Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Phần 52

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

7- cấn là núi, thiếu nam ở hướng Đông Bắc

8- Đoài là đầm, thiếu nữ ở hướng Tây

Theo tám quẻ Hậu Thiên của châu Văn Vương thì càn khôn giao nhau sanh ra cấn, chấn, Tốn, Khảm, Ly và Đoài gọi là Bát Quái.

Ngũ hành: có Tứ Tượng và Bát Quái mới sinh ra ngũ Hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim và Thổ là năm nguyên tố của vũ trụ, không có ngũ hành vạn vật không sống được. Mùa xuân thuộc Mộc, mùa hạ thuộc Hỏa.

Mùa thu thuộc Kim, mùa đông thuộc Thủy.

Còn Thổ gồm cả bốn mùa.

Sau nghi lễ Xây chầu là khai thông Thái cực, kế tiếp là phần hát bộ trình những lễ: Lưỡng nghi, xang nhựt nguyệt. Lễ này âm dương giao chuyển biến mà sanh ra vạn vật, một nam áo mão, hia hài tay cầm mặt nhựt màu đỏ và một nữ cài trâm tay cầm nguyệt màu trắng, xang qua, xang lại rồi đấu mặt nhau ba lần.

Tam tài: cũng gọi là tam đa. Tam tài tức là đạo trời, đạo đất và đạo người trong vũ trụ.

Đạo người đứng giữa hòa hợp với đạo Trời, đạo Đất để dựng nên “nhân cực”. Lễ này do một ông quan đội thẻ ngang, mặc cẩm bào, đi hia, râu đen dài, tay bồng con tượng trưng là phước, một ông đội mão xếp, cầm bào, đi hia, râu đen, tay bưng quả tượng trưng là Lộc, một ông râu bạc cầm gậy, cũng mặc áo cẩm bào, đi hia, tượng trưng là Thọ. Ba ông gọi là tam hiền, ra một lượt, đồng xướng nói lối và hát khách toàn câu chúc thọ dưới đây: Xướng viết:

Thanh lang truyền tính hỉ phang phang

Lộng phù quần tiên hội Thiên Thai

Nam san, Bắc hải tân kiêm liên

Ca diêu mon, mon hỉ phang phang.

Nói lối:

Đông nhan phối ngẫu

Bạch phác như sương

Thọ tam tài vạn tải dư niên

Phước Lộc Thọ tam tinh thị giã

Kim hữu hương thôn khẩn đảo

Khánh nhựt thọ diên

Đông Phương Sóc biến báo chư Tiên

Thỉnh liệt vị đông lai bửu tọa

Hều chi hảo giả hảo giả

Huề thủ đồng hành đồng hành

Hát khách:

Nhơn gian vĩnh phước tăng huê xứ

Thế thượng thùy nhơn chiếu mãn đường

Thọ tỷ nam san phước lộc thọ tam tinh tấn bửu

Nhơn sanh hòe quế tràng lưu thanh mậu tập giai tiện.

Tứ Thiên Vương: Lễ này trình với bốn ông vua trấn bốn cửa trời: đông, tây, nam, bắc.

Lễ này trước mấy ngàn năm đời Võ Vương phạt Trụ diệt nhà Thương, lập nên cơ nghiệp nhà châu, thiên hạ thái bình rồi Thái Thượng ngươn Thỉ mới sắc cho Khương Thượng Tử nha phong thần các tiên. Bốn anh em họ Ma (Lê Thanh, Lê Hồng, Lê Hải, Lê Thọ) được phong làm Đại Thiên Vương, có phận sự coi cho phong điều võ thuận.

1- Ma Lê Thanh phong làm Tặng Trưởng Thiên Vương

2- Ma Lê Hồng phong làm Quỷ Mục Thiên Vương

3- Ma Lê Hải phong làm Đa Văn Thiên Vương

4- Ma Lê Thọ phong làm Trì Quốc Thiên Vương

Lễ này cầu cho phong điều võ thuận.

Sắm bốn anh kép mặt trắng đầu đội kim khôi, mình đai giáp mang lịnh, thắt dây lưng đỏ, chân đi hia, mỗi người trong tay cầm một lá sắc bằng hàng hay vải đỏ có thêu và có mấy câu chúc:

-

Vĩnh trạch sơn hà.

-

Phú hữu tứ hải.

-

Phong điều võ thuận.

-

Quốc thới dân an.

Người thứ nhứt ra múa rồi trụ lại cửa xuất phía trước.

Người thứ hai ra múa với người thứ nhứt, rồi trụ lại cửa nhập phía trong.

Người thứ ba múa với hai người trước, rồi trụ lại cửa xuất phía sau.

