Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Phần 60

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

vậy, gọi là tăng ni bố thí cho chư bà. Thường lộc phật chỉ là miếng trầu, chén nước, nhưng sự quý trọng đây chính là lòng thành hướng về phật và lòng cung kính đối với tăng ni. Chư bà quý trọng tăng ni không kém gì bậc phụ

mẫu.

Hội chư bà cũng hàng năm lần lượt cắt nhau một người chứa đăng cai, gọi là bà trưởng. Bà trưởng có trách nhiệm lo mọi công việc cho hội chư bà như lo lễ vật tuần tiết ở chùa, hoặc khi trong làng có kỳ thần bái xã, có lễ kỳ

an, hay tại những miếu trong làng có làm lễ. Ngoài việc trù biện, lễ vật, bà trưởng lo việc thông báo cho các bà khác. Thường bà trưởng chỉ bảo cho một vài bà, còn các bà kia lại đi thông báo lẫn nhau. Mỗi năm chư bà cũng hội tụ chung một lần tại nhà đăng cai để sửa lễ cúng kiến rồi ăn uống với nhau.

Trong những ngày chùa làng mở hội, các bà tới chùa kể hạnh, nghĩa là tụng những bản khuyến thiện, nêu lên những gương sáng của đức phật và của chư vị Bồ Tát để mọi người

cùng nghe. Trong lúc kể hạnh, có người thưởng tiền, tiền này dùng chung trong việc lễ bái hoặc từ thiện.

Khi trong làng có người mất, người đăng cai cũng thông báo cho mọi người biết để đi hộ phúc, tham dự đám tang và đội cầu vải trong lúc đi đưa.

các bà cũng được khoản đĩa như hàng bô lão trong làng.

chư bà làng này thường giao thiệp với chư bà làng khác gọi là Hội thập phương.

Nhiều nơi, các góa phụ mới độ 40 tuổi cũng gia nhập hội chư bà, và đôi khi cả các bà khác trạc tuổi này cũng xin sớm quy y. Bởi vậy, tục lệ hội chư

bà bắt vạ những ai đã vào hội mà còn có chửa. Những người này bị truất ra khỏi hội và không bao giờ được vào nữa.

chư bà cũng rất chú tâm tới việc từ thiện thường quyên giáo lấy tiền tổ

chức những buổi lễ kỳ an, cúng cháo, sau lễ cúng, đồ lễ phân phát cho những người nghèo khó.

Nếu có trường hợp có người nghèo khó bị chết, không có ai lo việc tang ma, chư bà cũng cùng nhau góp tiền lo liệu.

Trong tuổi già, các bà lấy việc thờ Phật và khuyến thiện làm vui, và công

việc của các bà thường rất có kết quả, nhất là công việc tương trợ về ma chay.

Mỗi lần có một bà vãi qua đời, chư bà thu tiền của mọi bà khác để giúp đỡ tang gia và lễ tất nhiên các bà tham dự đám tang, và trong lúc đi đưa đám các bà đội Long Kiều và cầu nguyện cho hương hồn người chết được lên cõi nát bàn.

PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Đây là một tôn giáo mới, bắt nguồn từ đạo Phật với những sự cải tiến cho phù hợp với tín đồ. Đạo sáng lập năm 1939, bởi đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.

Đức giáo chủ truyền bá giáo lý đạo Phật và mượn tên làng mình sinh trưởng, tức là làng Hòa Hảo làm biệt danh, và do đó đạo của giáo chủ mang tên là Phật giáo Hòa Hảo. Ngoài ra danh từ Hòa Hảo cũng còn tiêu biểu cho tinh thần liên kết khắp nhân loại, đại đồng trên nền tảng hiếu hòa giao hảo.

Phật giáo Hòa Hảo, tuy là một tôn giáo mới, nay đã ăn sâu vào nếp sống dân miền Tây Nam Bộ, và hiện thời đã có một số tín đồ đáng kể.

Tìm hiểu về tín ngưỡng của người Việt, nhất là những tôn giáo đã có ảnh hưởng tinh thần và vật chất người dân, không thể bỏ qua không nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo.

Đức Huỳnh Giáo Chủ

Thân thế

Tại thôn Hòa Hảo, huyện Tân châu, tỉnh châu Đốc (An Giang), một vùng đất phì nhiêu vô cùng, nhờ con sông cửu Long (Tiền Giang) hằng năm đem lại biết bao nhiêu là tấn đất phù sa béo bở. Thầy Huỳnh phú Sổ đã ra đời năm 1919.

