Bàn thơ gia tiên ở các nơi đô thịPhần 41

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Đấy là tình trạng ở nhà quê, nơi có đất rộng người thưa!

Còn ở tỉnh, bàn thờ ngày nay đâu còn là bàn thờ ngày xưa nữa! Nhà cửa chật chội, người đông đúc, bàn thờ lập vào đâu?

Chiến cuộc chưa yên, người miền quê còn kéo nhau ra tỉnh tìm an ninh, người miền Bắc di cư vào Nam, trong tình trạng ấy thử hỏi làm sao có được một gian nhà thờ với một bàn thờ đúng theo tục lệ lễ nghi!

Nhưng không có bàn thờ không được! người ta đành thiết lập bàn thờ

trên một tấm ván đóng trên tường, trên một chiếc trang treo trên tường, và có khi trên một nóc tủ áo hoặc tủ ăn v.v... người ta cũng cố có bình hương nhỏ, nếu không có cũng phải lấy một bát sành để cắm hương!

Bàn thờ còn như vậy, nói gì đến câu đối với hoành phi!

Kính tại tâm, bàn thờ dù theo lễ nghi chỉ là hình thức!

Người ta tự an ủi, tin rằng tâm động quỷ thần tri và các cụ chắc cũng thông cảm cho con cháu, đánh chữ đại xá vì thiếu một bàn thờ nghiêm minh!

Bàn thờ những người mới chết

Những người mới chết thường không được thờ phụng tại bàn thờ gia Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

tiên. Tang gia bao giờ cũng cho lập bàn thờ riêng, ở ngay tại nhà thờ, hoặc ở một gian nhà ngang.

Bàn thờ sơ sài hơn bàn thờ gia tiên, thường chỉ gồm một bát hương, một bộ đài, một vài lọ hoa, với bài vị. ngày nay, ngoài bài vị thường có thêm bức ảnh hoặc bức tượng.

Sở dĩ lập bàn thờ riêng là tiện việc cúng bái hàng ngày và hàng tuần từ sơ

thất đến thất thất.

Tại các bàn thờ riêng này có treo đôi trướng, hoặc của chính gia chủ hoặc của người thân thuộc bạn bè phúng điếu.

Dưới đây là mấy mẫu đôi trướng thông dụng, do ông Viên Tài Hà Tấn phát sưu tầm trong cuốn “Văn công, Thọ Mai, Gia Lễ“

Trướng:

Thờ cha:

Hỗ sơn vân ám

Vân ám đảnh hồ

Thờ mẹ:

Đình tam thốc xã

Thờ chung cha mẹ:

Chung thọ sương sâm

Hổ sơn vân ế

Vợ chồng thờ lẫn nhau:

Sơn trường thủy viễn

Chồng thờ vợ:

Am dung như tại

Vợ thờ chồng:

Đồ vọng tế quân

Câu đối

Thờ ông bà cha mẹ:

Ơn cao quá núi đôi ngàn trượng

Nghĩa nặng hơn sông mấy vạn lần

hoặc:

Lễ sớm hương hôm lòng hiếu kính

Non cao biển rộng đức sinh thành

Thờ cha mẹ;