Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏaPhần 47
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Mục đích không để mất sự liên hệ huyết thống tôn tộc cùng vấn đề thờ
phụng cho nên nếu gặp trường hợp người trai trưởng hay cháu trai trưởng trước đã giữ phần hương hỏa, nhưng vì nghèo đói phải đi phiêu lưu, lang bạt khắp nơi khác, đã lâu bỏ cả kỵ lạp, thời cho người con trưởng họ thừa tự.
nếu người con trai hay cháu trai lại về an nghiệp thì phần hương hỏa trước lại giao cho con hay cháu trai ấy giữ. người trưởng họ không được quyền giữ
(gián quyền).
(Quốc Triều hình luật - Lê)
Trường hợp mà người thừa tự mới chết hay là trong lúc phụng tự, mà thừa hưởng của hương hỏa xét ra không xứng đáng giữ việc phụng tự thời sẽ do một người thừa kế có quan thiết đến việc thừa tự ấy xin với hội đồng thân thuộc hội nghị để xác thực việc không xứng đáng ấy. Lời quyết định của hội đồng về sự truất quyền thừa hưởng hương hỏa phải nói rõ duyên cớ và có đệ trình tòa án duyệt y, nếu không thời vô hiệu.
người được thừa hưởng hương hỏa có thể do hội đồng thân thuộc tuyên cáo là bị truất quyền về các duyên cớ sau đây:
* Bỏ hẳn việc phụng tự
* Không có duyên cớ chính đáng mà quá lười biếng về trách nhiệm phụng
sự
* Bất tiếu
* Đạo mại hương hỏa
* Bị tòa án xử về tội đại hình
Tuy nhiên trong lời quyết định truất quyền thừa hưởng hương hỏa thời phải theo thứ tự luật định mà cử người khác thay. nếu người thừa hưởng hương hỏa bị truất vai chính là đích tử đích tôn thời hương hỏa tự nhiên sẽ
giao sang cho người con cả người bị truất ấy.
(Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật)
Quyền lợi và chức trách người thừa hưởng hương hỏa
Người thừa tự là người được thừa hưởng của hương hỏa mà hưởng thụ
hoa lợi, được thu các hoa lợi do của hương hỏa sinh ra, phải thụ hưởng một cách phải chăng để giữ gìn của hương hỏa ấy.
Nếu người thừa hưởng hương hỏa đang vị thành niên thời do người chính thất quả phụ không tái giá, hoặc do người giám hộ quản trị cho đến tuổi thành niên.
Người thừa hưởng của hương hỏa tự giữ lấy mà hưởng dụng hoặc đem của ấy cho thuê một phần hay toàn phần nhưng không quá ba năm, tuy nhiên sau đó có thể cho thuê lại... đồng thời phải bảo vệ giữ gìn mọi thờ
cúng ở trong từ đường.
Mặt khác phải tu bổ giữ gìn hương hỏa, sửa sang, trừ những chi tiêu để
cúng có thể xin hội đồng thân thuộc trợ cấp cho.
Ngoài các việc phụng tự và sửa sang phần mộ tiên nhân, từ đường, người được hưởng hương hỏa được dùng một phần hoa lợi chi tiêu cho mình.
Của hương hỏa không được mua bán, không bị tiêu diệt thời hiệu, trừ
trường hợp có chủ nợ người lập hương hỏa đối kháng.
Trong trường hợp từ đường hoặc chỗ thờ cúng đỗ nát mà trong thân thuộc không đủ tiền để chi về việc sửa sang và thờ cúng, mà người thừa hưởng hương hỏa lại không có hoa lợi để chi tiêu cho đủ, thời hội đồng thân thuộc có thể phát mãi một phần hương hỏa để chi tiêu về việc ấy, và những lúc xây mộ gia tiên cũng thế. Sự cầm bán ấy không thể quá mười năm.
Hương hỏa chung cuộc
Ruộng đất về hương hỏa của đời cao tổ trải năm đời rồi, hết tang phục là Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
tính hết. Những người trong chi họ ấy được đem ruộng đất nói trên mà chia nhau.
Nếu thế hệ chưa qua năm đời mà dòng họ đã tuyệt thì cho lập người ngành khác để làm con. nếu không chịu làm con, không được tranh cản, phải đem ruộng đất ấy để làm ruộng tam bảo ở làng đặt làm hậu nhà phật, cứ
ngày rằm mùng một thì các sư cụ trụ trì ở đó cúng dâng các vị hậu.