Người đời gọi là Ông Tư Hòa Hảo hay Đức Huỳnh Giáo Chủ, còn anh em tín đồ thì tôn xưng là Đức Thầy. Ông sanh năm Kỷ Mùi (1919) và là con trai của ông Huỳnh Công Bộ (đời pháp thuộc làm chức hương cả tục danh ông cả Bộ) và bà Lê Thị Nhậm, gia cư tại xã Hòa Hảo, cách quận lỵ Tân Châu 37

cây số ngàn.

Từ thuở bé đến lúc trưởng thành

Thuở nhỏ, vào niên học 1927-1928, ông Huỳnh phú Sổ học vỡ lòng tại trường nguyên quán với ông giáo phan Văn Khoái, người Sa Đéc, rể ông cựu Hương giáo Nguyễn Văn Nhu (qua đời) cũng ở xã Hòa Hảo. Bấy giờ ông đã có vẻ xuất sắc. Học lực không kém bạn tác.

Vài năm sau, ông tiếp tục học tại trường Tiểu học Bổ túc Tân Châu, với ông giáo Lê Văn Tám, người Tây Ninh, đảm nhiệm lớp Nhì năm thứ nhất (Cours moyen I) và trọ tại nhà cố Huỳnh Văn Sánh, thợ bạc ở Tân Châu, người đồng tộc với ông. Sau khi đậu cấp bằng Tiểu học (Certificat d’études élémentaire), ông đã phải thôi học, trở về nhà giúp đỡ cha mẹ trong việc cày bừa ruộng rẫy.

Về đức tánh thì ông có chỗ khác người trong mọi trường hợp. Tứ lúc bé đến tuổi vị thành niên, ông không bao giờ thích đờn địch ca xang, cải lương,

hát bộ. Ông ít trửng giỡn nói cười, thường tìm nơi thanh vắng để mặc tưởng trầm tư. Khi gần đến tuổi thanh xuân, ông rất hổ thẹn và phản đối ngay khi nghe nói chuyện kiếm người nội trợ cho ông.

Lại nữa, đã từ lâu, nhiều cơn sốt rét dữ dội làm cho ông ẻo lả xanh xao, mất ăn mất ngủ. Thỉnh thoảng bịnh này trở lại làm cho thân hình ông trở nên mảnh khảnh tiều tụy, da mặt mét xanh.

Nghe lương y, phù thủy nào hay, biết đạo nhân đạo sĩ nào giỏi gia đình ông cũng tìm đến chạy chữa. Trong số những ông thầy ấy có ông Lê Hồng Nhựt tục gọi thầy Xôm hay Đạo Xôm ở núi Trà Sư, một tu sĩ pháp thuật cao cường và ông Trương Anh Tuấn tức Ba Ngoan, một tay lão luyện về khoa bùa ngãi của Khơ Me và Xiêm, đã từng để dấu chân trên núi Tà Lơn và các núi ở Cao Miên giáp ranh Xiêm quốc. Nhưng hai ông này đều đành thúc thủ

khi gặp trường hợp bệnh của ông Huỳnh phú Sổ.

Thế là trong mấy năm trường (từ 15 đến 21 tuổi) ông mắc một chứng bệnh trầm kha mà không một ông lương y ở vườn, ở chợ hay một tu sĩ ở núi, ở am trị được. Ông có nói với một tín đồ trọng yếu ở Bạc Liêu câu này: “Ơn Trên” làm như mình súc ve cho sạch vậy!

Lúc bây giờ, ông xưng là “Khùng Điên”.

Thầy đi núi

Đăng Sơn Kỳ Nhất

Lần đầu tiên ông Huỳnh phú Sổ đi núi Tà Lơn đãnh lễ chư vị.

Núi Tà Lơn (Bokor) nằm trên địa phận tỉnh Cần Giọt (Kampot) thuộc xứ

Miên, giáp với Hà Tiên.

Dọc đường, khi đến Sóc Mẹt (Tuc Méak) ông có trị bệnh cho một đứa trẻ

đau nặng. Cha mẹ nó là người Miên và không biết nói tiếng Việt. Ông nói chuyện bằng tiếng Miên với họ rồi trị bịnh đứa trẻ ấy bằng cách mà ông đã dùng lúc ở nhà.

