Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Phần 55
Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.
Văn miếu ở Huế còn có tên là Thánh miếu, xây vào năm 1808, cách chùa Thiên Mụ độ 300 thước.
Văn miếu Hà Nội
Theo phan Kế Bính thì Văn miếu Hà Nội lập ra từ đời Lý Thánh Tôn, nhưng có thuyết cho rằng Văn miếu có tại nước ta đã từ lâu, từ đời ông Sĩ Nhiếp.
Xét qua văn học sử nước ta, Văn miếu mới được dựng nên từ đời hậu Lý, do Thái sư Tô Hiến Thành hưng công, trên địa hạt xã Minh Giám, huyện Thọ
Xương cũ, chính vì tên xã này mà Văn miếu còn được gọi là đền Giám. Cũng có sách cho rằng Văn miếu đã từng được dùng làm Quốc tử giám nên gọi vậy.
Văn miếu lập nên để thờ cúng đức Khổng Tử cùng với những vị môn đệ
xuất sắc của ngài gồm:
Tứ phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử.
Thập triết: Tử cống, Tử Hạ, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng cung, Tế Ngã, Nhiễm Hữu, Quí Lộ, Tử Du và Nhan Uyên (tức là Nhan Tử đã đứng trong hàng Tứ phối).
Thất thập nhị hiền: Bảy mươi hai đệ tử thông hiểu đạo lý của Nho giáo.
Ngoài ra ở hai bên tả mạc và hữu mạc lại có thờ tất cả một trăm hai mươi vị cao hiền, tiên hiền, tiên nho đời Đường và đời Tống. Về sau nước ta có thờ
thêm ông chu Văn An một hiền sĩ đời Trần.
Xưa kia Văn miếu là nơi duy trì đạo cho nước. Hàng năm hai kỳ xuân, thu nhà vua dùng trọng lễ, thân ra tế hoặc cử đại thần đại diện tới tế để tỏ lòng tôn kính vị Vạn Thế sư biểu.
ĐỒ ÁN VĂN MIẾU HÀ NỘI
1. Khải thành điện
2. Nhà ở của những người thủ đền
3. Chỗ ngủ của các thầy tư tề
4. Miếu thờ thổ thần
5. Đại thành điện
6. Văn miếu
7. Đền thờ môn đệ phía đông
8. Đền thờ môn đệ phía tây
9. Đại thành môn
Kiến trúc Văn miếu
Khi quan Thái sư Tô Hiến
Thành hưng công dựng Văn
miếu, ngài có rập theo nét đại
cương kiến trúc đền thờ đức
Khổng Tử ở quê hương Ngài
thuộc làng Xương Bình, huyện
Khúc Phụ, nước Lỗ, nay thuộc
Duyệt châu tỉnh Sơn Đông.
Văn miếu Hà Nội kiến trúc
theo hình bình hành trên một
diện tích khá rộng, bề ngang 75
thước, bề dài 350 thước. chung
quanh Văn miếu có tường cao
bao bọc có cây cổ thụ um tùm
trông thật trang nghiêm.
Văn miếu chia làm năm đợt từ
ngoài vào, ngăn nhau bởi những
bức tường có năm cửa chính ăn thông.
Mặt trước Văn miếu trông thẳng ra phố Sinh Từ, đằng sau là đường đi
Thái Hà ấp.
Ngoài cùng về phía Sinh Từ là cửa tam quan.
Lớp thứ hai có cửa là Đại trung môn. Hai bên Đại trung môn có hai cửa nhỏ là Đại tài môn và Thành đức môn.
Lớp thứ ba có cửa là Khuê văn các, hai bên có hai cửa nhỏ là cúc văn và Bi văn.
Lớp thứ tư có cửa là Đại Thành môn, hai bên có hai cửa nhỏ là Ngọc Trần và Kim Thanh.
Lớp cuối cùng có cửa hậu ăn thông vào sân sau. Bên phải có một cửa nhỏ
gọi là Đông môn.
Từ phố Sinh Từ đi vào qua một đường ngang. Trước Văn miếu là bốn cột trụ, rồi thẳng tới Tam quan. Đây là cửa chính, và cửa này có gác.
Kế đó là lớp sân rồi đến Đại trung môn.
Khỏi Đại trung môn lại là một lớp sân rộng hơn rồi tới Khuê văn các.
Qua Khuê văn các là sân Thạch bia. Đây là trung tâm Văn miếu. Giữa sân có một giếng vuông gọi là Thiên quan tỉnh. Về phía đông và phía tây, hai bên giếng có hai ngôi đền thờ vọng để hàng năm vào những kỳ tế lễ ở đây có người tới dâng hương. Hai bên tả hữu hai ngôi đền là những hàng bia đá, tổng cộng tất cả 82 tấm dựng lên từ đời nhà Lê có ghi danh sách cùng quê 1.295 vị tiến sĩ của kỳ thi đã mở.