Lỗi đạo với dân tộc, bất hiếu với tổ tiên, bỏ hết việc giỗ Tết cứ lời xà trưởng làm bằng tố cáo lên quan nha trị tội, giàu nghèo quan dân bất phân.
(Quốc Triều hình luật)
Trong vấn đề hương hỏa còn có kỵ điền và hậu điền. Kỵ điền là ruộng giỗ, đất này tự người có giỗ lấy tài sản của mình mà đặt, có di hạ trong chúc thư, hoặc do con cháu, hoặc do tình ngải, ân nhân đặt cúng. Hậu điền là ruộng đất tài sản của những nhà tuyệt tự đem cúng cho nhà chùa để hàng năm nhằm ngày sóc vọng hương khói nương nhờ cửa phật.
Nhìn lại, các phần trên đã cho chúng ta thấy chẳng những phong tục nghi lễ của người Việt nam coi vấn đề hương hỏa là hệ trọng mà ngay pháp luật các triều đại, các chế độ đều nhằm bảo vệ hương hỏa. Do đó, ý thức hệ luân lý gia đình, gia tộc ở xã hội Việt nam vô cùng mạnh mẽ và hiệu lực. Đấy là một vấn đề quan trọng và ý nghĩa cho nền tảng văn hóa xã hội dân tộc Việt nam. Do đó, trật tự xã hội gia đình và nhân phẩm con người có một giá trị
đặc biệt, dịu dàng nhưng mạnh mẽ sâu xa và đẹp đẽ.
(Trích Xã Hội, Nguyệt San, số 4, tháng 1-1966)
(Thạc Nhân)
ĐẠO THỜ THẦN
Có thể nói được rằng đạo thờ Thần là một đạo thuần túy Việt Nam, và đạo này đã có từ khi có người Việt Nam. Xin đừng nhầm Thần đạo với một phần biến thể của Lão giáo do ảnh hưởng sai lầm của đạo này trong người bình dân Việt Nam, tin tưởng ở những truyện thần tiên huyền ảo.
Người Việt Nam tôn thờ và tin tưởng tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình, do đó tất cả đời sống tôn giáo của ta đã dựa vào một tin tưởng vững chắc: sự hiện diện của thần linh ở khắp mọi nơi, ở ngay trong nhà, ở ngoài sân, ở ngoài vườn, trên ngọn cây, ở đình làng và bất cứ nơi nào có một miếu
thờ hoặc hoàn cảnh thuận tiện cho sự trú ngụ của một vị thần.
Có thể nói rằng chính tổ tiên chúng ta cũng là những vị thần che chở cho con cháu, những vị thần đối với chúng ta chỉ làm thiện mà không làm ác.
Sở dĩ cần tìm hiểu Thần đạo trước khi bước sang các tôn giáo khác, sau khi đã nói về thờ phụng tiên tổ.
Trước hết ta không tìm thấy ở Thần đạo một vị giáo chủ nào, hay trái lại ta có thể thấy Thần đạo rất nhiều giáo chủ, mỗi vị thần có thể coi như một vị giáo chủ. Sau nữa nghi thức cúng thần tương tự với nghi thức cúng lễ gia tiên.
Khi cúng kiến một vị thần, tại gia đình chính vị gia trưởng là chủ lễ; tại thôn xóm có các trưởng thôn, trưởng xóm, tại làng xã có các vị hương chức, và ở trong nước thì có vua hoặc các quan thay mặt lo việc tế lễ. Không cần phải có tu sĩ riêng như các tôn giáo khác; phật giáo có tăng ni, Lão giáo có đạo sĩ, Thiên chúa giáo có thầy cả hoặc linh mục, Tin lành giáo có mục sư
v.v...
Những người hành tế về Thần đạo, gia trưởng, trưởng thôn, trưởng xóm, hương chức, vua quan, chính là những người thay mặt tất cả những người khác trong gia đình, trong thôn xóm, làng xã hoặc quốc gia.