Trong cuộc đăng sơn này, có lúc ông lên những đỉnh cao tột bực, mặt bằng phẳng, ít cây, có suối trong veo, có cát trắng phích, có tòng bá xanh tươi... thì trái lại, cũng có rất nhiều khi đường đi hiểm trở, đầy dẫy gốc gai, có lúc phải bò, lắm phen phải mọp, khi lên vồ núi, lúc xuống triền non vô cùng mệt nhọc và mặc dù tinh thần dũng cảm chớ cũng có lúc phải rởn ốc ghê mình... !

Cuộc đăng sơn này đáng lẽ phải được tám ngày như đã định, nhưng đến Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

ngày thứ sáu, ông xuống non để kịp trở về Hòa Hảo.

Đăng Sơn Kỳ Nhì

Lần này, ông Huỳnh Phú Sổ đi với ông Ngô Ngọc Chơn (tục gọi ông Đạo Năm) trong vòng tháng 7 năm Kỷ Mão (1939).

Hai thầy trò đi bộ qua vàm cái Đầm rồi xuống đò qua Năng Gù đón xe đi xuống lộ tẽ Mạc cần Dưng để sang xe khác đi Xà Tón (Tri Tôn).

Sau khi đến chợ Xà Tón, hai thầy trò nhắm hướng núi Tô thẳng tiến. Ông và ông Chơn băng qua một cánh rừng rồi mới lên núi. Nhưng vì đường khó đi nên lại trở xuống kiếm đường mòn mà người núi này thường dùng.

Hai thầy trò lần lượt lên Sân Tiên, điện Năm căn, Mũi Hải (tại đây có một chiếc thuyền chìm thành đá cả thuyền lẫn chèo) rồi lên chót núi là nơi có điện kín. Nghỉ tại đây một đêm ông và ông Chơn trở xuống để đi qua núi Cấm.

Sau khi đến Rầy Đét, (một đường lên núi Cấm) ông băng rừng vượt núi, vét phá chông gai mãi đến bữa sau mới tới vồ Bò Hong. Ông nghỉ đêm tại đây, Trong đêm ấy, ông gặp một ông Yết ma (ở Vĩnh Long) chữa bịnh cho bổn đạo của ông, sau đó xuống núi, trở về nhà.

Đăng Sơn Kỳ Ba

Khởi hành tại Hòa Hảo ngày 21 tháng tám năm Kỷ Mão (1939), ông đến viếng núi Két nội trong bữa ấy và nghỉ đêm tại đó. Sáng lại, ông trở xuống và đi tuốt vô Cẩm Sơn, lại đường Rầy Đét lướt sông lên núi. Thấy người tùy tùng quá mệt nhọc trong lúc leo trèo, ông nói: “Phải ráng đi đặng giải quả”.

Trải qua lắm cuộc mỏi gối chồn chân, mồ hôi như tắm, ông đến một vùng rộng lớn hơn 100 công, có cây tòng, bá và nhứt là thiên tuế mọc đều đều, thỉnh thoảng lại có những hòn đá mặt bằng phẳng như cẩm đôn và bốn cây thiên tuế ở bốn góc. Ngoài ra, lại có rất nhiều cây đe đọt bằng như đã hớt.

Đứng trước cảnh thiên nhiên kỳ bí này, ai nấy đều có cảm tưởng rằng mình đang ở giữa một cái vườn kiểng của những đấng vô hình.

Lần lượt, ông đến chùa phật lớn, điện Đá dựng. Nghỉ đó một đêm, ông trở xuống đường chùa ông Ba Đạo rồi qua Thất Cao Đài, điện Rau Tần. Trong khi nghỉ đêm tại đây, ông có trị bịnh tà cho một người mà ông Bảy Ngọc (một ông thầy phù thủy) đang chữa không hết.

Sáng lại, ông trở xuống đi vô núi Tô, lên Điện kín, trở ra Sân Tiên nghỉ đó một đêm.

Đăng Sơn Kỳ Thứ Tư

Lần này thầy đi núi Tà Lơn và dẫn theo có một mình ông Ngô Thành Bá, tức Biện Đài ở xã Hòa Hảo.

Khởi hành ngày mùng 6 tháng giêng năm Canh Thìn (1940). Hai thầy trò được chở đưa bằng xe đạp đến Vàm Cái Đầm. Sau khi đò cập bến nhà máy Năng Gù (thôn Bình Mỹ), thầy trò lên xe đò đi Châu Đốc, rồi sang xe khác đi tới Tịnh Biên vào lúc ba giờ chiều.