Khỏi sân Thạch bia là cửa Đại Thành. Hai bên có hai dãy đền thờ 72 môn đệ của đức Khổng Tử. cuối hai dãy đền thờ này, ở ngay giữa sân có một tòa nhà tám mái nằm ngang. Tòa này có 40 cột lớn sơn son thiếp vàng lộng lẫy và được ngăn đôi:
- Đằng trước gọi là Văn miếu, có bàn thờ đức Khổng Tử, hai bên có những hạc thờ đậu trên lưng rùa.
- Đằng sau là điện Đại Thành cũng thờ đức Khổng Tử. Ở đây có một chiếc ngai lộng lẫy vàng son, trên ngai có bài vị đức chí Thánh tiên sư.
Hai bên chiếc ngai là bài vị thờ Tứ phối.
Đằng sau Tứ phối là bài vị Thập triết và Thất thập nhị hiền.
Sân sau cùng của Văn miếu là đền Xã Tắc. Một chiếc cửa ăn thông từ điện Đại Thành tới đền này.
Ở sân sau cùng có miếu thờ Thổ Thần tại phía Tây. Lại có bốn thạch nghiễn và hai dãy nhà đối nhau, một dãy dành cho những người coi giữ Văn miếu, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
còn một dãy dành cho những người phụ trách việc tế lễ.
Trong cùng sân là điện Khải Thành, nơi thờ song thân đức Khổng Tử cùng những bậc sinh thành của Tứ phối.
Sau Khải Thành điện là khu vườn có cây cao bóng mát.
Kể từ khi xây cất đến nay, Văn miếu đã được trùng tu nhiều lần, nhưng vẻ
trang nghiêm vẫn lưu truyền suốt đời nọ qua đời kia, và con người đã cắp sách đi học đôi ba chữ Hán trước đây, ai đối với văn miếu, cũng như đối với văn từ và văn chỉ đều có thái độ cung kính để tỏ sự biết ơn đức Vạn Thế sư
biểu.
Khổng miếu tại các tỉnh
Ngoài văn miếu xây cất tại Hà Nội và Huế, văn từ hoặc văn chỉ xây cất tại xã thôn, tổng và huyện, tại các tỉnh lỵ xưa kia cũng có nơi thờ tự đức Khổng Tử, các đệ tử của Ngài. Những nơi này thường được gọi là Khổng miếu, do hàng tỉnh trông nom và tu sửa.
Khổng miếu tại Quảng Nam
Để bạn đọc có một ý niệm sơ qua về Khổng miếu hàng tỉnh, dưới đây xin trình bày sơ lược, một miếu này, Khổng miếu tại Quảng Nam. Miếu này chứng tỏ dân chúng Việt Nam đâu đâu cũng tôn sùng đức Vạn Thế sư biểu.
Trước đây, về đầu thế kỷ thứ XIX, khi vua Gia Long lập quốc, tỉnh Quảng Nam có xây nên một văn miếu, tại phía Tây xã cân Nhí, huyện Diên Phước, quận Điện Bàn ngày nay, nhưng vì văn miếu ở gần sông, bị nước xoi lở, được rời về phía Đông xã này, nhưng vẫn bị xoi lở, nên đến đời vua Minh Mạng văn miếu được chuyển hẳn sang làng Thanh chiêm cùng huyện.
Kiến trúc - Khổng miếu Quảng Nam có nền kiến trúc giống với điện Đại Thành tại Đài Loan, tuy nhiên cửa Tam quan nơi Khổng miếu Việt Nam lại xây y hình cửa Khuyết lý ở Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông bên Tàu.
Cửa Tam quan này có ba lối vào. Lối giữa là Đại Trung môn rộng và cao hơn lối tả hữu. Mái lợp ngói âm dương.
Dưới mái này có một mô hình đắp theo điển đức Khổng Tử giảng đạo đồ.
Ngang mô hình là một tấm đá cẩm thạch có khắc ba chữ Khổng Tử miếu.
Tại các trụ Tam quan đều có câu đối như ở bất cứ nơi đình đền nào.
Qua Tam quan là một hồ sen rộng, có cầu bán nguyệt bắc ngang là lối đi vào trong miếu. Khỏi hồ sen là bốn trụ biểu, mỗi trụ bên trên đều có một
con kỳ lân.