Các vị thần linh
Khó có thể kể hết các vị thần linh. Mõi sức mạnh có thể là một vị thần, mỗi nghề nghiệp có thần thánh riêng, mỗi địa phương cũng vậy, và đi sâu hơn mỗi nơi đều có thể có một vị thần, trong nhà, trên ngọn cây, trên ngọn núi, dòng sông v.v... cả đến thời gian cũng có thần riêng, mỗi năm một vị
thần gọi là Hành khiển đại vương, môi tháng ngày cũng vậy. Lại có thể được coi là thần các linh thú, tức là một vài con vật, kể cả tứ linh: Long Ly Quy phượng, đã có những hành động giúp đỡ hoặc có thể tác hại cho người ta được; thần Bạch Hổ, thần Kim Quy... Một con vật có nghĩa, có khi cũng được tôn thờ, ở đây sự tôn thờ không vì con vật mà chính là vì sự có nghĩa của con vật.
Tục tin rằng tất cả các vị thần linh đều có ảnh hưởng đến đời sống, vận mệnh của dân chúng, từ lúc con người vừa là một bào thai cho đến khi nhắm mắt đi vào lòng đất. Tất cả các biến cố của đời người đều có thể do những ảnh hưởng của thần linh: đau ốm, thi cử, cưới xin, khao vọng v.v...
Không riêng con người, những súc vật ta nuôi, cửa nhà ta ở, vật dụng ta dùng cúng đều chịu sự chi phối của thần linh.
Để cùng tìm hiểu một cách dễ dàng đạo thờ thần tại Việt Nam ở đây chúng tôi lần lượt trình bày từ các vị thần ở trong nhà, trong làng xã đến các vị thần chung.
CÁC VỊ THẦN THỜ TẠI GIA
Ta có câu: Đất có Thổ công, sông có Hà Bá, nghĩa là tại các gia cư thì Thổ
công cai quản, còn tại sông thì có thần Hà Bá.
Thổ công là vị thần quan trọng nhất trong gia đình. Ngài tức vị Đệ nhất gia chủ, trên cả mọi vị thần khác.
Ngoài Thổ công, các vị thần khác được thờ tại nhà phải kể: Thần Tài, Tiên Sư, Tiên chủ, Đức Thánh Quan, Thần Hổ, Thổ Địa v.v...
Thổ công
Người Việt Nam đã thờ phụng tổ tiên thì gia đình nào cũng có thờ Thổ
công. Thổ công chính là vị thần trông coi gia cư, định sự họa phúc cho gia đình tín chủ. Nhờ Thổ công các hồn ma quỷ không xâm nhập được để quấy nhiễu những người trong nhà.
BÀN THỜ THỔ CÔNG
Đã thờ phụng, phải có bàn thờ. Nhà nào đã tin theo Thần Đạo đều có bàn thờ Thổ công. Nhiều người thuộc ngành thứ, không có bổn phận cúng giỗ, trong nhà không có bàn thờ tổ tiên, cũng thiết lập một bàn thờ Thổ công Bàn thờ Thổ công thường đặt ngay ở gian bên, cạnh bàn thờ tổ tiên. Tại những gia đình không có bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Thổ công được đặt ngay ở gian chính giữa nhà.
Bàn thờ Thổ công giản dị hơn bàn thờ tổ tiên, và gồm một chiếc hương án kê liền với hậu tường gian nhà.
Trên hương án có chiếc mâm nhỏ, giống chiếc bàn đặt trên hương án bàn thờ gia tiên, và ở trên cũng có ba đài rượu có nắp đậy như trên bàn thờ gia tiên vậy.
Đằng sau chiếc bàn nhỏ này, kê cao hơn lên là bài vị Thổ công, hoặc có khi được thay thế bằng một cỗ mũ gồm ba chiếc, chiếc mũ đàn bà đặt ngay ở giữa và hai bên chiếc mũ đàn ông. cũng có nhà chỉ thờ một chiếc mũ.
Đằng trước bàn thờ là bình hương hoặc đỉnh trầm. Hai bên bình hương hoặc đỉnh trầm là đôi nến, đôi ống hương.
Ở những gia đình túng thiếu, bàn thờ Thổ công lại càng giản dị hơn. có khi chỉ là một chiếc bàn, trên bàn có một bình hương và một cỗ mũ đặt ngay sau bình hương.
Dù bàn thờ có giản dị thế nào cũng vẫnlà một bàn thờ và đủ biểu lộ sự
thành kính của gia chủ đối với vị thần săn sóc gia cư mình.
BÀI VỊ THỔ CÔNG
Chính ra tại bàn thờ Thổ công không phải người ta chỉ thờ một vị thần, mà ở đây là ba vị thần với ba danh hiệu khác nhau.