Người thứ tư ra múa với ba người trước, rồi trụ lại cửa nhập phía ngoài.

Rồi múa chế góc, 1 qua 2, 2 qua 1, 3 qua 4, 4 qua 3, đủ bốn cửa thì hiệp lại trình bốn lá sắc chúc. Ban trị sự thâu bốn lá sắc và thưởng tiền.

Trên núi Tu nhĩ Sơn có núi tên Đo Kiện Đà La chia bốn đầu bốn hướng, người ta gọi là Tứ Đầu, Tứ Vương cư các chi: nghĩa là trên bốn đầu núi có bốn ông vua ở đó hiệu là: Hộ Thế Tứ Thiên Vương.

Ngũ Hành

Lễ nầy cũng gọi là đứng cái, chúc quốc gia thủy thổ do một nam (trên 45

tuổi) đứng giữa gọi là cái, và bốn nữ bốn phía gọi là con.

Bốn nữ ra trước hát thài mấy câu rồi chia ra đứng bốn góc. cái ra sau mặt trắng, không râu, áo mão nghiêm trang, Lạy Thần rồi với bốn con hát bài chúc. con và cái tượng trưng là ngũ Hành.

Lấy theo ngũ Hành sắp thứ tự Thủy, Hỏa, Mộc, Kim là tứ quy. Tùy theo bốn mùa mà đắp thì Mộc, Hỏa, Kim, Thủy vì Xuân thuộc Mộc, Hạ thuộc Hỏa, Thu thuộc Kim, Đông thuộc Thủy, bốn mùa cho thuận thì vạn vật nẩy nở tốt tươi. Mà vạn vật tốt tươi là nhờ thổ, cho nên thổ gồm thâu bốn mùa, bởi vậy thổ là số 5 trong Hà Đồ Lạc thư tài trung ương. Bởi vậy cho nên cái phải ở

giữa, bốn con đứng bốn bên.

Dưới đây là câu thài của bốn con:

Ngai vàng vững đặc báo ngôi

Trên vua khai rạng, dưới tôi trung thần

Đạo quân thần là duyên cá nước

Minh lương vầy, vạn phước tề trang

Làu làu tiết chói Nghiêu thiên

Hảy hảy Thuấn nhựt, vua Lê trị đời

Muôn muôn năm hưởng lộc trời

Cõi nam chống vững đời đời hưng vương

Nguyễn vương rầy đã lên ngôi

Chắp tay xũ áo ngự lên ngai vàng

Nhà an thì nước liền an

Bá quan thâu vẹn, bốn phang phục tùng

Phá Ngụy cừu rồi công dục nhựt

Vua thái bình oai đức gần xa

An dân an nước an nhà

Đã an chư tướng, khỏe hòa ba quân.

Đào thài rồi cái ra mặc áo cẩm bào mới, mão cửu Long, mặt trắng lạy ba lạy rồi hát nam dựng:

Giúp nên nghiệp cả trung hưng

Phước lành roi dấu đượm nhuần cháu con

Đức ân dầy càng thêm phước thọ

Đắp xây nền Thang Võ ngàn thu

Đền Nam thánh ứng xưong kỳ

Dẹp an Bắc Ngụy thâu hồi Nam kinh

Tám phưong gió bụi quét thanh

Công cao khai rạng nghiệp thành trung hưng

Rồng bau cao ngự nền phuông

Mưa tuông đức Thuấn, gió hòa nhân Nghiêu

Tam Đa ngưỡng chúc hoàng triều

Thần tràng kế thánh lê dân thái bình

Con:

Vận mở trùng ngươn, vận mở trùng ngươn

Rày mừng thấy nam phang sanh thánh chúa

Dẹp phò loại Bắc dịch, khử tà qui chánh đôi nơi

Nguyễn Vương lên sửa trị, thiên hạ ca khúc thái bình

Ái lang vân khởi tắc tư hề hải yên hà thanh

Nghe tiêu sang một tiến, bình định ngũ canh muôn đời.