Khỏi các trụ biểu là một tấm bình phong có đắp hình con Long mã theo điển “Long mã phụ đồ”, con Long mã đời vua phục Hy mang trên lưng Hà Đồ.
Qua khỏi bình phong là một sân vuông, bốn góc có trồng bốn cây tùng tượng trưng cho Tứ phối. Hai bên Nam Bắc có trồng hai hàng mười cây tùng, tượng trưng cho Thập triết. Và trong cùng hai bên mé sân, có trồng 72 cây tùng khác tượng trưng cho Thất thập nhị hiền.
Hai bên sân có Đông môn và Tây môn.
Khỏi sân là miếu chính với nhà Tiền đường rộng rãi. Sau nhà Tiền đường là Đại Thành điện, nơi thờ
đức Khổng Tử có dựng
tượng Ngài, đầu đội vương
miện nhà chu.
Trên đây là mấy nét sơ
qua về Khổng miếu tại
Quảng Nam. chính ra tại
miếu này còn có đắp mô
hình theo các điển tích liên
quan tới đời Khổng Tử
hoặc tới các môn đệ của
Ngài.
Khổng miếu tại Quảng Nam
Tại các tỉnh khác nhiều
nơi cũng có Khổng miếu. Kiến trúc về đại cương bao giờ cũng có tam quan, sân mỗi nơi mỗi khác, nhưng tựu trung bao giờ cũng phân ra hậu tẩm và nhà tiền đường.
Văn Thánh miếu
Trước đây tại Nam Việt, việc thành lập các tỉnh chưa hoàn bị dưới triều Nguyễn, quân pháp đã kéo sang, do đó triều đình cũng như dân chúng chưa kịp xây dựng Khổng miếu tại các nơi.
Cho đến dưới triều Tự Đức, toàn hạt Nam Việt chỉ có một Văn Thánh miếu tại Bình Dương, cũng như chỉ có một trường thi ở Gia Định. Văn Thánh miếu thờ đức Khổng Tử và môn đệ.
Năm 1863, quân Pháp chiếm mất ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, gồm cả
Bình Dương ngày nay, Gia Định và Định Tường, bấy giờ Khâm sai Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản mới cho lập trường thi khác tại An Giang, hồi đó thuộc châu Đốc và xây dựng một Văn Thánh miếu khác tại địa phận xã Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Văn Thánh miếu được dân làng Long Hồ săn sóc và lo việc đèn nhang tế tự theo tục lệ. Hàng năm có hai kỳ xuân tế và thu tế
như tại các Văn miếu ở Huế và Hà Nội.
Văn Thánh miếu gồm:
Chánh điện thờ đức Khổng Tử. Hai bên có Tả ban và Hữu ban thờ Tứ phối và Thập triết.
Hai miếu nhỏ hai bên chánh điện là Tả vu và hữu vu thờ Thất thập nhị
hiền.
Và đằng trước Văn Thánh miếu, mé bên trái có Văn Xương các. Đây là một ngôi đền có lầu, trên thờ đức Văn Xương đế quân, một vị thần chủ về văn học, và phía dưới thờ ông Phan Thanh Giản, người đã đứng lên xây Văn Thánh miếu.
Ở Văn Thánh miếu ngoài việc cúng bái tế lễ về Nho giáo, dân làng Long Hồ hàng năm thường cúng giỗ cụ Phan Thanh Giản trong hai ngày mồng 4
và mồng 5 tháng bẩy âm lịch
Ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam
Trải gần hai nghìn năm du nhập vào Việt Nam, Nho giáo đã có một ảnh hưởng tuy không rầm rộ nhưng vững chắc trong mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam. Gia dĩ luân lý đạo Khổng là hai nền luân lý rất phù hợp với tâm hồn Đông Phương, nhất là đối với người Việt Nam, luôn luôn phải dùng lễ
nghĩa để đối phó với mọi sức mạnh tự ngoại đến.
Ngày nay, qua mọi tổ chức gia đình và xã hội Việt Nam ta đều thấy ảnh hưởng của Nho giáo, và rõ rệt nhất là về tế tự. Bao nhiêu nghi thức tiết lễ
của Khổng giáo đã dần được áp dụng trong việc phụng thờ của các tôn giáo khác, đáng kể hơn hết là trong đạo Thờ phụng Tổ tiên, đạo thờ Thần và đạo Lão biến thể. chính vì áp dụng những nghi thức Khổng giáo trong các cuộc tế lễ thờ Thần đã khiến cho nhiều tác giả ngoại quốc bảo rằng giữa các tôn giáo Việt Nam có một sự hỗn độn hổ tương làm người ta khó phân biệt được cương giới của mỗi tôn giáo.