Tại bài vị người ta đề cả ba danh hiệu của ba vị thần này trông coi về ba việc riêng biệt:
Thổ công trông coi việc trong bếp
Thổ địa trông nom việc trong nhà
Thổ kỳ trông nom việc chợ búa cho đàn bà hoặc việc sanh sản mầu vật ở
vườn đất.
Bài vị của ba vị thần lập chung và đề như sau:
Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân
Thổ địa Long mạch tôn thần
Bản gia
Ngũ phương ngũ thổ Phúc đức chính thần.
Chữ bản gia đặt lên trên vì mỗi nhà có riêng một Thổ công, không nhà nào giống nhà nào, và vị Thổ công của mỗi nhà đều được thay thế hằng năm vào ngày 23 tháng chạp âm lịch, tức là vào ngày lễ Táo quân. Nhân dịp này người ta sửa lễ cúng ông công, rồi người ta đốt bài vị cũ để thay bài vị mới.
Cũng có nhà thay vì bài vị trên, bài vị Thổ công được viết thu gọn như sau: Định phúc Táo quân
Tức là ông vua táo định phúc đức cho gia đình. phúc đức này do sự ăn ở
phải đạo của gia chủ và của người nhà.
Táo quân thường được tôn là Đệ nhất gia chi chủ nghĩa là vị chủ thứ nhất tại một nhà. chính vì vậy mà mỗi khi muốn cúng lễ đều phải cúng Táo quân trước và xin phép ngài để những vị được cúng lễ có thể tới phối hưởng.
Hai bên bài vị trên bao giờ cũng có một đôi câu đối, đôi câu đối này bất Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
di bất dịch:
Hữu đức năng ty hỏa
Vô tư khả đạt thiên
Nghĩa là:
Có đức trông coi việc lớn
Vô tư có thể lên trời
Sự thu gọn bài vị trong bốn chữ Định phúc Táo quân rất đúng, vì Táo quân gồm cả ba vị Thổ công, Thổ địa và Thổ kỳ.
Mũ thổ công
Mũ Thổ công có thể là một cỗ ba chiếc, một đàn bà và hai đàn ông, hoặc có thể chỉ là một chiếc đàn ông.
Mũ đàn ông có hai cánh chuồn vút lên, còn mũ đàn bà không có hai cánh chuồn đó.
Khi người ta thờ một cỗ mũ ba chiếc là người ta thờ đủ mũ dành cho cả
ba vị thần, còn trong trường hợp thờ một mũ, mũ đó là mũ Thổ công. cỗ mũ
hoặc chiếc mũ đặt chiếc bệ bằng giấy. Mỗi chiếc mũ có kèm theo chiếc áo và một đôi hia đính vào bệ giấy. Dưới mỗi chiếc mũ thường kê một trăm vàng thoi. Mũ, áo và hia Thổ công mỗi năm một màu, màu này ăn theo với ngũ hành: mỗi năm có một hành riêng và mỗi hành lại một môn khác.
Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Năm nào hành Kim như năm Quý Mão thì mũ màu trắng Năm nào hành Mộc thì mũ màu xanh
Năm nào hành Thủy thì mũ màu đen
Năm nào hành Hỏa thì mũ màu đỏ
Năm nào hành Thổ thì mũ màu vàng cũng như bài vị Thổ công, hàng năm mũ cũng được đem hỏa thiêu vào ngày Tết Táo quân và được thay thế bằng một cỗ mũ khác, cỗ mũ này cũng chỉ để thờ cho đến 23 tháng chạp năm sau.
Sự tích Táo quân
Đã nói tới sự thờ cúng Thổ công, tưởng cũng nên nói sơ quan về sự tích Thổ công.
Tục tin rằng ngày 23 tháng chạp, Thổ công lên chầu Trời tâu bày mọi việc xấu tốt của trần gian.
Thổ công là Thần đất và cũng là Thần Bếp núc. Người Trung Hoa lập bàn thờ Táo quân sát đất và khi cúng vái thì rót rượu xuống sàn. Hàng ngày vào lúc chiêu mộ, họ đều thắp hương cúng Thổ công.
Theo người Việt Nam sự tích Táo quân khác hẳn.
Táo quân nghĩa đen là Vua bếp.
Vua Bếp có ba ngôi, gồm ba vị thần linh như đã trình bày ở trên.
Sự tích Vua Bếp như sau:
Ngày xưa có hai vợ chồng nhà kia, chồng là Trọng cao, vợ là Thị nhi. Đôi vợ chồng lấy nhau đã lâu không có con, buồn phiền thường cãi cọ nhau, rồi đến một hôm Trọng cao giận quá đánh vợ.
