Trang trí bàn thờ tổ tiênPhần 37

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Bàn thờ thường được thiết lập ở gian giữa nhà chính, tức là nhà trên, nếu không có một nhà riêng để làm nhà thờ.

Bàn thờ kê làm hai lớp:

LỚP TRONG:

Lớp trong kê sát ngay vào tường hậu và gồm:

chiếc rương thật lớn, cao vào khoảng một thước, dài trên hai thước và rộng gần hai thước.

Mặt trước chiếc rương có đóng nẹp chia làm ba ô, ở các ô này, có khi là ba chữ đại tự, có khi là những bức tranh được dán vào trong những dịp Tết.

Trên những nẹp có đóng những đồng tiền đồng hoặc tiền kẽm tùy theo từng nhà.

Trong chiếc rương cất đựng những bát đĩa, nồi đồng, xanh đồng lớn, hàng ngày không dùng đến, chỉ những khi giỗ tết mới lấy ra.

Tại những gia đình sung túc, chiếc rương lớn này được thay thế bằng một chiếc bàn to, đúng ra là một chiếc sập sơn son thiếp vàng, kê trên mễ cao vào khoảng một thước. phía đằng trước thường có một tấm màn bằng vải đỏ che dấu những mâm thau đồ đồng cùng bát đĩa, được xếp dưới gầm sập thay vì để trong rương.

Ít nhất hai chiếc mâm nhỏ chân quỳ mặt hình chữ nhật: một chiếc bề dài độ tám tấc, bề rộng độ sáu tấc kê ở giữa chiếc rương hoặc chiếc sập nói trên.

chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn, kê đằng sau chiếc thứ nhất. Hai chiếc mâm này cao chừng bốn tấc, giống như hai chiếc bàn nhỏ thấp, dùng để bày đồ lễ

trong những ngày sóc vọng giỗ tết. Trong những ngày giỗ tết có làm cỗ thì cỗ bàn bày trên chiếc mâm thứ nhất, còn hương hoa trầu nước bày ở chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn.

Bên trong cùng lớp thứ nhất là Thần chủ đựng long khám kê trên một chiếc bệ, chiếc bệ này cao ngang mặt hai chiếc mâm.

Có nhiều gia đình không thờ thần chủ mà chỉ kê ở nơi đây một chiếc ỷ

hoặc một chiếc ngai, tượng trưng ngôi vị của tổ tiên.

Chiếc rương, hai chiếc mâm kê trên mặt rương, chiếc ỷ hoặc chiếc ngai cũng như tất cả các đồ thờ khác thường bằng gỗ mít, thứ gỗ này ít mọt, có mùi thơm, màu vàng đẹp.

Tại những gia đình sung túc, những đồ thờ này thường được sơn son thiếp vàng rất lộng lẫy.

Riêng về chiếc ngai, dù bằng gỗ mít hay bằng loại gỗ khác được sơn son thiếp vàng, hay tay ngai đều mang hình đầu rồng, rồng đứng đầu tứ linh và được dùng trang hoàng cho đồ tự khí.

Trên chiếc mâm nhỏ kê bên trong, ở trước thần chủ hay chiếc ngai, ta thường thấy một cái tam sơn, một đồ thờ nhỏ chia làm ba phần, phần giữa cao hơn hai phần bên, dùng để đặt đĩa trầu, chén rượu, ly nước, đĩa hoa quả

trong những ngày cúng lễ.

Tại nhiều gia đình thế vì chiếc tam sơn có kê những chiếc đài mà công dụng cũng như chiếc tam sơn. Một chiếc đài thường qua độ năm phân và nho nhỏ để đặt vừa chiếc ly, chiếc chén hay chiếc đĩa đựng trầu nước rượu hoa trong khi cúng lễ.

Đó là lớp trong bàn thờ...