Những tục lệ về quan hôn tang tế của Việt Nam cho đến ngày nay vẫn là
những tục lệ ảnh hưởng nhiều của Khổng giáo. Trong gia đình, ngoài xã hội, mọi cách cư xử người ta đều dựa vào “tam cương ngũ thường”.
Chính cái ảnh hưởng sâu xa của Khổng giáo đã rõ rệt nhất trong gia đình cũng như chốn triều đình.
Ở triều đình nhà vua có một quyền tuyệt đối với bách quan và thần dân; trong gia đình, người cha cũng có một quyền tuyệt đối đối với các con. Sự
hiếu thảo là một đều bắt buộc, lúc cha mẹ sống con cái phải phụng dưỡng, lúc cha mẹ chết con cái phải thờ phụng. Việc thờ phụng ông bà cha mẹ tại Việt Nam đã được nhiều người ngoại quốc lầm coi là một tôn giáo, vì sự cẩn trọng của người sống đối với anh hồn người chết. Tất cả mọi biến cố xảy ra trong gia đình, con cái đều phải làm lễ cáo gia tiên, từ việc một đứa trẻ ra chào đời, việc thi đỗ cho đến việc một người trong gia đình từ trần.
Hàng ngày, trong mọi hành động, người ta đều giữ gìn để khỏi phạm tới luân lý, tức là những điều đã vạch ra bởi ngũ thường.
Khi nói năng một điều gì để biện bạch, những lời đức Khổng Tử nói đều được đem ra dẫn chứng. Đức Thánh đã dạy sao, người ta đều cho là phải. Và khi nhắc đến đức Khổng Tử, người ta không nhắc thẳng tên người mà chỉ
gọi là đức Thánh.
Người ta tôn trọng đức Thánh đến mức tôn trọng cả những chữ đã dùng để truyền bá đạo Ngài. Gặp một tờ giấy chữ Nho, người ta nhặt lên rồi đem thả theo dòng sông hoặc đem đốt đi, để dưới đất sợ ô uế chữ Thánh. Không bao giờ người ta đem dùng những tờ giấy đã viết chữ Nho vào việc kém tinh khiết như gói món ăn, lau chùi đồ dùng v.v...
Làm điều gì người ta cũng cân nhắc tôn trọng lễ nghĩa, nhất là trong việc giao tế hàng ngày giữa mọi người bao giờ người ta cũng lấy lễ làm trọng. Lễ
duy trì trật tự trong xã hội cũng như giữ vững được sự liên lạc mật thiết giữa mọi người.
Tại các vùng quê trước đây, mỗi làng đều có một hoặc nhiều ông đồ dạy học. Trẻ con đến tuổi đi học được bố mẹ cho tới nhà các ông đồ này ăn mày đạo Thánh dăm ba chữ.
Trước khi cho con đi học, bố mẹ đã cáo gia tiên và đã có sửa lễ ra văn từ
hoặc văn chỉ ở làng để khấn đức Thánh và các vị tiên hiền cho con được đi học và xin các ngài phù hộ cho đứa bé thông minh sáng láng. Đứa bé cũng phải lễ trước bàn thờ.
Khi ông đồ nhận dạy thêm một đứa học trò mới, ông phải thắp hương khấn đức Thánh để trình cùng Ngài việc gia nhập cửa Khổng sân Trình của một môn sinh mới. Tại nhà các ông đồ, bao giờ cũng có bàn thờ đức Khổng Tử và các môn đệ nổi tiếng của Ngài.
Chính vì việc khấn lễ nhập môn của đứa nhỏ mà bao giờ đứa con đi, cha mẹ cũng phải sửa cái lễ để cúng đức Thánh tại nhà ông đồ. Mâm lễ to nhỏ
tùy tâm, nhưng thường gồm con gà đĩa xôi và trầu rượu.
Kể từ ngày bắt đầu đi học đứa trẻ phải có cử chỉ đường hoàng, không như
ngày còn ở nhà. Tất cả các môn sinh Khổng giáo đều phải giữ mình cho ngay thẳng, ngay thẳng trong y phục, ngay thẳng trong ngôn ngữ, trong cử chỉ.
Và đã đi học, sau khi học xong mấy cuốn sách vỡ lòng như “Tam tự kinh”,
“Minh Đạo gia huấn”, các học trò đều phải học qua Tứ Thư, Ngũ Kinh để hiếu thấu đạo Thánh và để tham dự các kỳ thi.
Hiểu thấu đạo Thánh, người ta phải ăn ở cho có đạo đức, tránh sự chê cười của mọi người làm mang tiếng cho thầy học và đo đó phạm tới đạo Thánh hiền.
