Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Phần 57
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Cũng có khi lại không phải là Tứ vị Thiên Vương mà là bốn vị bồ tát, tạc hình thiên thần:
Ái Bồ Tát, tay cầm cái tên,
Sách Bồ Tát, tay cầm cái dây,
Ngữ Bồ Tát, tay cầm cái lưỡi,
Quyên Bồ Tát, tay nắm lại và để vào ngực.
Cũng có chùa, ngoài bốn vị bồ tát, còn thờ thêm Bát Bộ Kim cương là những thần tướng trên trời đã quy y Tam bảo và phát nguyện hộ trì phật pháp.
Thanh trừ tai kim cương
Tích độc thần kim cương
Hoàng tùy cầu kim cương
Bạch tỉnh thủy kim cương
Xích thanh hỏa kim cương
Định trừ tai kim cương
Tử hiền kim cương
Đại thần lực kim cương
Cũng có chùa tại lớp thứ tư này lại thờ tượng Tuyết Sơn, tức là tượng đức Thích ca khi tu khổ hạnh ở trong núi Tuyết Sơn, thuộc dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn. Tượng Tuyết Sơn quần áo chỉnh tề, hình dáng gầy còm, và thường được gọi là ông Nhịn ăn mà mặc, đối với tượng Di Lạc ở lớp thứ ba được gọi là ông Nhịn mặc mà ăn.
Cũng có chùa, cách bài trí hơi khác, có năm lớp thay vì bốn lớp:
-
Ở lớp thứ ba thờ tượng Di Lạc.
-
Ở lớp thứ tư thờ đức Thiên phủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm, tức là tượng Quan Thế Âm tạc nhiều tay, còn gọi là đức chuẩn Đề Quan Âm. Thiên thủ, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
thiên nhãn nghĩa là nghìn tay, nghìn mắt. các phật giáo đồ có ý ca tụng đức Quan Âm là thần thông diệu lực vô biên, việc gì cũng thấu suốt. Thường thường tượng được tạc với 4, 8, 12, 24 hoặc 100 tay.
-
Ở lớp thứ năm mới thờ tượng cửu Long.
Lại cũng có chùa bỏ hai tượng Đế Thích và Đại phạm Thiên Vương để thay vào ba pho thần tượng thuộc về Lão
giáo: Ngọc Hoàng Thượng Đế ở giữa và hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu.
Tại nhiều chùa cũng còn một cách bài trí khác:
Ở hai góc trong cùng, bên cạnh chính điện, có hai pho tượng bồ tát:
-
Hoặc một bên đức Văn Thù, một bên đức Phổ Hiền.
-
Hoặc một bên đức Quan Thế Âm, một bên đức Đại Thế chí.
Có khi lại thờ một bên đức Địa Tạng, vị bồ tát giáo hóa chúng sinh nơi địa ngục, một bên đức Ông, còn gọi là đức chúa hay Thổ thần.
Hoặc cũng có khi một bên là đức Phật bà Diệu Thiên, một bên là đức Quan Âm Tọa Sơn hay đức Quan Âm Tống Từ.
Tượng đức Phật bà Diệu Thiện một tay cầm bình nước cam lộ và một tay cầm cành Dương Liễu. Nước cam lộ rửa sạch phiền não, còn cành dương liễu tận độ chúng sinh. Ngài chỉ đúng cành dương liễu vào nước cam lộ, rẩy nước tới đâu là thanh tịnh tới đó.
Tượng đức Quan Âm tạo sơn tạc hình một người đàn bà ngồi trên núi đá.
Tượng Quan Âm tống từ là tượng bà Thị Kính bế một đứa trẻ. Tượng tạc theo điển tích bà Thị Kính, người nước Đại Hàn, lấy chồng là Thiện Sĩ; bị
chồng nghi oan bà cải nam trang cắt tóc đi tu, pháp danh là tiểu Kính Tâm lại bị Thị Mầu vu khống đổ oan cho là đã có thai với bà và bắt bà phải nuôi đứa con thị sinh ra. Về sau bà thành Phật. Tượng bà do đó bế một đứa trẻ, bên cạnh có con vẹt đậu, con vẹt là hậu thân của Thiện Sĩ.
Cách bài trí chính điện một ngôi chùa theo phái Đại thừa vừa xếp đặt như
trên, có đôi sự thay đổi nhỏ ở từng ngôi chùa, nhưng bao giờ hai lớp trên cùng cũng không có sự sai nhau, nghĩa là lớp thứ nhất bao giờ cũng có tượng Tam thế và lớp thứ hai có tượng Di Đà tam tôn.