Lớp trong này được ngăn với lớp ngoài bằng một chiếc y môn, tức là chiếc màn thờ, thường màu đỏ, bằng the nhiễu hay vải tùy theo gia cảnh từng gia đình.

chiếc y môn treo từ trên cao thõng xuống, lúc buông thì che kín hết bàn thờ lớp trong, còn khi vén lên thì cũng vẫn đủ ngăn chia hai lớp của bàn thờ.

LỚP NGOÀI:

Lớp ngoài của bàn thờ bắt đầu từ chiếc y môn trở ra.

-

Trước tiên là một hương án cao.

-

Trên hương án này, tại chính giữa là một bình hương bằng sứ để cắm hương khi cúng lễ.

-

Đằng sau bình hương là một chiếc kỳ nhỏ, giống chiếc mâm kê ở trước thần chủ lớp trong, chiều cao độ ba mươi phân, dài năm mươi phân, rộng độ hai mươi lăm phân.

Đặt trên chiếc kỳ nhỏ này là ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm.

Khi mở nắp ra, nắp kê xuống dưới, đài đặt lên trên. Đài bằng gỗ đã được tiện rỗng dưới để khi đặt lên trên nắp đài, đài sẽ ăn khớp với nắp. Hoặc đài bằng đồng cũng vậy.

Ba đài này đựng ba chén rượu nhỏ lúc cúng lễ. Hàng ngày đài đậy nắp để

tránh bụi bặm và chỉ mở ra trong những dịp giỗ tết sóc vọng, và trong những dịp này bao giờ chén cũng được rót rượu vào.

-

Hai bên bình hương là hai cây đèn, cao khoảng bốn tấc chân tiện và lưng chừng có vành rộng ra gọi là đĩa đèn. Hai cây đèn này chính ra chỉ là cái đế để đèn, vì không có chỗ đựng dầu để thắp.

Trong những ngày cúng giỗ xưa kia, người ta đặt lên trên hai cây đèn này hai đĩa dầu lạc hoặc dầu lai dùng bấc đốt.

Từ khi tiếp xúc với Tây phương, hai đĩa dầu trên được thay thế bằng hai ngọn đèn Hoa Kỳ đốt bằng dầu lửa. Trong các nhà sang trọng những nơi đô thị, từ ngày có điện người ta mắc bóng điện thẳng vào hai cây đèn.

Gần hai bên bình hương, ngoài hai cây đèn có khi còn có hai con hạc chầu hai bên. Trên đầu hai con hạc cũng có chỗ để thắp nến.

Ở mé ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương án là hai ống hương, dùng để đựng hương. Hai ống hương này chân tiện, miệng hơi loa.

Trong trường hợp chỉ có một chiếc độc bình, thì đối diện với chiếc độc bình là một chiếc mâm bồng để bày hoa quả trong lúc cúng lễ, cũng có khi là một chiếc mâm chân quỳ.

Tất cả những đồ thờ trên: hương án, kỷ nhỏ, đèn, nến, ống hương, mâm bồng v.v... tại các gia đình bình thường, thường bằng gỗ mít, hoặc sang hơn thì sơn son thiếp vàng trừ bình hương và lọ độc bình, song bình bằng sành hoặc bằng sứ.

Thay cho các đồ gỗ trên, các gia đình sang trọng dùng đồ bằng đồng gọi là những bộ tam sự, ngũ sự hay thất sự. cũng có nhà sắm toàn đồ sứ Giang Tây rất quý.

Trong bộ tam sự có chiếc đỉnh đồng thường thay thế cho bình hương. Hai bên đỉnh là hai con hạc đồng trên mỏ ngậm hai bông hoa, trên đầu có chỗ

cắm nến, cũng có khi hai cành hoa được đúc khéo để biến thành hai nơi cắm nến.

Nếu là bộ ngũ sự, thêm vào ba thứ trên có hai ống hương, còn bộ thất sự

lại có thêm đôi đèn nữa.

