Ý nghĩa các đồ thờPhần 43

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Qua sự trần thiết các bàn thờ đã trình bày, mỗi tự khí đều mang một ý nghĩa riêng người xưa đã đặt cho.

Cái tam sơn tượng trưng cho Tam giáo.

Cái lư hương tròn tượng trưng cho bàn Thái cực.

Hương được thắp lên tượng trưng các vị tinh tú Đôi đèn tượng trưng nhật nguyệt quang minh Lọ hoa, thường là lọ hoa lục bình tượng trưng cho cái tâm không, tức là lục căn thanh tịnh

Khi cúng, lễ bái là tỏ lòng thành kính và bớt lòng ngã mạn kiêu căng.

KẾT LUẬN

Người Việt Nam thờ phụng tổ tiên chính là hiếu, và vì sự biết ơn các bậc sinh ra mình, nuôi nấng và tác thành cho mình.

nước Việt nam đã trải qua bao cuộc hưng vong phế chuyển, việc thờ

phụng tổ tiên vẫn tồn tại.

người Việt nam tuy có theo tôn giáo, nhưng vẫn không bao giờ vì tôn giáo mà bỏ các đấng sinh thành ra mình, nghĩa là bỏ tổ tiên được.

cụ Đồ chiểu khi nhắc tới sự thờ phụng tổ tiên có mấy câu thơ sau: Dầu đui mà giữ đạo nhà,

Còn hon sáng mắt ông cha không thờ!

Dầu đui mà khỏi danh nho,

Còn hon sáng mắt ăn do tanh rình!

THỪA KẾ HƯƠNG HỎA

Hương hỏa là việc thờ cúng cha mẹ, ông bà tổ tiên ở trong gia đình hoặc đại gia tộc. Việc thờ cúng này rất quan trọng và rất phổ biến trong xã hội Việt Nam. Nó vừa có tính cách phong tục, nhưng cũng vừa có tính cách bổn phận con cháu đối với ông bà, tổ tiên, nhất là bậc con cái đối với cha mẹ.

Vấn đề này được bắt nguồn từ quan niệm có linh hồn, chết không phải là hết, mà có nghĩa là đi sang thế giới khác tức là âm phủ, ở đó cũng có mọi sự

sinh hoạt như ở thế gian. Các nhà tôn giáo thì lại cho đó là địa ngục, một thế

giới giam cầm kiềm tỏa. Vì thế họ chủ trương giải thoát khỏi vòng tù tội đó để đi đến một thế giới siêu nhiên và lý tưởng khác là thiên đường hay niết bàn.

Kết hợp với quan niệm và nhìn nhận và vũ trụ đồng nhất thể, âm dương có sự liên hệ mật thiết giữa linh hồn người chết cũng như mọi sự sinh hoạt của họ đều tương quan với người sống. Người chết có thể che chở giúp đỡ

cho người sống về mọi mặt. Do đó sự tôn kính thờ phụng càng được phát triển mạnh mẽ và phổ quát hơn.

Lẽ khác, với quan điểm nhân nghĩa của nho giáo, với thuyết nhân quả của đạo phật càng kết hợp mật thiết và thịnh hành. Theo các quan niệm và lý thuyết này thì mình ăn ở hiếu thảo với cha mẹ thì ngày sau con cái của mình cũng ăn ở hiếu thảo với mình như vậy: ngược lại đối đãi với cha mẹ mà mình bội bạc thì ngày sau con cái cũng bội bạc với mình. Hoặc giả hiện tại mình làm những điều lành thì về sau con cái được mọi sự tốt đẹp (âm đức). ngược lại ăn ở ác bạc thì về sau con cái suy đồi, hư hại. Hơn nữa, kiếp này mình lo tu thân tích đức, ăn ở hiền lành thì kiếp sau sẽ gặt được kiếp sống an nhàn, đẹp đẽ. Trái lại, hiện tại nếu như mình ăn ở độc ác thì kiếp sau sẽ bị đày ải khổ cực (nhân quả). Do đó sự thờ cúng ông bà cha mẹ tổ tiên lại càng được nghiêm trang và thận trọng.

Từ quan niệm có linh hồn, vũ trụ có âm dương đến quan niệm nhân nghĩa, luân lý đạo đức nho giáo, thêm vào đó thuyết nhân quả của đạo phật và thuyết tự nhiên (thần tiên) của Lão Trang, đã kết hợp và dung hòa với phong tục địa phương tạo nên những con người đạo đức, những con người thành tâm và một xã hội có nền luân lý nhân nghĩa bền vững và đẹp đẽ những hơn ngày năm nay. Tuy nhiên có những buổi thăng trầm bởi hoàn cảnh và biến cố lịch sử, nhưng làng mạc Việt nam, cái cơ sở vững chắc cho xã hội Việt nam vẫn tồn tại với nếp sống luân thường đạo đức. Bởi những lý do đó cho nên vấn đề hương hỏa, thờ cúng ông bà cha mẹ tổ tiên cũng như các việc tế tự

khác đối với người Việt nam là một vấn đề trọng đại...