Nhà bái đường
Mặt trước nơi chính điện thờ phật là nhà bái đường. Đây là chỗ các tăng ni ngồi tụng kinh, các tín đồ tới lễ Phật.
Tại nhà bái đường, cũng có các tượng và các bàn thờ.
Tượng và Hộ Pháp
Tại hai bên tả hữu bái đường, liền với điện thờ phật, có hai pho tượng rất lớn, tạc hình võ tướng, mặc áo giáp đội mũ trụ, trông có vẻ uy phong lẫm liệt, hoặc đứng thẳng hoặc cưỡi trên hai con sấu: đó là hai vị hộ pháp, một bên là ông Khuyến Thiện và một bên là ông Trừng Ác. Ta thường gọi tắt là ông Thiện và ông Ác.
Ở những ngôi chùa thật cổ, chỉ có một ông hộ pháp: đó là Tam châu hộ
pháp. chính là Vi Đà thiên tướng quân, một vị thiên tướng quân tuân sắc chỉ
của nhà phật pháp trong ba châu: Đông châu, Tây châu và Nam châu.
Thổ thần hoặc Đức ông
Thổ thần tại chùa cũng như Thổ công tại tư gia, có nhiệm vụ coi giữ đất của nhà chùa cùng với tài sản hoa lợi.
Thường bàn thờ Thổ thần ở phía bên trái nhà bái đường. Tượng Thổ thần mặt đỏ, coi rất uy nghiêm. các tín đồ đi lễ thường gọi là Đức Ông hay đức chúa. Có một đôi chùa tạc tượng đức ông là một ông già, đầu tóc bạc phơ, vẻ mặt phúc hậu nhân từ.
Long thần
Cạnh bàn thờ đức Ông có bàn thờ Long thần. Đây là một vị Long Vương đã quy y phép phật.
Thánh Tăng
Bên hữu nhà bái đường có bàn thờ Thánh Tăng, một vị đại đệ tử của Đức phật Thích ca Như Lai, thường ở nước ta là A Nan Đà tôn giả.
Thập điện
Thường ở những chùa lớn, ở hai bên vách nhà bái đường có xây mười cái động dưới cõi âm, gọi là động Thập điện, do mười vị Diêm Vương cai quản để xét công tội của mọi linh hồn và định sự thưởng phạt.[19]
Nhà hành lang và Thập bát La Hán
Nhà hành lang là hai dẫy nhà ở hai bên chùa, ăn thông vào nhà tăng đường, còn gọi là nhà thờ Tổ ở mặt sau chính điện.
Ở giáp tường hai bên nhà hành lang, mỗi bên có chín pho tượng gần bằng người thật, ngồi ở góc cây hay trên núi đá, trông đều có vẻ trầm tư mặc tưởng, đấy là tượng Thập bát La hán.
La hán, tên gọi tắt các vị A la hán là những bậc thánh trong đạo Phật. các
[19] Có nói rõ hơn ở sau, cùng với địa ngục qua đạo Phật.
vị này chưa được thành Phật, còn cần phải tu thêm để tế độ chúng sinh cho đến lúc công đức tu hành được viên mãn. Tuy chưa thành Phật, nhưng các vị
La hán cũng đã đạt tới quả vị cao nhất, việc tu tự giác đã xong và đã tu đến chỗ không có gì phải học nữa, đã đoạn được hết mọi sự phiền não và không còn phải chịu kiếp luân hồi.
Theo đúng trong sách Phật chỉ có 16 vị La hán. Những vị này vâng theo Phật chỉ ở lại thế gian để độ trì Phật pháp.
Đó là:
1- Tân độ la Bát ra nọa xa tôn giả
2- Ca mặc ca Phạt xa tôn giả
3- Ca nặc ca Bạt li nọa xa tôn giả
4- Tô tần đà tôn giả
5- Nặc cư la tôn giả
6- Bạt đà tôn giả
7- Ca ri ca tôn giả
8- Phạt xa la phất đà la tôn giả
9- Thú bác ca tôn giả
10- Bán thác ca tôn giả
11- Ra hộ la tôn giả
12- Na ca tê na tôn giả
13- Nhân kết đà tôn giả
14- phạt na bà tư tôn giả
15- A thị đa tôn giả
16- Thú đồ bán thác ca tôn giả
Ngoài 16 vị La hán trên, còn hai vị nữa là:
Khánh hữu tôn giả và Tân đầu lư tôn giả. Nhưng có thuyết lại cho hai vị
La hán sau là:
Ca Diệp tôn giả và Quân đồ bát thán tôn giả.