Tất cả những khí tự trên, gia đình càng sung túc, càng sắm thứ đắt tiền quí giá. Những gia đình nghèo túng, dù sao cũng cố cho có được một bình hương và đôi đèn nến.

Trước bàn thờ, tại các nhà giàu có, đôi khi có bày thêm giá binh khí, có cắm bát bảo lộ tức là tám thứ vũ khí của quân sĩ thời xưa.

Những đồ tự khí được coi là rất thiêng liêng, nghèo thiếu đến đâu cũng không ai đám đem cầm bán, người nào bất đắc dĩ phải cầm đồ thờ đều bị

dân làng chê cười.

CHIẾC Y MÔN

Y môn nghĩa đen là chiếc cửa vải, như trên đã nói, chiếc y môn là chiếc màn ngăn cách lớp bàn thờ bên ngoài với lớp bàn thờ bên trong.

Chiếc y môn gồm ở phía trên một lớp ngang bằng vải lụa hoặc nhung the màu. Trên lớp ngang này thường có thêu hoặc dán mấy chữ đại tự, giống như những chữ khắc ở hoành phi.

Từ lớp ngang trên thõng đọc xuống hai cánh bằng vải, the, nhưng hoặc lụa màu hồng hay đỏ, có khi viền và thêu chung quanh, có khi chỉ khâu trơn các mép. Hai cánh này thường ngày được vén lên, chỉ buông xuống trong ngày giỗ, lúc gia trưởng đã cúng khấn và con cháu đã lễ bái xong.

Sở dĩ y môn buông xuống là vì trong lúc đó tổ tiên thụ hưởng đồ lễ, cần phải che màn đi để hương hồn các cụ có thể hưởng lễ được một cách tự

nhiên, cũng như người sống khi ăn không muốn kẻ đứng nhìn mồm dù đó là con cháu.

TỰ ĐĂNG

Ở đằng trước y môn thường có treo một chiếc đèn gọi là tự đăng. Xưa kia ta còn thắp dầu lạc thì tự đăng là một chiếc đèn lồng, về sau thay bằng một chiếc đèn ba dây thắp dầu lửa, và kể từ những năm có điện, tại các đô thị, chiếc đèn ba dây lại được thay bằng chiếc đèn điện.

Chiếc đèn này vào dịp giỗ tết được thắp suốt đêm ngày, trong thời kỳ

người ta cho rằng hương hồn người khuất tại vị trên bàn thờ.

Ngọn đèn tượng trưng cho sự hiện diện của tổ tiên.

THẦN CHỦ

Trên bàn thờ ông tổ một họ bao giờ cũng có riêng một thần chủ, thần chủ này để lại mãi mãi.

Tại các gia từ, các nhà phú quý mới lập thần chủ để thờ, và đã lập thần chủ thì phải có đủ thần chủ từ bốn đời trở lên, kể từ người gia trưởng. Ây là thần chủ của kỵ, cụ, ông và cha tức là cao, tằng, tổ, khảo.

Thần chủ làm bằng gỗ táo, lấy nghĩa rằng cây táo sống lâu được nghìn

năm.

Thần chủ dài vào khoảng hai tấc rưỡi, ở giữa đề tên họ chức tước, còn hai bên thì để ngày tháng sinh tử của tổ tiên.

Thần chủ có hộp vuông che kín để trong long khám, chỉ khi nào có cúng tế mới mở ra.

Thần chủ chỉ để từ bốn đời trở xuống, hễ đến đời thứ năm thì thần chủ

của cao tổ được mai đi và nhắc lần các bậc tằng tổ khảo lên bậc trên, rồi đem ông mới mất thế vào thần chủ ông khảo.

Việc mai thần chủ này gọi là Ngũ đại mai thần chủ, nghĩa là thần chủ đời thứ năm được chôn đi.

Tại các gia đình bậc thường ít nhà thờ thần chủ.

Nơi kê khám thần chủ có kê chiếc ỷ hoặc chiếc ngai tượng trưng sự tại vị

của tổ tiên.