Ngày nay, thời thế đổi thay ảnh hưởng Khổng giáo không còn được hoàn toàn như xưa trong mọi tầng lớp dân chúng, nhưng cũng không phải vì sự
chung đụng với Tây phương mà con người đã bỏ hẳn đạo đức. Đạo đức vẫn được duy trì trong lòng người và trong tục lễ, tuy có nhiều sự thay đổi, nhưng sự thay đổi chỉ mạnh ở các đô thị và ở một số người hay a dua không suy xét.
Đối với những người có căn bản đạo đức, mặc dù hòa mình theo nếp sống hiện tại, nhưng bao giờ cái tinh thần đạo đức cũng vẫn vững bất cứ ở trường hợp nào.
Tế Nam Giao
Kể về ảnh hưởng Nho giáo tại Việt Nam, ta phải nhận rằng mọi nghi lễ về
cúng tế của đạo Nho đã được các tôn giáo khác, nhất là đạo Lão và đạo thờ
Thần đem áp dụng trong việc cúng tế.
Và trong các cuộc tế lễ bắt nguồn từ Nho giáo, quan trọng nhất phải kể
là tế Nam Giao, tức là tế lễ Trời Đất, nguồn gốc có từ đời vua Vô Hoài, vua Phục Hi.
Chủ tế do chính nhà Vua đảm nhiệm. Vua tức là Thiên Tử cử hành lễ để
thông cảm lẽ
Trời Đất với
muôn dân.
Theo quan
niệm phương
Đông,
Trời
không phải
chỉ là khoảng
không gian
xanh
biếc
gồm các nhật
nguyệt tinh
vân, mà Trời
chính là đấng
chúa
tể
thiêng liêng
sinh
hóa
muôn
vật,
chủ trì vận
mệnh
của
loài người.
Do đó có
việc tế Trời,
và trong một
nước chỉ có
nhà vua mới
Nhạc khí trong tế Nam Giao
có
quyền
đứng chủ tế,
ngoài ra không ai được mạo lạm tế Trời cả. Quyền hạn và tế tự người xưa phân biệt rất nghiêm minh. cùng với tế Trời có tế cả Đất và tinh vân phong vũ...
Việc tế Trời trước đây hàng năm cử hành một lần, nhưng từ năm Đồng Khánh thứ ba, lễ này được tổ chức ba năm một lần, thay vì nhất niên nhất lễ, Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Nguồn gốc lễ nầy bắt đầu như trên đã nói từ đời vua phục Hi. Nhà vua làm lễ phong, xây đàn ở núi Thái Sơn để tế Trời.
các đời vua sau, không lên núi Thái Sơn làm lễ, cho xây đàn ở ngoài kinh thành về phía Nam
gọi là đàn Nam Giao.
Đàn Nam Giao Việt
Nam
Ở nước ta, đàn
Nam Giao xây ở phía
Nam kinh thành Huế.
Đàn xây từ đời vua
Gia Long, tại làng An
cựu, song song với núi
Ngự Bình, cách Huế
ba cây số. Ngày nay,
nơi đây được kể là
một thắng cảnh của
đất Thần kinh.
chu vi đàn đo được
152 trượng 9 thước, 1
trượng là 10 thước ta
tính vào 4 thước ngày
nay. Bốn mặt có
tường xây bằng đá,
cao 4 thước 10, có cửa
ra vào, mỗi cửa có
bốn cột lớn. Ngoài
cửa có dựng một bình phong bằng gạch, dài vào khoảng 10 thước và cao chừng 3 thước.
Trong đàn trồng toàn thông, những cây thông này do các vị đại thần, mỗi vị trồng một cây: ngày tế Giao, các cây thông đều có đeo tên các vị đại thần đã trồng chúng.
Đàn
Nam
Giao gồm có 3
đàn:
Đàn thứ nhất
ở chính giữa, đắp
hình tròn, đường
kính 9 trượng 6
thước ta, cao 7
thước ta, xây
bằng gạch. Mặt
gạch dày 2 thước
20, chung quanh
có lan can cao 2
thước dày 7 tấc
sơn màu xanh. Về
bốn phía Đông,
Tây, Nam, Bắc,
đều có thềm lên
xuống,
thềm
chính về hướng
Nam có 15 cấp,
còn ba thềm kia
đều có 9 cấp.
Đàn này gọi là
Viên đàn có
hương án thờ
Trời, Hiệu Thiên
Thượng Đế, sắc xanh và hương án thờ Đất, Hoàng địa ký, sắc vàng. Ngày xưa quan niệm Trời tròn Đất vuông và Trời xanh Đất vàng.