Theo bên Tây Tạng thì hai vị này là:
Ma gia phu nhân và Di lạc.
Nhà Tăng đường
Chùa nào, đằng sau nhà chính điện thờ phật, cũng có những căn nhà riêng gọi là Tăng đường hoặc nhà Tổ. Những ngôi chùa mới làm ngày nay ở một vài nơi thành thị, cách xếp đặt có hơi khác vì đất đai chật hẹp.
Tại nơi nhà Tổ có bàn thờ các vị sư Tổ đã truyền đạo sang nước ta, cùng những vị sư Tổ đã tu tại ngôi chùa nhưng đã tịch.
Nhà Tăng đường này, đôi khi tại những ngôi chùa nhỏ, các vị sư vừa ở vừa tiếp khách, chỉ dành riêng một vài gian cho việc thờ phụng các vị sư Tổ. Tại những nơi chùa lớn, các sư có chỗ ở riêng, nơi đây chỉ dùng trong việc thờ
phụng.
Tượng Thánh Tăng
Tại nhà thờ Tổ cũng có bàn thờ Thánh tăng tức là đức A Nan Đà tôn giả.
Theo sách Tượng khí, vị Thánh tăng của phái Tiểu thừa là một trong ba vị
đại đệ tử của đức phật Thích ca sau đây:
Kiều Trần Như, Đại ca Diếp hay Tu Bồ Đề; vị Thánh tăng của phái Đại thừa là đức Văn Thù bồ tát. Riêng tại Việt Nam, vị này là đức A Nan Đà tôn giả.
Bồ Đề Đạt Ma
Trong các vị sư Tổ ở Tăng đường thường có đức Bồ Đề Đạt Ma, gọi tắt là Tổ Đạt Ma hay Tổ Tây. Ngài dòng dõi quý phái ở phía Nam Ấn Độ, xuất gia tu hành. Ngài là vị Tổ thứ 28 của phái Thiền Tôn bên Ấn Độ, sang bên Trung Hoa làm sư Tổ ở cõi Đông Thổ gồm Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Tượng Ngài dung mạo người Tây Trúc, mũi cao, tóc quăn, râu quai nón, da ngăm ngăm đen.
Bàn thờ Chư vị
Lẽ ra tại chùa chỉ có thờ Phật, nhưng ta thường thấy ở nơi nhà Tổ có một bàn thờ chư vị thờ tất cả các vị thần thánh như Tứ phủ, đức Ông, Thánh mẫu, ông Hoàng, bà chúa, bà cô v.v... không có liên quan gì tới đạo phật.
Sự trần thiết thờ phụng tại chùa chiền Việt Nam đã được trình bày rõ ràng ở trên. có lẽ cũng còn có một đôi điều thay đổi khác, nhưng đại khái, sự thay đổi không đáng kể, và lối kiến trúc chính của chùa chiền không khác bao nhiêu.
Chùa Hồng Phúc
Hồng phúc tự còn có tên là chùa Hòa Giai, là một ngôi chùa rất cổ ở Hà Nội. Tương truyền chùa này làm từ đời nhà Lý, về sau được sửa chữa lại dưới triều vua Lê Hy Tôn (1687) và vua Thành Thái nhà Nguyễn.
Chùa Liên phái
Chùa Liên phái thuộc huyện Hoàn Long, gần Hà Nội. Chùa trước đây là nhà tư của Trịnh Thập, sau khi ông xuất gia (1696) lấy nhà riêng làm chùa, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
đặt tên là Liên Tôn tự, sau đổi là Liên Phái. Chùa đã được sửa chữa nhiều lần (năm 1726, 1839 và 1864).
Chùa Bút Tháp
Chùa Bút Tháp chính tên là Ninh Phúc tự, thuộc phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, làm từ đời vua Lê chân Tôn, niên hiệu Phúc Thái (1643-1649), lúc chúa Trịnh Tráng cầm quyền. Chùa này do nhà vua và nhà chúa dựng lên, bởi vậy quy mô toàn cảnh rất rộng và tượng thờ có nhiều pho rất tráng lệ uy nghiêm.
A. Tam Quan (nhỏ, thấp)
B. Nhà Gác chuông
B.1) Trên gác treo chuông. - có bàn thờ chúa Trịnh: tượng chúa Trịnh để
giữa, bên tả hữu phía trong có tượng thị nữ và viên quan thị, còn bên tả
hữu phía ngoài, có hai viên quan ngồi.