Cái lạy một lạy và nói:

Dạ dạ dạ Kim thừa ca xướng viên thai

Ngũ đảng khấu đầu thương thọ

Chúc cho hoàng thượng đặng ngôi cửu ngũ

Vạn tài niên thọ khảo như san

Chúc tuổi chúa minh minh

Dư muôn tuổi dư muôn tuổi thọ

(Lạy một lạy) Dạ dạ dạ

Sau lạy mừng đức Tổng Trấn Quận Công

Oai dẹp loạn không day con vác

Trị dân lành cứu trạch

Xua đàng dữ Bắc man

Ắt phú quới hưởng tôn nhan

Dư ngàn tuổi dư ngàn tuổi thọ

(Lạy một lạy) Dạ, dạ, dạ

Sau lạy mừng bổn tiệc án nầy

Gặp hồi rồng mây

Vực phò vương vận

Đánh thành thâu bắc trấn

Xua máy nhiệm dừng binh

Chúc cho bên văn thẫm trạch thái bình

Chúc cho bên võ kham trị hạ loạn

Vui vầy chén nhạn Tiệc ngọc lê say

Dư muôn tuổi dư muôn tuổi thọ[13]

[13] Tài liệu này do ông Đỗ Tấn Triệu con trai cụ Đỗ Tấn Vạng gửi tặng. Xin cụ Vạng và ông Triệu nhận nơi đây lời thành thực cảm ơn.

PHẦN THỨ HAI

Tôn giáo

LÃO GIÁO

Đạo Lão là một trong tam giáo du nhập vào Việt nam cùng với sự đô hộ

của người Trung Hoa và đã có thời kỳ toàn thịnh.

Cho đến ngày nay, ảnh hưởng của Lão giáo tại Việt nam không phải là không còn mạnh, nhất là những biến thể của đạo nầy trong dân chúng Việt nam với những nơi thờ phượng như điện, tĩnh, am... của các thầy phù thủy.

Dù nhiều ít gì, dù đây chỉ là những sự biến thể cố ý hoặc vô tình, thì nguồn gốc sự thờ phượng Thái Thượng Lão Quân, Trương Thiên Sứ, Tề Thiên Đại Thánh... cũng đều bắt nguồn tự đạo Lão mà ra.

Những biến thể của đạo Lão, cho đến ngày nay, vẫn còn đang bành trướng tại Việt nam, và những nghi thức lễ bái của đạo nầy đã được mượn rất nhiều trong tục thờ cúng Tổ tiên cũng như trong tục thờ thần.

Lão Tử

Lão giáo còn gọi là Đạo giáo, và người sáng lập ra đạo nầy là Lão Tử. Lão Tử chỉ là danh hiệu, nghĩa là ông thầy già. Theo Dương Quảng Hàm, thân thế

của ông ta không biết rõ[14]. Theo Phan Kế Bính, trong Việt Nam phong tục, Lão Tử họ Lý, tên là Nhĩ, tự là Bá Dương, thụy là Đam, người làng Khúc nhân, huyện Hổ thuộc nước Sở, nay là tỉnh An Huy, sinh năm thứ ba đời vua Định Vương nhà Đông chu, đồng thời với Đức Khổng Tử.

Dương Quảng Hàm, nhắc lại những điều ghi trong "Sử ký” của Tư Mã Thiên có viết không rõ Lão Tử sinh và mất năm nào.

Lão Tử, vẫn theo Phan Kế Bính, làm quan Trụ hạ sử nhà chu, nhưng về sau đã từ quan đi ẩn dật.

Thời bấy giờ, người đời chuộng lễ nghĩa, chú ý rất nhiều đến những điều vụn vặt làm bận tâm trí con người, và vài những điều câu nệ tỉ mỉ đã làm mất cái khoáng đạt của tâm hồn. Trước tệ đoan đó, Lão Tử có ý muốn sửa đổi lại để con người sống theo lẽ tự nhiên.

Ông soạn ra bộ Đạo đức kinh gồm năm ngàn câu nói, chủ ý cốt theo cách tự nhiên thanh tĩnh, không cần phải làm gì, nghĩa là muôn việc cứ phó mặc tự

nhiên, không cần phải lo lắng, nghĩ ngợi, mới hưởng được sự khoái lạc tiêu diêu.[15]

[14] Việt Nam Văn Học Sử Yếu, in lần thứ năm, trang 60.

[15] Phan Kế' Bính, Việt Nam phong tục.

Đạo đức kinh bày tỏ rõ tôn chỉ của ông, bởi vậy người ta gọi đạo của ông là đạo Lão.

Sau ông có Liệt Tử và Trang Tử cũng có sách dẫn giải tôn chỉ vô vi của đạo Lão để chống các học thuyết khác.

Đúng ra, Lão Tử là một triết gia hơn là một giáo chủ và tôn chỉ của ông chính là một học thuyết, hơn là một giáo điều.

Lão Tử tiếp kiến Đức Khổng Tử

Năm Quý Mùi, tức là năm thứ hai đời vua chu Kính Vương, đức Khổng Tử

lúc đó 34 tuổi, có cùng với các đệ tử đến xin hội kiến với Lão Tử tại phủ Hà nam.

Lão Tử đã tiếp đức Khổng Tử.