Bị chồng đánh, bực mình Thị nhi bỏ nhà ra đi, gặp một chàng trai là phạm Lang đem lời khéo léo quyến rũ nên được cùng Thị nhi ăn ở thành vợ chồng.
Khi Trọng cao hết giận, thấy vợ đã bỏ đi mất, liền đi lùng kiếm khắp nơi để xin lỗi, nhưng tìm mãi không thấy vợ, bỏ cả công ăn việc làm, đi khắp chốn này qua chốn khác. Hết tiền Trọng cao phải hành khất lần hồi.
Một ngày nọ Trọng cao vào một nhà kia ăn xin. Bà chủ nhà mang cơm ra cho thì Trọng cao nhìn chính là Thị nhi, và Thị nhi cũng nhận ra chồng cũ của mình.
Đôi bên tỏ hết nỗi niềm cùng nhau. Thị nhi cũng hối hận vì đã trót lấy phạm Lang.
Đôi bên cùng nhau hàn huyện một chập, nhưng chợt Thị nhi nghĩ nếu bất thần phạm Lang trở về bắt gặp thì thật là khó ăn khó nói. nàng liền bảo người chồng cũ hãy tạm ra ẩn ở đống rơm ngoài vườn để nàng lo liệu sao cho mọi việc được vẹn toàn.
Hôm đó khi phạm Lang về bỗng nhớ đến ngày mai không có tro bỏ ruộng, châm lửa đốt đống rơm để hôm sau lấy tro.
Trọng cao lúc ấy vì ban ngày đi nhiều mỏi mệt đã ngủ say trong đống rơm và ở trong nhà, Thị nhi cũng đã ngon giấc.
Trọng cao bị đốt chết, lửa đống rơm bốc cháy phừng phừng.
Thị nhi ở trong nhà chạy ra, biết Trọng cao đã bị đốt chết, thương quá cũng nhảy vào chết trong đống rơm đang cháy.
phạm Lang thấy vợ chết, thương xót, nhảy vào đống rơm theo vợ và cũng chết cháy nốt.
Thế là cả hai ông một bà đều bị chết thiêu.
Cũng có sách chép hơi khác ở đoạn cuối:
Sau khi Thị Nhi đã lấy phạm Lang, một hôm trong nhà cúng đốt mã ngoài sân, có một người hành khất vào ăn xin, Thị Nhi trông thấy là chồng cũ của mình, động lòng thương đem tiền gạo ra cho, bị phạm Lang nghi ngờ, Thị
Nhi lấy làm xấu hổ đâm đầu vào đống lửa đốt mã tự tử. Trọng cao cảm tình ân nghĩa cũng đâm đầu vào lửa chết theo. phạm Lang thương vợ cũng nhảy luôn vào đống lửa. Thế là cả ba người cùng chết cháy.
Thượng đế thấy ba người có nghĩa mới phong cho làm Táo quân nhưng mỗi người giữ mỗi việc: phạm Lang là Thổ công trong nom việc trong bếp Trọng cao là Thổ địa trông nom việc trong nhà Thị Nhi là Thổ kỳ trông nom việc chợ búa.
Cúng thổ công
Ta cúng Thổ công có khác người Tàu, và tục thờ Thổ công của ta như trên đã nêu ra, cũng khác người Tàu.
Ta cúng Thổ công vào những ngày giỗ, tết, sóc vọng. Lễ cúng tùy theo gia chủ, có thể cúng chay, có thể cúng mặn.
Thường thì trong những ngày sóc vọng tức là ngày mồng một và ngày rằm âm lịch, người ta hay cúng chay, đồ lễ chỉ gồm có giấy vàng, giấy bạc, trầu nước hoa quả.
Tuy nhiên cũng có nhà cúng mặn, trước cúng sau ăn cốt do lòng thành.
cúng mặn phải có rượu, và đồ lề ngoài các thứ kể trên có thể có thêm xôi, gà, hoặc chân giò, hay có khi là cả một mâm cỗ.
Trong những ngày giỗ tết, trong nhà có làm cỗ nên cúng Thổ công cũng dùng đồ mặn.
Ngoài ra trong mọi trường hợp làm lễ cáo gia tiên đều có cúng Thổ công và người ta cũng khẩn cầu sự phò hộ của Thổ công như cầu khẩn gia tiên vậy.