B.2) Ở tầng dưới có tượng đức Ngọc Hoàng ở giữa, bên tả có tượng Nam Tào và bên hữu có tượng Bắc Đẩu.
c. Hai tấm bia để hai bên
D. Nhà bái đường
1,2: Tượng hai vị Hộ Pháp rất lớn.
3: Tượng Đức Ông và hai vị thị giả
4: Tượng Thánh Tăng và hai vị thị giả
E. Nhà dọc ở giữa
1: Bàn thờ để ba tượng: tượng Thích ca sơ sinh ở giữa, còn hai bên là tượng Quan Thế Âm và Đại Thế chí.
2: Hương án
3, 4: Tượng mười vị Diêm vương
F. chính điện
1: Tượng Tam Thế, ba vị
2: Tượng Tam Thế, gọi nhầm là tượng Tam Thân. Tượng
này có lẽ ở một chùa khác đem tới gửithờtạm
rồi không
rước về.
3: Bàn thờ để ba tượng, giữa là đức Quan Âm tọa sơn, hai bên là Thiện Tài và Long Nữ.
4, 5: Tượng tứ bồ tát
6: Tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn.
7: Tượng Tuyết Sơn
8: Tượng Văn Thù bồ tát
9: Tượng phổ Hiền bồ tát
10, 11: Hai pho tượng này tạc hai vị đầu trọc ngồi trên tòa sen, không rõ là hai vị nào
12: Tượng Quan Âm tống tử
13: Tượng Quan Âm thọ sơn
14, 15: Tượng mười tám vị La Hán
16: Tượng Thánh Tổ Đông Thổ
17: Tượng Thánh Tổ Ân Độ 18: Động Thập Diện
G. cái cầu đá trên chính điện xuống nhà tháp
H. Nhà tháp
1: Tháp cửu Liên, tám mặt, chín tầng có thể xoay quanh được.
2,3: Hai tượng A Di Đà 4: Tấm bia
I.Nhà Hội đồng J. Nhà thờ hậu
1,2: Khám thờ hai bà chúa lập hậu
3,4: Khám thờ hai ông Hoàng lập hậu
K. Nhà thờ Tổ và chư vị
1,2: Hai bài bia
3,4,5,6: Tượng bốn vị Tổ
7: Bàn thờ Tứ phủ, ba ông Hoàng
8: Bàn thờ ba vị Thánh Mẫu: đức Liễu Hạnh, đức Mẫu Thoải và đức Thượng Ngàn
9: Bàn thờ Tứ vị chầu Bà
L. Nhà tăng phòng và nhà hành lang
M. Nhà thờ tổ đệ nhất
1: Khám thờ Chuyên Chuyết công là Tổ đệ Nhất, có tượng
bó bằng cốt
2,3: Tượng hai vị Tổ
4,5: Hai tấm bia
N. Các tháp ở ngoài vườn
1: Tháp Chuyết Chuyết công đệ nhất tổ
2: Tháp đệ nhị tổ
Hai tháp này cao hơn và trên đỉnh làm hình cái bút nên chùa Ninh Phúc này mới gọi tên chùa Bút Tháp.
Phân biệt các tượng
Đi lễ chùa là tin ở phép Phật, và đi lễ chùa cũng nên biết qua các vị trí của mỗi vị Phật hoặc bồ tát được tôn thờ trong ngôi chùa. Vị trí của các vị này, trừ tượng Tám Thế và Di Đà Tam Tôn bất di bất dịch, thường thay đổi tùy
từng chùa như trên đã trình bày. Để giúp các bạn đọc muốn biết rõ, khỏi có sự lầm lẫn, xin lược kể ra đây những đặc điểm của các vị Phật và bồ tát mà các chùa theo đó tạc tượng để thờ.
Tượng các vị Phật thường:
a) Mình vàng, sắc hoàng kim
b) Trên đỉnh đầu có gò thịt nổi lên
c) Mặt tròn, đượm vẻ từ bi, và ở phía dưới trán, chỗ hai lông mày giao nhau có một nốt thịt như nốt ruồi gọi là bạch ngọc hào
d) Hai tay dài, bàn tay dầy
e) Trên ngực có chữ Vạn, biểu hiệu trạng thái hoàn toàn chân, thiện, mỹ
f) Ngồi xếp bằng tròn trên tòa sen, cách này gọi là ngồi theo lối kiết già.
Về giáng điệu phân biệt như sau:
- Ở trạng thái yên tĩnh hoàn toàn: hai tay chắp lại, hai ngón tay cái dính sát vào nhau.