Trong đêm nghỉ trọ tại nhà của một người cô của ông Đài, ông có giảng đọc thuyết pháp cho nhiều người đến nghe.

Sáng bữa sau, thầy trò lên xe đò đi Cần Giọt và tới đó lối ba giờ chiều.

Thầy trò lại nghỉ trọ nhà một ông lão tuổi ngoài 70, đệ tử của ông Cử Đa và là em của ông Trần Bá Lương tức Hai Lương.

Ông có minh giải về sự khai mở trực giác cho ông chủ nhà và nhiều người lân cận đến nghe. Ông cũng có đọc thuộc lòng rồi giải nghĩa cuốn thứ ba Sấm giảng để khuyến khích các vị ấy nên vững bước trên con đường đạo hạnh. Nghỉ đây một đêm, sáng lại ông từ giã ông lão để lên non.

Tới chân núi hồi 8 giờ, hai thầy trò xuống suối tắm rửa, thay đổi quần áo, mỗi người mặc một bộ đồ dà. Tiến theo con đường “cam chại” (đường đi non) thầy trò tới Trung Tòa (hay là Long Thuyền) lúc một giờ trưa, ghé vào một ngôi chùa nhỏ và tặng mấy nhà sư trong chùa ba cuốn giảng của thầy (quyển 1,2,3) rồi từ giã ra đi.

Đến ngả tẻ, ông bảo đi qua điện cô Nhứt (gần hơn một phần ba đường lên điện Minh châu). Đường đi dốc ngược, gập ghềnh bước tới muốn sụt lui nên ba giờ chiều mới đến điện cô Nhứt. Lối năm giờ chiều, thầy trò đi ngang qua lộ lớn (bề ngang trên bốn thước) rồi đi lần tới điện Cao Vân. Đêm thầy nghỉ trên một tảng đá cao khỏi đầu, rộng bằng hai bộ ván ngựa, mặt bằng phẳng.

Sáng ngày mùng 9, thầy trò đi lên “Ruộng Năm Dây”. Tại đây có đường mòn đi qua Bà Ngự. Rồi thầy trò đi lần tới “chầu Thiên”, một cảnh thiên nhiên đẹp nhờ tòng bá lộn chen không cao không thấp. Khi còn cách “Tứ Giao điện” lối 100 thước, mặt trời vừa chen lặn. Thầy dừng chân lại bảo đừng nói chuyện. Chẳng có một bóng người! chỉ có chén bát, tương chao và những chiếc đũa nằm bừa bãi trên bàn.

Sẵn có nồi nước tại đó và vì đói quá, ông Đài hốt cơm khô đem theo bỏ

vào nồi đun lửa nấu. Theo lời ông Đài thì bữa cơm ấy ông ta ăn ngon nhất Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

trong đời mặc dù thực đơn chỉ có thêm một đĩa khoai lang luộc.

Trải mấy lúc xuống triền lên đỉnh, hai thầy trò đến trước một cái miệng hang, dòm vô thấy tối đen, mùi hôi hám khó chịu. Ấy là hang cọp!

Rồi, thầy trò xuống triền, gặp nhiều suối (có cái thật lớn, một vài nơi rộng trót trăm thước tây) rồi đi ngược lên non, vào một cái điện cảnh rất xinh.

Rời khỏi điện này, thầy trò đi đến tối để rồi nghỉ đêm trên một tảng đá cao bằng phẳng.

Sáng ngày 11 tháng Giêng, thầy trò vẫn còn theo ngọn suối lớn hôm qua.

có một lần thầy đi trước ông Đài, cả một công đất rồi đứng chờ ông ta đi tới.

Khi ông Đài vừa đến gần thầy thì ông gặp một con cọp xuống uống nước gần chỗ thầy đứng. Trong lúc ông ta đang kinh tâm tán đởm thì thầy kêu ông mà nói: “Lại đây kiếm cọp, mùi nó bay khét quá!” Ông Đài nắm tay thầy và nói nho nhỏ: “Đi cho lẹ thầy ôi! tôi thấy rồi!”.

-

Thấy giống gì?

-

Bạch thầy “Ông thầy” xuống uống nước kia kìa?

-

Mầy thật nhát quá? Lên non sợ cọp, xuống thế sợ Thổ!