Đàn thứ hai xây hình vuông, mỗi bề dài 19 trượng cao 2 thước 65, bốn mặt có thềm lên xuống. Đàn này gọi là phương đàn.
Đàn thứ ba cũng xây hình vuông, mỗi bề dài 32 trượng 7 thước, cao 2
thước 1 tấc, sơn màu đỏ. Ở đây có nhà Đại Thứ, hướng Đông Nam có nơi Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
thiêu trâu gọi là sở Phần sài, hướng Tây Bắc có nơi chôn mao huyết gọi là sở
Ẽ khảm.
Bên ngoài đàn, về phía Đông Bắc có nhà Thần trù, tức là bếp thiêng và nhà Thần khố tức là kho thiêng, về phía Tây Nam có nhà Trai cung. Hai bên Trai cung có hai phòng Thượng Trà và Thượng Thiện lo cơm nước cho nhà vua khi ngài dự tế Nam Giao.
Đàn Nam Giao thường ngày để lộ thiên. Khi nào có lễ, Bộ Lễ mới lo bài trí.
Trên Viên đàn lợp vải xanh, Phương đàn lợp vải vàng.
Trên Viên đàn, ngoài bàn thờ Trời Đất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các đức Tiên Đế, từ Đức Thái Tổ Gia Dũ hoàng đế tức là chúa Nguyễn Hoàng đến Đức Dục Tôn Anh hoàng đế tức là vua Tự Đức.
Ở giữa Thanh Ốc, nhà xanh, trên Viên đàn, có hai Nội án một đặt rượu thịt và một đặt ngọc bạch.
Tại Phương đàn, có tám hương án phụ, gọi là trùng đàn bát án. Bên tả
bốn án thờ thiên thần:
-
Đại minh chi thần, mặt Trời.
-
châu thiên tinh tú chi thần, các vị sao.
-
Vân Vũ Phong Lôi chi thần, mây, mưa, gió, sấm.
-
Thái tuế Nguyệt tướng chi thần, năm và tháng.
Bên hữu có một án thờ một vị thiên thần:
-
Dạ minh chi thần, mặt Trăng
và ba án thờ địa thần:
-
Sơn Hải Giang Đầm chi thần, núi, biển, sông, đầm
-
Kỳ Lăng Phần Diễn chi thần, đồi, gò, đống, đồng bằng
-
Thiên hà thần kỳ chi thần, các vị thần khác trong thiên hạ.
Sửa soạn tế Nam Giao
Một năm trước ngày lễ, Bộ Lễ phải lựa chọn trước để dùng làm lễ Tam sinh trong kỳ tế:
- Hai con trâu đen tuyền, sừng nhu nhú đỏ, thêm 200 con trâu khác sừng đen dài vào khoảng ngón tay.
-
Hai con dê trắng, thêm một trăm con dê vàng.
-
Hai con lợn đen tuyền, thêm một trăm con lợn khác.
Những con vật này gọi là con sinh sẽ được nuôi trong một chuồng riêng
làm bằng tre non, lợp lá gồi, bốn bề xây gạch, cho tới ngày chúng bị mổ thịt làm lễ.
Cũng nên nói thêm rằng, số con sinh ngày càng giảm rút trong những kỳ
tế cuối cùng dưới triều vua Bảo Đại.
Ngoài ra Bộ Lễ cũng phải dự trù sẵn hai viên khuê ngọc và chín tấm lụa Ba tấm lụa màu vàng, gọi là lụa Tiến, do làng Đầu Sơn tỉnh Kiến An nay là Hải phòng cung cấp.
Ba tấm lụa màu đỏ, gọi là lụa Nguyễn, do làng Nguyễn Xá, phủ Tiên Hưng tỉnh Thái Bình cung cấp.
Ba tấm lụa màu xanh, gọi là lụa Hạc, do làng Hạc tỉnh Sơn Tây (Hà Sơn Bình) cung cấp.
Khuê ngọc và chín tấm lụa được cất trong hai chiếc tráp sơn son thiếp vàng cho đến ngày lễ. Ngoài ra lại phải có sẵn 100 tấm lụa khác, loại lụa thường, năm mươi tấm màu xanh để lợp Viên đàn và năm mươi tấm màu vàng để lợp phương đàn.
Đến ngày lễ, ngoài các lễ vật trên, phải có thêm hương hoa trầu rượu, và đặc biệt phải có nến sáp ong để dùng thắp sáng trong các buổi lễ.
Một tháng trước ngày lễ, một vị đại thần được cử tới đàn Nam Giao để
làm lễ cáo yết thiên địa. Vị đại thần phải bận triều phục và làm lễ cáo yết vào giờ Tý. Đồng thời vị nầy cũng phải cáo yết các tiên vương để kính mời các người về dự đại lễ.