- Giáng điệu chứng minh lòng trong sạch của Phật: một bàn tay chỉ trời và một bàn tay chỉ xuống đất.
- Trong lúc đức Phật xua đuổi tà ma: một ngón tay quặp lại lòng bàn tay.
g) Tượng đức Phật ít khi đội mũ, thường lộ đỉnh đầu tròn tóc xoăn như con ốc nên ta quen gọi là Bụt Ốc.
Tượng các vị bồ tát thường đội mũ bảo quan và có đeo dây châu báu. Các vị bồ tát hoặc ngồi hoặc đứng trên tòa sen, hoặc cưỡi trên các con thú, tay cầm quyết hay pháp bảo, tùy theo từng vị, như đã trình bày ở trên.
Tượng các vị phật cũng như các vị bồ tát thường tạc ngồi hoặc đứng trên tòa sen, đã nêu rõ ý nghĩa đạo phật một cách đầy đủ rõ ràng:
-
Đạo phật thường nói về nhân quả, hai thứ liên quan mật thiết với nhau, hoa sen có cả nhân và quả lại đồng thời cùng sinh một lúc.
-
Hoa sen sinh ở chỗ bùn lầy, chẳng bị hôi tanh bởi mùi bùn, lại mọc nổi hẳn lên khỏi bùn lầy dơ bẩn, cũng như đức phật tuy sinh ở cõi đời ô trọc mà vẫn vượt khỏi thế gian tìm ra được chính giác.
Tượng các vị phật và bồ tát là những vị đã vượt khỏi thế gian đều tạc trên tòa sen, còn tượng các vị thần như phạm Thiên, Đế Thích đều tạc như người thường, mặc áo long bào, đội mũ miện, ngồi long ngai. Các vị kim cương thường được tạc tượng mặc áo giáp, đội mũ trụ, cầm binh khí như các vị võ tướng.
Am
Tại các xã hoặc các thôn ấp giàu có, dân cư theo đạo phật có xây chùa thờ
phật, nhưng tại nhiều thôn xóm hẻo lánh nghèo nàn, dân chúng không đủ
giàu có để dựng chùa, mà lại xa các nơi chùa chiền, thường dựng lên một chiếc am để lấy nơi thờ phật.
Am tức là gian nhà tranh nhỏ để thờ phật, theo đúng nghĩa trong “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh.
Có lẽ đầu tiên am chỉ là ngôi nhà tranh được dựng lên ở một xóm hẻo lánh để thờ phật, nơi dân trong xóm tới lễ phật, nhưng dần dần tiếng am mang một nghĩa rộng hơn, và chỉ tất cả ngôi nhà nhỏ thờ phật dù là nhà tranh hay nhà ngói.
Như trên đã nói, tại các làng đông đúc dân cư, dân làng xây chùa, trái lại am chỉ được cất ở những thôn xóm nhỏ, dân cư thưa thớt, sự đóng góp không đủ để dựng một ngôi chùa khang trang.
Nhiều khi am chỉ là một gian nhà cỏ lơ thơ tiều tụy ở một xóm rừng núi xa thẳm, cô tịch, quanh năm ít người lui tới.
Am, cũng có khi, do một người mộ đạo Phật lập nên ở một trang trại của mình xa làng mạc để thờ Phật, và để lấy nơi cho tá điền và gia đình họ tới lễ
bái trong những ngày sóc vọng tuần tiết.
Am dù là của thôn xóm hay của tư nhân thì bao giờ cũng là nơi thờ Phật, và trong am, sự trang trí tuy không đầy đủ như ở một ngôi chùa, nhưng ít ra bao giờ cũng có tượng Phật và tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. chung quanh tường cũng có vẽ những cảnh tượng thiên đường và địa ngục như ở tường một ngôi chùa.
Âm tuy thanh, cảnh tuy vắng, nhưng trong những ngày rằm, mồng một bao giờ cũng có khách tới lễ, và người trụ trì, hoặc nếu không có ai trụ trì, thì người trong thôn xóm giữ việc nhang đèn cũng đánh chuông thắp nhang đèn để thiện nam tín nữ tới lễ Phật.
Tăng - Ni
Tăng ni, tức là những sư nam và sư nữ. Đây là những người đi tu về đạo Phật, xa hẳn trần giới, ăn chay niệm Phật, ở những ngôi chùa, ngày ngày học kinh kệ và làm những công việc thuộc về nhà chùa. Kẻ tu hành phải theo năm điều cấm tức là ngũ giới: không sát sinh, không trộm cắp, không gian
dâm, không vọng ngôn, không dùng rượu thịt.