Đi đến mười giờ trưa, ông Đài mệt quá, mắt hết thấy đường, ôm cứng vào một thân cây. Thầy vuốt ngực ông ta và đọc chú. Thầy cho ông Đài nhai nuốt một thứ lá cây có chất ngọt. Vài phút sau, ông ta được khỏe lại như thường.

Có lần thầy lội ngang qua một cái suối sâu chừng một thước tây. Ông Đài đi sau thấy có cây ngã nằm ngang suối bèn đi trên thân cây ấy cho khỏi ướt mình. Thầy nghiêm nghị bảo: “Thầy đi đàng nào thì phải theo đàng nấy, cấm mầy không được đi như vậy nữa!”.

Sáng 12 tháng Giêng, hai thầy trò phải băng ngang một trảng mây gai dài cả gang tay, tàu lớn như tàu cau. Xế qua, thầy trò mới trổ ra lộ đá và về đến Cần Giọt lối 6 giờ chiều.

Sáng ngày 14 tháng giêng, Thầy đi núi Trà Sư và chiều lại, Ngài đi núi Két, dẫn theo ông Đài và sáu, bảy người nữa. Đến “Sân Tiên”, Thầy ngâm cho Hương giáo Tập chép bốn bài thi dưới đây:

Non tiên gió mát toại lòng thay!

Tức cảnh thi văn nhả một bài.

Cố tướng ước mong về nhược thủy.

Ngặt vì không cánh lấy gì bay?

Dắt xác phàm phu viếng non đoài,

Hỏi nhờ đá cục ngủ đêm nay.

Chư sơn Bảy Núi đồng qui tựu,

Thầy tớ kiểng Tiên rõ mặt mày.

Nhìn xem cây cỏ gió lung lay,

Sáng ra lui chơn trở gót hài.

Vậy hỡi chư Thần mau nối gót,

Theo thầy dắt chúng khỏi nồng cay.

Lâu đài núi Cấm lộ nay mai.

Thức tỉnh chúng sanh mới trổ tài.

Khuyến dụ dân tình minh đạo đức,

Tu hành được thấy cảnh bồng lai.

Phật giáo Hòa Hảo ra đời

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939), một cuộc lễ long trọng cử hành tại nhà Đức ông để cho thầy “đến Kinh Hữu Sơn Trung thọ mạng”.

Lúc ấy lối 6 giờ chiều, thầy sắp hai hàng ghế bên bàn thông thiên. Xong rồi thầy mời Đức ông ra chứng kiến cho thầy thắp nhang thỉnh mời các đấng thiêng liêng về chứng thơ thầy “chịu lịnh Tây phương thọ ký”. Đoạn thầy lạy bốn lạy (thủ tục này na ná như lúc Hàn Tín đăng đàn bái tướng lãnh ấn Nguyên Nhung diệt trừ bạo chúa “Hạng Võ”).

Năm ấy, Huỳnh phú Sổ được 21 tuổi. Mặc dù còn bịnh, thầy vẫn khôi ngô, quán thông mọi việc.

Đạo Hòa Hảo ra đời từ đó ở miền Tây Nam Bộ.

Bởi khai đạo tại xã Hòa Hảo nên thường gọi là phật giáo Hòa Hảo và nơi đây tục gọi “Thánh địa”. Kể từ đó thầy Huỳnh phú Sổ khởi sự chữa bệnh, thuyết pháp và ra kệ giảng.

A/ Chữa bịnh

Nhiều bịnh dị kỳ, nhiều bịnh tà, bịnh điên hoặc bịnh nan y đã được thầy chữa lành hẳn. Vì vậy mà số người đến xin trị bịnh càng ngày càng đông. Kẻ

ở xa xôi như Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Bạc Liêu, Sóc Trăng cũng như mấy người ở mấy tỉnh gần (Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Giá, cần Thơ, Vĩnh Long), đến nhờ thầy trị bịnh. Nhà thầy không bao giờ ngớt khách.

Điều đáng để ý là mỗi khi trị bịnh cho người nào là thầy khuyên họ nên niệm Phật tưởng Trời và van vái Thần, Thánh, tin tưởng các đấng thiêng liêng, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

bởi vì “lòng thành nước lã nên hồ, hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban”. Và thầy đã chữa những bịnh trùng ở xã Hưng Nhơn (quận châu Phú), bịnh tê liệt, thổ

tả, bịnh ngoài da, bịnh dư ruột, bịnh câm v.v... Số người được thầy chữa bịnh kể sao cho xiết.