Hương hỏa là vấn đề cung phụng, hương khói, tế tự, tổ tiên ông bà. Thiết lập hương hỏa tức là công việc của cha mẹ sắp chết, về già đặt để gia sản của cải lại cho con cái lo việc cung phụng tế tự cho mình; hoặc giả là do con cái hội họp lại để tự đặt để di sản của cha mẹ là hương hỏa cho cha mẹ, cho ông bà tổ tiên. Mục đích đó là để bảo vệ thờ cúng.

Bởi đó mà có sự thừa kế hương hỏa, tức là người sau nối tiếp người trước.

Tuy nhiên sự thừa kế có hai thứ:

1/ Thừa kế tôn thống: một mặt là kế tự, thờ phụng tổ tiên, mặt khác là lưu truyền huyết thống, di hậu con cháu.

2/ Thừa kế di sản: tức là thừa hưởng tài sản của ông bà cha mẹ để lại.

Về việc kế thừa di sản, - vì cái lý rằng con gái không kế thừa tôn thống, không phải giữ việc tế tự tổ tiên lâu đời, - cho nên việc kế thừa di sản cũng do người con trai làm chủ. Hơn nữa việc kế thừa tôn thống là do người con trai dòng đích, vì thế mà việc kế thừa di sản cũng do người ấy quản nhận, mà mọi người con trai thứ cũng như các bà con gái không có quyền đòi hỏi, nhất là ở những gia đình định trước, có chúc thư của cha mẹ để lại. Đặc biệt luân lý Khổng Mạnh xưa cũng đã đào tạo ra những lớp người như vậy, - Thừa lệnh cha, vâng lời anh, lấy tổ tiên làm trọng, - Các bà con gái cũng vậy, trong nhà thì phải vâng lệnh cha, nghe lời mẹ, anh, đi lấy chồng thì nghe lời chồng, tạo dựng cho gia đình chồng. nghĩa là đã nhận lãnh bổn phận như thế, cho nên ít xảy ra những vụ tranh chấp; nhất là những gia đình chịu nhiều ảnh hưởng giáo dục và luân lý Khổng Mạnh. Khi mà đã xảy ra nhiều vụ tranh chấp, chính khi đó pháp luật ra đời và bởi đó là luân lý Khổng Mạnh bắt đầu sa sút.

Nhưng thường tình, các gia đình giàu có thì ngoài phần hương hỏa, biệt hứa cho con trưởng, di sản cũng đem chia cho con trai con gái, có khi sai biệt tùy theo hoàn cảnh từng đứa con và sự phân định của cha mẹ. phần nhiều sau khi cha mẹ chết, nếu ở trong những gia đình giàu có thì ngoài những phần con trưởng định biệt hứa hương hỏa, kỵ điền, còn lại thì con cái có thể

quân phân thừa hưởng không phân biệt trai gái. Có gia đình để lại tài sản lớn và con cháu lại đông, có thể chia cho lớp sau nữa, từng trai gái, thứ

trưởng, nội ngoại mà sai biệt nhau chút ít.

Trường hợp mà ở những gia đình mà người cha chết trước thì của cải di sản, hoặc phân chia cho từng người con đã ở riêng, hoặc con cái còn nhỏ thì lập di chúc, tất cả mọi quyền phân chia đó người quả phụ hoặc người huynh trưởng nắm giữ. Bởi vậy cũng có gia đình thiếu tính cách giáo dục, hoặc bởi những ông huynh trưởng tham lam thì di sản của cha mẹ để lại có thể trong sự phân chia thiếu cách công bằng, hoặc người huynh trưởng nắm giữ. Tiếp theo, trừ ra phần di sản thì cha mẹ có quyền chia cho người ngoài, nhưng trường hợp này rất ít. nếu trường hợp cha mẹ đã chết mà chưa chia gia sản hoặc cũng không có di chúc, thì trong lúc còn lo việc tang chế cha mẹ, con cái không được đem chia gia tài, phải chờ mãn tang. Vấn đề này có tính pháp lý, nhưng thực sự nó đã thành phong tục tập quán đã lâu đời. Trong lúc chia của thì cái nhà người cha ở thường để cho người con trưởng ở, chỉ chia tài sản ruộng vườn và các nhà cửa khác.

Ở những trường hợp không có người đủ tư cách thừa hưởng thì nhà nước sung công, nhưng nhà nước chỉ lấy bảy phần, còn ba phần giao cho một người, một đoàn thể hay một cơ quan nào để làm phí tổn trong việc tế tự

chủ nhân. Theo lệ thường thì phần ấy thuộc quyền sở hữu của làng: một nửa bỏ vào của công, một nửa làm hậu đình hay hậu tự cho người vô tự ấy.

Riêng về phần hương hỏa, di sản ấy không ai được chia, cũng không ai được bán, mục đích là để bảo vệ sự thờ cúng tế tự tổ tiên.

Phần di sản ấy là của chung cả họ, người tộc trưởng chỉ được giữ và hưởng hoa lợi, chớ không có quyền sở hữu làm tư sản. nhưng trong những trường hợp nếu hội đồng gia tộc thuận tình thì của hương hỏa có thể đổi ra của thường để bán mà làm công việc của họ như sửa từ đường. Trường hợp khác, nếu trong họ không có ai là đàn ông nữa thì di sản hương hỏa cũng thành của thường.