Tăng ni tu ở chùa phải lo việc đèn nhang các bàn thờ.
Tăng ni cũng phân ra nhiều hạng:
Lúc mới quy y gọi là chú tiểu, rồi dần dần đạo lý hiểu biết, tuổi cũng cao lên được làm sư bác, sư thầy, rồi lên sư ông và sau cùng là sư cụ. Các vị sư cụ
còn gọi là hòa thượng đứng đầu chùa chịu trách nhiệm về công việc điều khiển nhà chùa, cắt đặt nhiệm vụ cho các tăng ni.
Nhiều chùa ở vào một địa phương chịu sự chi phối của một vị thượng tọa tức là một vị hòa thượng đứng đầu các vị hòa thượng khác.
Muốn lên các đẳng cấp trong nhà chùa các vị sư thường phải qua những kỳ thi trong tôn giáo.
Tăng ni tu riêng chùa, chùa nào của sư nữ thì chỉ có toàn sư nữ, chùa nào của sư nam thì chỉ có toàn sư nam.
Các vị cao tăng được gọi là Đại đức.
Già lam
Có nhiều chùa thanh vắng quá không đủ lộc và tài sản để một vài vị sư có thể sinh sống được thì không có tăng ni trụ trì tại đó. Tuy vậy chùa vẫn không bị bỏ hoang và vẫn có người sớm tối đèn nhang, và những khi khách tới lễ
phật vẫn có người thỉnh chuông đánh khánh.
Những người giữ việc đàn nhang đó là những thầy già lam, nghĩa là những thầy tự trông nom một ngôi chùa, khi ngôi chùa nầy không có một nhà sư
trụ trì.
Các thầy già lam không bắt buộc phải ăn chay, có thể ở ngay tại chùa hoặc ở nhà mình, nhưng ngày ngày tới chùa lo việc hương đăng.
Những lộc của chùa thầy già lam được hưởng.
Trong những ngày tuần tiết, thầy già lam phải giữ mình cho thanh tịnh.
Ưu Bà
Những người không đi tu nhưng tin theo phật gọi là ưu bà, nam gọi là ưu bà tắc hoặc ưu bà sa, còn nữ là ưu bà di. Mấy danh từ ưu bà sa và ư bà di là do ở chữ phạn upasaka và upasaki phiên âm ra.
Nhiều người tuy không ở chùa, nhưng vẫn thờ phật ở nhà và tin theo phật.
Trong những ngày sóc vọng và tuần tiết, những người này tới chùa lễ Phật tụng kinh. Ngày nay người ta dùng danh từ cư sĩ để chỉ các ưu bà.
Tuy không theo hẳn ngũ giới, nhưng các ưu bà cũng hàng tháng ăn chay ít nhất là bốn ngày: mồng một, mồng bốn, rằm và ba mươi. Bốn ngày này là những ngày có cúng Phật.
Các ưu bà lo việc làm lành và tránh những điều dữ. Những ngày tuần tiết các ưu bà rủ nhau tới chùa lễ Phật, nghe kinh rất đông. Các ưu bà di ta thường gọi nôm là các vãi.
Thờ Phật tại gia
Các cư sĩ, mặc dù thường đi chùa lễ Phật, nhưng cũng vẫn thiết lập bàn thờ tại gia để tiện việc cúng bái và hàng ngày tụng kinh niệm Phật.
Bàn thờ Phật tại gia phải thiết lập cao hơn các bàn thờ khác, vì đức chí Tôn cao cả, ở trên mọi chư thần. Bàn thờ Phật phải trông thẳng ra đường để
tỏ sự quang minh của đức Phật.
Ở các nơi đô thị, người ta thường thiết lập bàn thờ Phật trên một tám ván hoặc một chiếc trang, đóng vào tường cao hơn bàn ghế thờ gia tiên cũng như tất cả các bàn thờ khác.
Ở nhà quê, những nhà thờ Phật tại gia, bàn thờ Phật được thiết lập ngay ở giữa nhà, trông ra ngoài sân chính. Trong trường hợp này, bàn thờ Tổ tiên được kê ở gian bên cạnh.
Trên bàn thờ Phật, có pho tượng hoặc bức tranh Phật ngồi trên tòa sen.
Đằng trước bức tranh là bình hương cùng các tự khí khác như đèn, nến, đài v.v...
Những người thờ Phật tại gia sáng chiều đều có thắp hương khấn vái hoặc tụng kinh gõ mõ lần tràng hạt. Lễ cúng Phật chỉ cần hương đăng trầu nước, có hoa quả càng hay. Tuyệt đối không bao giờ cúng rượu thịt, cá hoặc bất cứ một sinh vật gì.