B/ Thuyết pháp

Sau ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (năm 1939), thầy nói nhiều hơn xưa.

Gặp ai nói nấy. Ngài nói về sắc diện, tánh tình và tương lai, khuyên người làm lành lánh dữ, trau sửa tâm lành, kính tin Trời Phật.

Thầy nói thật trúng, thật hay. Rất khiêm tốn, rất bình dân, không bao giờ

chịu phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn. Đãi ngộ họ như

nhau, thầy không hề khuất phục kẻ cường quyền nào và bỉ bạc một người khốn khó nào... Vì vậy nên thuở ấy người ta kêu thầy là “ông tướng bình dân”.

Với một giọng thanh tao êm dịu, khi bổng lúc trầm, lưu loát mà rõ ràng, khi cao siêu khi giản dị, thầy giảng giải cho quần chúng nghe giáo lý nhà Phật và phương pháp tu hành. Ngài thuyết pháp không vấp không ngừng.

Lại nữa, lời văn của thầy còn có mãnh lực hấp dẫn quần chúng nên thính giả nhiều khi mủi lòng rơi lụy, liền phát bồ đề tâm qui y đầu Phật.

Thờ phượng

Đạo Hòa Hảo thờ “Trần Mẫu Dà” nhưng tục lại gọi “Trần Điều”. Tại sao thờ “Trần Dà” thầy giải thích:

- Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng. Đành rằng vì tôn kính “Đấng Từ Bi” mới làm ra để thờ phượng Ngài. Những cũng vì có kẻ lợi dụng để thủ lợi. Bây giờ chúng ta không nên tạo hình tượng nữa. Làm như thế chúng ta không có ý hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền.

Hơn nữa, từ trước chúng ta thờ “Trần Điều” là di tích của “Đức phật thầy Tây An” để lại.

Nhưng gần đây, có nhiều kẻ thờ “Trần Điều” tự xưng là tông phái với chúng ta làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức phật nên toàn thể trong đạo đơn giản đổi lại “Màu Dà” để biểu hiện cho sự “thoát tục” của mình và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự

hòa hợp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng tôn nghiêm để tiêu biểu cho tinh thần vô lượng của nhà phật.

Phương thức hành đạo

Đạo Hòa Hảo cốt “phật Tức Tâm” nên phương thức hành đạo rất giản dị.

A/ về cách cúng Phật. Chỉ cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch. Bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết. Còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược.

B/ Phục sức (không bắt buộc). - Áo tràng màu dà - đầu trần (thường để

tóc) mỗi ngày hành lễ hai thời:

1- Thời từ 4 giờ khuya đến 6 giờ sáng.

2- Thời từ 4 giờ đến 6 giờ chiều.

Trong hai thời đó - hành lễ lúc nào cũng được - nhưng phải thi hành đúng ba lễ dưới đây bởi ba bài nguyện:

1. Bài nguyện trước bàn thờ ông bà

Cầm hương xá ba xá, quỳ xuống chắp tay đưa lên trán nguyện: Cúi kính dưng hương trước Cửu Huyền,

Cầu trên Thất Tổ chứng lòng thiền,

Nay con tỉnh ngộ quy y Phật,

Chí dốc tu hành tạo phước nguyên.

cắm hương, rồi đứng ngay thẳng chắp tay nơi ngực nguyện tiếp: Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông,

Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn.

Rày con xin giữ Đạo Hằng,

Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài.

Nguyện làm cho đẹp mặt mày,

Thoát nơi khổ ải Liên Đài được lên.

Mong nhờ Đức Cả bề trên,

Độ con yên ổn vững bền cội tu.

(lạy 4 lạy)

2. Bài nguyện trước bàn thờ Phật

Cầm hương xá ba xá quỳ xuống chắp tay đưa lên trán nguyện bài quy y: Nam mô Ta Bà Giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (niệm 3 lần) Nam mô Thập Phương Phật Nam mô Thập Phương Pháp Nam mô Thập Phương Tăng

Nam mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần, chư vị năm non bảy núi cảm ứng chứng minh, nay con cải hối ăn năn làm lành lánh dữ, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

nguyện quy y theo mấy ngài tu hiền theo Phật Đạo.