Tiếng gọi là cúng Thổ công, nhưng khi cúng phải khấn đủ cả ba vị thần linh ghi trong bài vị, tức là:
Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân
Thổ địa long mạch tôn thần
Ngũ phương ngũ thổ Phúc đức chính thần
Tết Ông Công
Lễ cúng Thổ công quan trọng nhất trong năm tức là tết ông công vào ngày 23 tháng chạp âm lịch.
Theo tín ngưỡng cổ truyền thì ngày Tết ông công là ngày Thổ công lên chầu Thượng đế để báo cáo về những việc tai nghe mắt thấy ở trần gian.
Thổ công có nhiệm vụ thiêng liêng ghi chép tất cả mọi việc tốt xấu xảy ra trong một gia đình một cách khách quan.
Ngày 23 tháng chạp sau khi cúng ông công, người ta hóa vàng, đồng thời hóa cả mũ năm trước, gồm có mũ áo hia và vàng, người ta lại mua tặng ông công một con cá chép, con cá này là ngựa ông công cưỡi, được phóng sinh ra sông hoặc ra ao sau lễ cúng. con cá sẽ hóa rồng đưa ông công lên chầu Trời.
Ngày xưa người Trung Hoa thường có tục hối lộ ông công bằng cách khi hóa vàng thì đốt thêm gói kẹo để ông lên trời tâu toàn những lời dịu ngọt, che bớt tội lỗi đi cho.
Văn khấn Thổ công
Dưới đây là một mẫu văn khấn Thổ công. Văn khấn này chỉ cần thay đổi một vài chữ tùy theo ngày tháng là dùng được quanh năm:
Duy Việt Nam Quý Mão niên, chính nguyệt, sơ thập ngũ nhật.
Kim thần tín chủ Cao Văn Mễ toàn gia cư trú tại Tân Sơn Nhì xã, Tân Bình quận, khế thủ, đồn thủ bách bái.
Cần dĩ phù lưu thanh chước, kim ngân, hương đăng, hoa quả, mâm bàn cụ
vật, thứ phẩm chi nghi, cảm kiền cáo vu. Cung thỉnh
Bản gia Thổ công Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân vị tiền Bản địa Thổ địa thần kỳ vị tiền
Ngũ phương ngũ thổ Phúc đức chính thần vị tiền.
Lai lâm chứng giám
Ủng hộ gia chủ tự lão chí ấu bình an hạnh phúc vô bệnh vô tật.
Thượng hưởng
Lược dịch:
Nước Việt Nam, năm Quý Mão, tháng giêng ngày rằm Tín chủ là Cao Văn Mễ, toàn gia cư trú tại xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, trăm bái.
Kính cẩn dâng lên rượu nước, bạc vàng đèn hương, hoa quả, có bàn phẩm vật cùng mọi đồ lễ.
Cung mời
Bản gia Thổ công tại vị ở trước Thổ địa tại vị ở trước Thổ kỳ tại vị ở trước Giáng lâm chứng giám Cầu xin phù hộ gia chủ từ già đến trẻ hạnh phúc bình an, không bệnh không tật.
Thượng hưởng
THẦN TÀI
Thần tài là vị thần mang tài lộc lại cho gia đình nên ta tin thờ cúng vái.
Mỗi khi làm ăn việc gì gia chủ thường cầu khấn Thần tài.
người Trung Hoa khi thiết lập bàn thờ Thần tài thường mời thầy cúng tới cúng lễ để Thần tài được linh thiêng.
Vị trí và cách sắp đặt bàn thờ Thần Tài
Bàn thờ Thần tài không được thiết lập trên cao và ở một nơi quang đãng trong nhà như các bàn thờ Tổ tiên, Thổ công, hoặc Thánh sư...
Bàn thờ Thần tài thường được thiết lập ở những nơi xó xỉnh, góc nhà hoặc hàng hiên, và bàn thờ cũng không cần to tát và thường chỉ là một chiếc khám nhỏ sơn son thiếp vàng, hoặc có khi chỉ là một thùng gỗ có dán giấy đỏ.