Mỗi khi thắp hương đều có đánh kiểng trước khi khấn lễ. Chiếc kiểng cũng đặt ở trên bàn thờ.
Việc cúng lễ tại các chùa
Chùa do làng dựng nên để dân làng có nơi cúng lễ Phật.
Hàng năm vào những ngày lễ, dân làng dùng oản chuối trái cây tới chùa lễ phật. Sau khi lễ, nhà chùa hoàn lại cho tín chủ một phần gọi là lộc Phật.
Ngày giỗ sư tổ, dân làng cùng tham dự vào việc cúng giỗ bằng cách giúp đỡ trầu cau tiền nong cho nhà chùa.
Nhà chùa làm cỗ chay, trước cúng phật, sau là cúng sư tổ, cúng xong, nhà chùa khoản đãi dân làng tới lễ.
Cỗ chay làm toàn bằng thực vật nghĩa là rau, đậu, khoai, măng v.v... và không dùng tới thịt cá mắm khô.
Trong những ngày rằm, mồng một nhà chùa đồ xôi in oản cúng Phật. các vãi tới lễ chùa đều được chia một vài phẩm oản một vài quả chuối hoặc trái cây khác làm lộc, các vãi hay tới chùa thường tháng tháng đóng tiền để giúp nhà chùa.
Những ngày vào hè ra hè, thượng nguyên, trung nguyên... nhà chùa cũng làm cỗ chay cúng phật. các thiện nam, tín nữ và các vãi đi lễ có thể được thụ
trai, nghĩa là ăn cơm chay do nhà chùa thết. Những người đi lễ được thụ trai đều tự ý góp tiền nhiều ít để giúp quỹ nhà chùa. Nhiều khi thụ trai xong, lúc ra về họ lại được cả lộc phật tức là oản chuối.
Quyên giáo
Mỗi khi nhà chùa có việc tô tượng đúc chuông hay sửa chữa gì thì tăng ni nói với dân làng, dân làng đứng lên lập sổ phổ khuyến rồi cho người đi quyên giáo thập phương, gọi là việc tập phúc.
Việc quyên giáo có khi do dân đảm nhiệm, nhưng thường dân làng vẫn giao việc này cho chư tăng ni, và chư tăng ni lại có khi nhờ tới các vãi.
Có khi một vài sư tiểu cầm sổ có chữ thị thực của dân làng đi khắp trong làng rồi sang các làng khác vào từng nhà quyên.
Có khi là các bà vãi rủi nhau với một quyển sổ vừa đi vừa niệm phật rầm trời, vào từng nhà một quyên các gia chủ.
Có khi lại là hai người khiêng một chiếc võng, trên đòn khiêng có treo một cái chuông hoặc cái cảnh, theo sau có năm ba bà vãi, đi đến các chợ búa gõ chuông quyên giáo, các thiện nam tín nữ gia tâm cúng tiền thì ném vào chiếc võng.
Nhiều khi ở ngay trước cửa chùa bày một chiếc nong bên cạnh lối đi, đốt năm ba nén hương cắm lên một chiếc bình, vài ba bà vãi kể kệ đọc kinh đánh trống, khách qua lại hằng tâm cúng tiền đều ném vào chiếc nong.
Hình thức quyên giáo thuở xưa đơn sơ giản dị nhưng những bà vãi đi quyên giáo đều cơm nhà việc chùa, và những người hằng tâm hằng sản ai nấy đều vui lòng được tham gia công việc công đức của nhà chùa.
Trong những công việc tổ chức đúc chuông, muốn cho được thành quả, những người đi quyên giáo không bao giờ được từ chối lòng thành của những người gia tâm, dù nhiều dù ít, dù là đồng tiền kẽm dỉ. Mọi người đều tin rằng nếu những người đi quyên có ý chê bai không nhận những đồng tiền nhỏ của người có lòng thành cúng vào thì chuông đúc sẽ không kêu. Và trong các thiện nam tín nữ, có nhiều người khi nghe biết việc đúc chuông thường đem cúng cả khuyên vàng, sà tích bạc để cầu tự phúc đức.
Những số tiền nong hoặc đồ vật đi quyên được nhà chùa đều có sổ sách phân minh.
Ngày nay, những cuộc quyên giáo cho chùa chiền hoặc các nơi thờ tự
khác của mọi tôn giáo, tổ chức có quy củ hơn, nhưng mục đích vẫn nhầm vào sự giúp đỡ của những người có lòng để hoàn thành một công tác do nơi thờ tự chủ trương. cũng có hình thức khác là các cuộc xổ số lấy đồ.