Ba ngày trước hôm Đại tế, nhà vua ngự giá từ Đại nội lên Trai cung để trai giới và dự bị hành lễ. Trong kỳ Nam Giao cuối cùng vào ngày 29 tháng 3 năm 1942, vua Bảo Đại chỉ ngự lên Trai cung trước có một ngày. Lễ cử hành lúc một giờ sáng ngày 29 tháng 3, thì nhà vua rời Đại Nội 6 giờ 30 sáng ngày 28
tháng 3 năm 1942.
Trong khi nhà vua ngự ở Trai cung, các quan trợ tế ở tạm tại các nhà tranh dựng ở xung quanh đàn.
Đám rước Ngự giá từ đại nội đến đàn Nam Giao
Như trên đã trình bày, ba hôm trước ngày đại lễ, nhà vua ngự giá từ Đại nội tới Trai cung. Đám rước nhà vua đi rất long trọng, theo nghi thức nghiêm trang. Hai bên đường dân chúng đều bày hương án để bái lễ nhà vua.
Để bạn đọc có ý niệm về đám rước ngự giá này, ở đây xin thuật lại qua Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng
các tài liệu đã ghi chép được về lễ Nam Giao năm 1942, tức là năm Nhâm Ngọ, lễ Nam Giao cuối cùng được tổ chức tại Việt Nam.
Mấy ngày hôm trước đại tế, các làng, các tổng thuộc tỉnh Thừa Thiên phải đặt hương án bái vọng hai bên những ngả đường nhà vua sẽ ngự giá đi qua từ Đại Nội đến Trai cung.
Sáng ngày 28 tháng 3 năm 1942, tức là ngày 12 tháng 2 năm Nhâm Ngọ, đám rước nhà vua ngự giá khởi hành bắt đầu từ Nội điện qua cửa Ngọ Môn.
Khi đám rước qua Đại cung môn, chín phát súng lệnh nổ lên đồng thời chiêng trống cũng nổi dậy.
Đám rước chia làm ba đạo: tiền đạo, trung đạo và hạ đạo, gồm các quan văn võ, lính tráng cờ quạt, tàn lọng, voi ngựa cùng phường nhạc, do cửa Đông Nam ra Hoàng Thành, qua cầu Trường Tiền, qua thành phố Huế, qua cầu Phú cam rồi thẳng đến Nam Giao.
Dọc đường, ngoài các hương án ở hai bên khói hương nghi ngút còn các cổng chào với cờ quạt rợp trời.
Đi đầu đám rước là Tiền đạo do một vị Đô thống chỉ huy, có năm thớt voi trang hoàng lộng lẫy, bành đỏ, tán tía. Hai bên, quân lính cận vệ, quần áo trắng, thắt lưng điều vác cờ song song cùng tiến.
Sau năm thớt voi là các sĩ quan thị vệ với những lá cờ ngũ hành điển hình, và ở giữa là một thần kỳ tượng trưng nhật nguyệt tinh vân.
Sau đó là Trung đạo, có nhà vua ngự trên một chiếc xe sáu ngựa, ngồi nghiêm trang, nhận sự tung hô chào đón của dân chúng. Nhà vua mặc chiếc áo gấm vàng, đội khăn vàng biểu hiện của Hoàng triều.
Rồi đến các kiệu đựng lễ phục nhà vua sẽ sử dụng trong buổi Đại tế.
Sau cùng là Hậu đạo gồm các hoàng thân, các quan đại thần với y phục sặc sỡ.
Đám rước đi qua, dân chúng theo sau đông như kiến cỏ.
Lễ tập
Để việc hành lễ ngày hôm sau không gặp sự vấp váp gì, ngay buổi chiều ngày 28 tháng 3-1942, một lễ tập được cử hành vào hồi 16 giờ chiều với đúng nghi thức của chánh lễ đại tế. Dân chúng được dự xem kể cả đàn bà.
Trong lễ tập, một vị đại thần đóng vai chủ tế thay nhà vua.
Chánh lễ
Chánh lễ do chính nhà vua cử hành, và đây là một lễ trang trọng, nên chỉ
một số rất ít người được tới dự. Tuyệt đối cấm đàn bà không được nhòm ngó vào buổi lễ.
Lễ bắt đầu vào giờ Tý ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Ngọ. Nhà vua từ Trai cung qua Giao Đàn theo lối cửa Tây; đi theo có các vị hoàng thân, đại thần và một số văn võ quan viên chấn sự.