Mé trong khám dán bài vị của Thần tài, viết trên giấy cũng màu đỏ. chữ
viết thường bằng kim nhũ:
Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần
Tiên Hậu Địa Chủ Tài Thần
Hai bên bài vị cũng có đôi câu đối
Thổ Năng Sinh Bạch Ngọc
Địa Khả Xuất Hoàng Kim
Nghĩa là:
Đất hay sinh ngọc trắng
Đất khá có vàng ròng
Đôi câu đối này có thể thay đổi, nhưng bao giờ cũng có một đôi. Trước bài vị là một bát hương kê trên một mâm vàng thoi. Hai bên bát hương có chai cây đèn nhỏ đủ thắp mà không bốc cháy lên khám. Trong khám gia chủ
thường thu xếp để có chỗ đặt mấy ly đựng nước, đựng rượu. cũng có một mâm bông để bày hoa quả phẩm vật khi cúng lễ.
Có nhà khắc khéo trên mặt khám mấy chữ đại sự và ở hai bên có đôi câu đối đại ý xứng tụng sự giúp đỡ của Thần tài và sự cầu mong của gia chủ.
Như trên đã nói, những nhà không sung túc, chiếc khám được thay đổi bởi một chiếc thùng, nhất là thùng sữa cũ, có dán giấy đỏ hết từ trong ra ngoài.
Sự tích Thần Tài
Sở dĩ người ta thờ Thần tài ở xó xỉnh là do điển tích sau đây. Theo sự tích này, Thần tài là một nữ thần, chứ không phải như các báo hằng vẽ một nam thần với râu ria mỗi khi nói tới Thần tài gõ cửa một nhà nào trong các cuộc xổ số kiến thiết.
Điển kể lại rằng:
Ngày xưa có một người lái buôn tên là Âu Minh, khi đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần cho một con hầu tên là như nguyện. Âu Minh đem như
nguyện về nuôi, trong nhà làm ăn phát đạt, chỉ vài năm là giàu to. Về sau nhân một hôm ngày Tết, Âu Minh đánh như nguyện. Sợ hãi như nguyện chui vào đống rác rồi biến mất. Từ đó nhà Âu Minh sa sút dần, chẳng mấy lúc mà nghèo kiết.
Người ta bảo như nguyện là Thần tài và người ta lập bàn thờ để thờ như
nguyện. Từ đó, ngày Tết ta có tục kiêng hốt rác trong ba ngày đầu năm sợ
rằng hốt mất Thần tài ẩn trong đống rác đổ đi, thì sự làm ăn sẽ không phát đạt tiến tới được suốt quanh năm.
Cúng Thần Tài
Nếu người ta chỉ cúng Táo quân trong những ngày sóc vọng, trong những dịp giỗ Tết, thì trái lại người Việt nam cúng Thần tài quanh năm, vì ở đây người Việt ta bắt chước theo người Trung Hoa.
Trong những ngày sóc vọng giỗ Tết, lễ cúng Thần tài cũng như lễ cúng Táo quân trong những dịp đó, nghĩa là có khi cúng mặn và có khi là cả một mâm cỗ. Trong những ngày thường lễ cúng Thần tài rất đơn giản, chỉ có trầu nước và đôi khi có một đĩa trái cây.
Mỗi buổi chiều, lúc buông chiêu mộ, bàn thờ Thần tài được thắp hương lên, có khi gia chủ khấn vái, có khi chỉ khấu thủ trước bàn thờ.
Chỉ trong những ngày sóc vọng, giỗ Tết, sự khấn vái của gia chủ mới cần thiết.
Văn khấn Thần tài cũng như văn khấn Thổ công chỉ thay đổi chỗ cung thỉnh...
. Tài thần vị tiền .
Những người làm ăn buôn bán rất tin tưởng ở Thần tài. Mỗi dịp xuất vốn, người ta đều xin làm lễ Thần tài.
Tiên sư, Thánh sư hay Nghệ sư
Thánh sư, Tiên sư hay Nghệ sư tức là ông Tổ một nghề, người đã truyền dạy nghề đó cho đời sau.
Các vị Thánh sư rất được người ta tôn trọng. Tại nhiều nơi những người cùng làm một nghề, cùng buôn một thứ họp nhau thành phường, có miếu thờ Thánh sư riêng, và đến ngày giỗ của Thánh sư gọi là giỗ phường, người ta cúng giỗ vị Thánh sư tại miếu này và mọi người trong phường cùng tới lễ.
Lễ tất nhiên là các phường viên đã phải cùng nhau góp tiền để cúng giỗ
phường. Những phường to thường có tài sản riêng, ruộng vườn để lấy hoa lợi dùng trong việc thờ tự Thánh sư.
Giỗ phường có khi được làm rất to và có tổ chức trò vui như một ngày hội: đánh cờ, leo đu, múa đối, hát chèo v.v...