Dưới hình thức nào mặc dầu, mục đích của sự quyên giáo nầy cũng không khác xưa.
Các tín đồ tôn giáo đối với việc quyên giáo, tín đồ nào giúp cho tôn giáo ấy, không bao giờ thờ ơ.
Am chúng sinh
Đạo Phật chuộng từ bi làm căn bản. Sự từ bi không những chỉ có đối với người sống mà còn có đối với cả những người chết nữa.
Chính vì lòng từ bi đó mà những người theo Phật giáo đã nghĩ tới vong hồn những kẻ chết, nhất là kẻ không người cúng giỗ và những kẻ lúc sống đã phạm tội mà người ta cho rằng lúc chết phải đền lại những tội đó ở cõi âm.
Để cúng bái những âm hồn ấy, tại các tha ma mộ địa của mỗi làng đều dựng nên một am chúng sinh.
Đây là một cái am lộ thiên năm gian hoặc ba gian tùy theo từng làng có xây bệ đề ba chữ Hàn Lâm Sở. Tại am này dâng làng thờ chung cả những vong hồn vô chủ và hàng năm có làm chay cầu siêu độ cho những vong hồn này cũng như cho những vong hồn bị tội ở cõi âm.
Mỗi am thường có một bà đồng sớm tối đèn hương thờ phụng. Bà đồng này được dân làng cho lộc khi có ai cúng vái tại am, hoặc khi có ai tới cúng những người thân của họ an táng tại tha ma. Nhiều khi dân làng cũng cấp
cho bà một số tiền để lo việc hương đăng cho am.
Cúng bách linh
Hằng năm về kỳ ba tháng hè, vào những ngày rằm mồng một tại am có nấu cháo cúng, cháo được đổ vào những lá đa xếp thành bồ đài, cài vào những chiếc que cắm hai bên dọc đường. cùng với những bồ đài cháo, từng quãng từng quãng lại có cắm một vài nén hương. Lễ cúng này gọi là cúng bách linh nghĩa là cúng những vong hồn vô thừa nhận. Theo tín ngưỡng của ta thì những vong hồn này trong những lễ cúng bách linh sẽ cùng nhau tranh cướp những bồ đài cháo. Do đó ta có câu “cướp cháo thí lá đa” là nói những người vô hậu không ai cúng giỗ phải đợi cúng tại am chúng sinh để tới hưởng cháo thí.
Muốn có tiền gạo để cúng cháo bách linh, bà vãi giữ Am thường bày một chiếc nong ra cạnh đường đi, đốt vài nén hương để khách qua lại ai có lòng tốt bố thí cho những cô hồn thì tùy tâm cho tiền cho gạo. Bà vãi ngồi ở trong am đánh trống kể kệ hoặc là cùng năm bà vãi trong làng cùng làm lễ chèo đò, nghĩa là chèo đò cho những vong hồn đi từ phong đô tức là cõi âm qua sông Nại Hà, một con sông nơi âm phủ có rất nhiều thủy quái để trở về
dương thế hưởng lễ bách linh.
Đàn chay
Có nhiều nơi, mỗi năm về tháng bảy, tại am chúng sinh có lập đàn tràng để làm chay cúng luôn mấy ngày, có tụng kinh niệm phật cho các cô hồn chúng sinh.
Trong lễ làm chay, trước hết có một nhà sư cầm gậy cầm xích dẫn theo năm bảy bà vãi cầm phướn và mấy ưu bà sa đánh trống, khua thanh la đi khắp bãi tha ma để rước các vong hồn vô hậu về đàn.
Đàn tràng được thiết lập làm ba tầng:
-
Tầng trên cùng cúng phật;
-
Tầng thứ hai cúng bách linh tức là các cô hồn;
-
Tầng thứ ba ở ngoài là vàng mã
Cúng phật thì dùng oản, cúng bách linh cũng dùng oản quả và có thể
cúng thêm đồ mặn như lợn gà v.v...
Ngày hôm đầu trong buổi lễ làm chay là phải tụng kinh suốt ngày để cầu nguyện cho chúng sinh được siêu sinh tịnh độ.
Ngày hôm sau làm lễ dẫn lục cúng tức là dâng cúng sáu thứ: hương, hoa, đăng, trà, quả, thực.
Trong lễ này có hai nhà sư mặc áo cà sa mang đồ lễ múa lượn trước khi dâng cúng.