Cắm hương, lạy bốn lạy hoặc xá ba xá rồi đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực nguyện tiếp bài.

Năm câu nguyện

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật.

Nam mô nhứt nguyện cầu: Thiên hoàng, Địa hoàng, Liên Hoa Hải Hội Thượng Phật Từ Bi Phật vương độ chúng thế giới bình yên.

Nam mô nhị nguyện cầu: Cửu Huyền Thất Tổ tịnh độ siêu sinh.

Nam mô tam nguyện cầu: Phụ mẫu tại đường tăng long phước thọ, Phụ

Mẫu quá khứ trực vãng Tây phương.

Nam mô tứ nguyện cầu: Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái giải thoát mê ly.

Nam mô ngũ nguyện cầu: Phật Tổ Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự trí tuệ thông minh giai đức đạo quả.

(Lạy bốn lạy rồi xá chính giữa ba xá niệm):

Nam mô A Di Đà Phật.

Xá bên trái một xá niệm:

Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

Xá bên mặt một xá niệm:

Nam mô Quan Thế Am Bồ Tát.

3- Bàn thông thiên

Đãnh lễ bàn phật xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện bốn hướng lấy bàn Thông Thiên làm hướng cánh trước mặt, sau lưng hai bên vai (xây theo chiều bên trái).

Hướng chánh bàn Thông Thiên có nguyện bài quy y, còn ba hướng kia chỉ

nguyện bài Năm câu nguyện (khi nguyện xong, mỗi hướng lạy bốn lạy, trường hợp không thể lạy được thì xá ba xá cũng được).

Lạy đứng hoặc lạy quỳ cũng được, tùy theo lúc yếu mạnh (đàn ông lạy đứng đàn bà lạy quỳ).

NIỆM PHẬT

Xong thời cúng muốn niệm phật cũng được (ngồi Bán Gia, thẳng lưng niệm):

“Nam mô A Di Đà phật”,

Hay niệm: “Nam mô Tây Phương cực Lạc thế giới, tam thập lục vận ức,

nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng điều đại từ đại bi phổ

độ chúng sanh A Di Đà Phật”.

(Niệm Phật tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện mà niệm Phật chỉ niệm trong tâm và phải thành tâm).

Nam mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm rồi ráng niệm chớ có quên không đợi gì thời khắc.

NGÀY CHAY LẠT

Đạo Hòa Hảo dạy chỉ ăn chay có bốn ngày; 14, 15, 29, 30 tháng thiếu 29

và mồng 1, có nhang thì đốt không có thì nguyện không cũng được. Có hỏi một tín đồ:

- Vì sao đạo này ăn chay có bốn ngày? được giải thích: ăn chay ngày đầu cầu cho Tổ quốc - Ngày thứ nhì: hiến cho Phật - Ngày thứ ba cho đồng bào

- Ngày thứ tư cho bản thân.

Điều kiện vào đạo

Người nào muốn quy y phải có hai người bổn đạo có đức hạnh tiến cử và bảo lãnh đến Ban Trị Sự trong làng cho người làm đầu biết và người làm đầu phải đọc hết thể lệ về sự tu hành cho người quy y nghe, hỏi coi có bằng lòng giữ y như lời khuyên dạy và răn cấm trong Đạo không?

Nếu họ bằng lòng, biểu về cho ông bà, cha mẹ biết hoặc nguyện trước bàn thờ tổ tiên rằng: ngày... tháng... mình chịu quy y theo Đạo. Sau đó người làm đầu (Hội Trưởng) cho một cuốn sách nhỏ này.

Chỗ nào không có ban trị sư, hai người bổn đạo dìu dắt người mới rồi sau mới dẫn ra ban trị sự gần đó. Không bắt buộc phải thề thốt chi hết, vì người muốn tu do nơi sự phát nguyện của mình mà thôi.

Khi nào mình không muốn giữ đạo, mình phải cho người làm đầu trong đạo và những người tiếp dẫn hay đặng họ bôi tên mình ra, chớ không người nào được phép xưng mình người trong Đạo mà không giữ luật lệ tu hành.

Kẻ nào trái luật lệ trong sự đạo đức dầu không xin thôi đạo hay chưa bị

bôi tên cũng có thể bị toàn thể trong Đạo không thừa nhận trách nhiệm của họ và bị coi như người ngoại Đạo.

Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo

Phật giáo Hòa Hảo lấy pháp môn Tịnh Độ làm căn bản, pháp môn này đã từng có từ ngày xưa và đã ra đời trước hết ở Ấn Độ, sau truyền bá qua Trung Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

Hoa, Nhật Bản, Nam Dương rồi tới Việt Nam.

Đây là một trong 84 ngàn pháp môn của Đức phật Thích Ca Mâu Ni thuyết ra để cho những tín đồ tu tại gia biết con đường giải thoát.

Dưới đây là lời Huỳnh giáo chủ về hạng tu tại gia:

Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ điều kiện xuất gia vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội nên chưa làm như các nhà sư hay ni cô đặng... Thế nên ở tại nhà phượng thờ Đức phật phát hiện quy y giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn lòng, ủng hộ các sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải thoát. Đây là hạng học phật tu nhân.

Bàn xét như trên thì toàn thể tín đồ phật giáo Hòa Hảo là hạng tại gia cư

sĩ học phật tu nhân vậy.

Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên” (Muôn vạn quyển kinh của Phật, Thánh, Tiên dạy sự hiếu nghĩa làm đầu).

Đức thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn đệ tử rằng muốn làm xong hiếu nghĩa có bốn điều ân,

ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn:

1- Ân Tổ tiên cha mẹ

2- Ân Đất nước

3- Ân Tam bảo

4- Ân đồng bào và nhân loại

(với xuất gia thì ân đàn na thí chủ)

Triết lý của Phật giáo Hòa Hảo

Nền tảng cốt yếu của triết lý Phật giáo Hòa Hảo là lý tưởng từ bi, bác ái, đại đồng của nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra.

Có thể nói được rằng Phật giáo Hòa Hảo không khác chi là Tịnh độ cư sĩ, nhưng ở nơi đây những điều dị đoan mê tín bị bài trừ. Không có sự cúng Phật bằng các thức ăn thịt cá và cũng không có sự dùng giấy tiền, vàng bạc, phướn xá, trai đàn v.v... không có việc thờ hình tượng.

Đạo ngăn cản hẳn tứ đổ tường, đạo khuyên con người phải biết hy sinh cho xứ sở như lời Huỳnh Giáo chủ:

... “Ta cảm thấy có bổn phận phải bảo vệ đất nước khi vị kẻ xâm lăng dày đạp. Ráng nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo và làm cho trở nên

cường thịnh. Ráng cứu cấp nước nhà khi kẻ ngoài thống trị. Bờ cõi lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm.

Hãy tùy tài, tùy sức, nổ lực hy sinh cho xứ sở. Thoảng như không đủ tài đức đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải ráng tránh đừng làm việc gì sơ xuất đến làm cho nước nhà đau khổ và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại cho đất nước”.

CAO ĐÀI GIÁO

Đã xét qua các đạo giáo ở Việt Nam, ta không thể bỏ qua mà không nói sơ lược tới đạo Cao Đài, tuy đây chỉ là một tôn giáo mới, như phật giáo Hòa Hảo mới có từ năm 1926, nhưng hiện thời số tín đồ tại Việt Nam không phải là ít.

Nguồn gốc đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài chính thức thành lập từ năm 1926, nhưng thật ra, đạo này đã manh nha từ sáu năm về trước, nghĩa là từ năm 1919.

Hồi đó, ông phủ Ngô Văn Chiêu tòng sự tại phú Quốc, là một người đạo đức rất tin theo sự giáng khẩu của các thần linh. Ông thường dùng bàn xoay để tiếp xúc với giới vô hình, và trong một cuộc cầu đồng ông cho biết đã được một vị tự xưng là Cao Đài giáng đồng và cho phép ông được tôn thờ

dưới hình thức một con mắt.

Từ đó ông phủ Chiêu tin theo phép huyền bí của Đức Cao Đài, và sáu năm sau đạo Cao Đài được chính thức thành lập với giáo chủ là ông Lê Văn Trung.

Ông phủ chiêu, sau một thời gian làm việc tại Phú Quốc, được đổi về Sài Gòn. Ở đây ông gặp một nhóm công chức người Việt cùng ông cầu đồng, bằng chiếc bàn xoay. Các ông cho biết rằng, trong các cuộc cầu đồng, đức cao Đài thường giáng đồng, dưới danh hiệu A, Ă, Â và thường đem triết lý cao siêu ra giảng dạy cho nhóm cầu đồng.