Vị trí và cách sắp xếp bàn thờ Thánh sư
Bàn thờ tổ tiên thiết lập giữa nhà, một bên là bàn thờ Thổ công còn bên kia là bàn thờ Thánh sư.
Bàn thờ cũng được thiết lập trên một hương án kê sát vào tường hậu gian nhà.
Trong cùng chính giữa hương án là một chiếc bệ trên có kê bài vị của Thánh sư gồm tên họ, nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư. Bài vị này có khi được thay bằng một bức chân dung của vị Thánh sư, bức chân dung vẫn được các phường thuê vẽ sẵn, bán cho các phường viên. có nhà thờ cả một pho tượng của Thánh sư thay cho bài vị hoặc bức chân dung.
Trước bài vị là một chiếc bàn nhỏ có kê đài rượu có nắp đậy giống như
bên bàn thờ Táo quân. Rồi trước bàn nhỏ cũng là bình hương hoặc là một đỉnh trầm với hai bên có đèn nến, ống hương mâm bồng v.v...
Bàn thờ Thánh sư phần nhiều cũng giản dị như bàn thờ Thổ công. cần nhất bao giờ cũng có bài vị, bức chân dung hay pho tượng của vị Thánh sư.
Ngoài cùng bàn thờ Thánh sư cũng có một chiếc y môn.
Cũng có gia đình người ta lập ban riêng để thờ Thánh sư, ở ngoài cửa ban có treo một chiếc mành mành nhật nguyệt vẽ long phụng chầu hai bên.
Thánh sư đã được thờ tại miếu của phường, nhưng người Việt nam bao giờ cũng biết nhớ ơn những người có công với mình, nên ngoài bàn thờ
Thánh sư ở miếu là bàn thờ chung cho cả phường, mỗi phường viên đều thờ
Thánh sư tại nhà riêng mình nữa.
Cúng Thánh sư
Hàng tháng gặp những ngày sóc vọng, tuần tiết, giỗ tết, trong khi cúng gia tiên và Thổ công, gia chủ cũng cúng Thánh sư với đồ lễ tương tự như đồ
lễ cúng Thổ công.
Trong một năm, lễ cúng Thánh sư quan trọng nhất nhằm vào ngày kỵ nhật của Thánh sư. ngày nay, tại các phường có cúng giỗ, nhưng tại các tư gia người ta cũng vẫn cúng riêng để tỏ lòng nhớ tới ngày qua đời của ông Tổ
nghề mình.
Văn khấn Thánh sư cũng như văn khấn Thổ công chỉ thay đổi cung thỉnh Thổ công là cung thỉnh Thánh sư, theo như bài vị của từng nghề, mỗi nghề
một Thánh sư khác, và các vị Thánh sư trước đây cũng chỉ là những người thường, nhưng vì đã dạy nghề cho dân chúng nên được dân chúng tôn thờ.
Thí dụ:
Ba anh em các ông Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền, người làng Dinh công phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông đã truyền cho dân nghề Kim Hoàn từ
đời Lý Nam Đế.
Ông phạm Đôn người làng Thanh Nhạn, huyện Kim Anh, tỉnh phúc Yên (Vĩnh phú) mang nghề dệt chiếu từ làng Ngọc Hồ, tỉnh Quảng Tây bên Tàu về truyền cho dân Việt Nam, bắt đầu là làng Hải Thiện tỉnh Nam Định vào cuối thế kỷ thứ X.
Hòa thượng Khổng Lộ cùng hai học trò là phạm Quốc Tại và Trần Lạc trụ
trì chùa phả Lại, Hải phòng dạy dân ta nghề đúc đồ đồng vào đời vua Trần Thái Tôn 1226.
Ông Trạng Bùng tức phùng Khắc Khoan dạy dân ta nghề dệt the lụa vào đời vua Lê Kính Tôn (1600).
Trên đây chỉ nêu danh hiệu mấy vị Thánh sư để làm thí dụ. Mỗi nghề đều có một Thánh sư riêng.
Những người hành nghề, mỗi khi gặp việc trắc trở, đều làm lễ kêu khấn Thánh sư để được phù hộ cho gặp sự may mắn. Trong ngôn ngữ ta có danh Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
từ Tổ độ hay Tổ trát để chỉ những người may mắn được Tổ sư thương phù hộ cho hoặc những người không may mắn bị thua lỗ bởi sự trừng phạt của Tổ.