, rồi lễ nghênh thần bốn lễ.
Lễ xong, ông cai đám quỳ trước bàn thờ, hai tay chấp ngang trán, trong lúc đó, một ông đám hoặc quan viên rót rượu vào ba chiếc chén đặt trên đài, đồng thời một vị quan viên khác đọc sớ khấu.
Sớ đọc xong, rượu rót lần thứ hai cũng vào ba chén trên. Ông chủ lễ đứng lên lễ thêm hai lễ.
Rượu lại rót thêm lần thứ ba. Lần này ông chủ lễ lễ tạ bốn lễ.
Sớ được đem hóa.
Ông chủ lễ lui ra. Lúc đó các quan viên khác, các ông lềnh và dân làng lần lượt vào lễ mỗi người bốn lễ ba vái.
Trong khi ông chủ lễ đang làm lễ cũng như trong khi các quan viên và dân làng vào lễ, luôn luôn có nổi chiêng trống cho đến khi xong lễ. cũng có làng có cả phường bát âm cử nhạc trong buổi lễ.
Như trên đã nói, chủ lễ thường là ông cai đám, nhưng có thể vì lý do gì ông cai đám không làm chủ lễ được, một ông quan viên khác sẽ thay thế.