Kể từ lúc nhà vua rời khỏi Trai cung, tiếng Đại Hưng chung khí nổi lên, nổi mãi tới khi nhà vua tới Giao Đàn mới thôi.
Hành lễ, nhà vua mặc áo mũ cổn Miện, khác với đồ triều phục vua dùng trong các buổi đại lễ tại điện Thái Hòa. Đây là y phục riêng dùng trong việc tế Nam Giao, y phục theo kiểu đã có từ mấy nghìn năm về trước và vẫn giữ
nguyên vẻ cổ kính thời xưa.
Áo cổn màu tía, tay rộng và dài, thân áo có thêu hình mặt trời, mặt trăng, sông núi, bát quái, chim trĩ, - những hình này tiêu biểu cho vũ trụ. Phía dưới áo cổn là xiêm giáp thêu bằng ngọc. Mũ miện hình bình thiên, nghĩa là một miếng bằng hình vuông, mỗi bề vào khoảng 30 phân ngày nay, hai mặt trước sau đều có 12 tua kết bằng ngọc, tượng trưng 12 tháng trong năm. Hia màu tía, đế dày, ống cao. Hốt bằng ngà đựng ngọc Trân quế.
Sau đó nhà vua lên Nhà vàng, lập vị trước hương án để làm lễ cung nghinh và lễ hy sinh. Bộ Lễ phụ trách xướng lễ, chiêng trống và âm nhạc.
Khi xướng “Phần sài”, tại lò phần sài, con trâu dùng làm con sinh được đem thiêu bằng củi quế; khi xướng “Ê mao huyết”, tại sở Ẽ khảm, huyết và lông trâu được đem chôn.
Lễ hy sinh xong, nhà vua ngự lên Viên đàn, đi vào Thanh Ôc, nhà xanh, để
làm lễ chính tế. Nhà vua ngự lập vị trước án chính phối hợp Trời Đất, các hoàng thân và đại thần tại các án tả hữu.
Lễ Điện ngọc bạch tức là lễ dâng ngọc và lụa lên Trời Đất để cầu phúc cho trăm họ, cử hành.
Lễ sinh xướng: “Tấu điện ngọc bạch”, đôi vũ sinh diễn khúc Tiểu thành.
Nhà vua quỳ trước hương án. Hai văn quan chấp sự dâng lên nhà vua bảo tráp trong có đựng một viên ngọc hình tròn để tế Trời và một viên ngọc hình vuông để tế
Đất. Nhà vua cung kính cầm hai phiến ngọc dâng lên ngang trán khấn niệm, vái ba vái rồi trao cho hai vị chấp sự kính cẩn để vào nội án.
Nhà vua lễ bốn lễ.
Lễ sinh xướng: “Sơ hiến lễ” để dâng tuần rượu đầu. Nhạc sinh cử nhạc.
Nhà vua quỳ trước hương án, chấp sự dâng rượu và một văn quan chấp sự
khác đọc văn tế.
Lễ sinh xướng: “Á hiến lễ” để dâng tuần rượu thứ hai. Nhạc sinh cử nhạc Sau tuần rượu thứ hai, lễ sinh xướng: Tiến trở. Văn quan chấp sự dâng đồ
lễ lên trong lúc đó nhạc sinh cử nhạc.
Sau đó, lễ sinh xướng: Ẩm phúc thụ tộ. Nhà vua hưởng rượu thịt Trời Đất ban.
Hưởng rượu thịt xong, nhà vua bước xuống nhà vàng ở phương đàn, tạ
thần bốn lạy.
Sau đó là lễ phần hóa. Nhà vua đứng nghiêm trang nhìn vào chiếc lư có đốt chúc văn và tế phẩm.
Tế Giao đến đây là xong.
Nhà vua quay về Trai cung. Tại đây, đình thần vào làm lễ khánh hạ để
mừng nhà vua.
Đầu giờ Thìn, nhà vua hồi loan. pháo lệnh phát lên ba tiếng, kiệu Ngự di chuyển trên đường về.
Dọc đường dân chúng lại đón chào lạy mừng.
PHẬT GIÁO
Phật giáo hiện nay là tôn giáo quan trọng tại Việt Nam về nhân số cũng như về sự thâm nhập sâu xa vào phong tục tập quán.
Phật giáo truyền sang nước ta do hai ngả: Bắc Tông tức là phái Đại Thừa do lối Trung Hoa vào cùng với Khổng giáo và Lão giáo trong thời kỳ Bắc thuộc, còn Nam Tông tức là phái Tiểu Thừa qua các nước Thái Lan, Lào và campuchia rồi truyền sang nước ta do sự chung đụng của ta với dân chúng các nước nói trên.