Đức Khổng Tử hỏi ngài về Lễ thì ngài đáp:

- Người quân tử gặp thời thì đi xe, không gặp thời thì đội nón lá đi chân không. Tôi nghe nói: người buôn bán khôn ngoan chứa nhiều tiền của, cũng như người không có gì. Người quân tử có đức tốt dung mạo xem như người ngu, nên bỏ cái chí kiêu căng, lòng ham muốn, cái sắc dục và chí quá độ, những điều ấy vô ích và có hại.

Khi đức Khổng Tử ra về ngài đưa tiễn rất lễ phép và nói thêm rằng:

- Tôi nghe nói, người giàu sang đưa người thì dùng tiền của, người nhân đức đưa người thì dùng lời nói. Tôi đây chẳng được giàu sang, chỉ trộm lấy danh nghĩa của người nhân đức mà đưa ngài bằng lời nói vậy: Người thông minh xét nét sâu xa, trở lại gần với sự chết, là bởi hay chê bai nghị luận việc của người thế gian; người có tài hùng biện giỏi dắn cao xa mà bị nguy hiểm đến mình, là vì ưa chỉ vạch điều xấu của kẻ khác.

Đức Khổng Tử đã đáp lại:

-

Tôi rất cảm tạ các lời dạy của ngài.

Tôn chỉ của Đạo Lão

Xét qua cuộc đối thoại trên giữa Khổng Tử và Lão Tử ta đã thấy một phần nào tôn chỉ của đạo lão hiện ra.

Đạo Lão lấy thanh tĩnh tự nhiên làm tôn chỉ, ý tưởng rất cao, người thường khó mà hiểu thấu được.

Ai đã rõ được cái thân là nguồn khổ sở, cái trí khôn là cái góc phiền lụy, tất phải chịu sự cao kiến của tôn chỉ đạo lão. Phải xét rõ việc đời, tình người

để lấy sự nhạt nhẽo hư không mà đối với đời, không để một chút gì tơ tóc vướng víu đến mình ngõ hầu tận hưởng cái thú ung dung, nhàn nhã, sung sướng, khoan thai. Việc đời xảy ra tới đâu đối phó tới đó, không cần khó nhọc tâm cơ, hao tổn tinh thần, cứ lấy tự nhiên mà thù ứng các việc tự nhiên, rồi đâu sẽ ra đấy cả.

Sở dĩ người ta phải khổ sở lo nghĩ là vì phải suy tính hành động, mà phải hành động là do sự ham muốn. nay nếu dứt bỏ được sự ham muốn, sẽ không phải hành động và như vậy sẽ không còn sự lo nghĩ khổ sở. Lòng sẽ thư thái, thân sẽ an nhàn. Trong nhân loại đạo gần nhất là đứa trẻ nhỏ, con người nhiều đức được gần đạo cũng hồn nhiên như đứa trẻ vậy.

Về phương diện triết lý, Lão Tử cho rằng đạo là một nguyên lý huyền diệu, vô hình, vô sắc, đã sinh ra âm dương trời đất và vạn vật. Muôn vật sinh ra khắp cả thế gian rồi lại quay về đạo, đẻ lại hóa ra muôn vật muôn loài, theo một cuộc tuần hoàn biến cả thiên nhiên.

Tôn chỉ đạo Lão rất cao, ý tưởng rất lạ, duy đối với môn đồ Lão Tử thì phàm việc gì cũng cho là phù phiếm hư không, chỉ biết nhàn thân hưởng lấy mình, không thiết tưởng gì đến đời cho nên đạo Lão bị các người theo nho học bác bỏ đi.

Sự quảng bá đạo Lão tại Trung Quốc và Việt Nam

Không sách nào chép tới cái chết của Lão Tử về năm nào, nhưng như trên đã nói, đạo Lão đầu tiên đã được quảng bá bởi Liệt ngữ Khâu và Trang chu qua các sách Liệt Tử và Trang Tử.

Tại Trung Quốc, mãi tới đời nhà ngụy, nhà Tần, lối học của Lão Tử mới thịnh hành. Trên từ vua chúa, dưới đến sĩ phu ai ai cũng tôn sùng đạo Lão và gọi Tôn Lão Tử là Thái Thượng Lão Quân.

Thời ấy nước ta đang nội thuộc Trung Hoa. Đạo Lão đã lan rộng ở Trung Quốc cũng được truyền bá sang nước ta và dân ta cũng tin sùng lắm.

Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng, đạo Lão càng bành trướng, nhà vua đã phong cho Trương Ma ni làm Tăng Lục đạo sĩ.

Đời nhà Lý, đạo Lão cũng được duy trì với đạo Phật và đạo Nho. Vua Lý Anh Tôn dùng cả tam giáo làm đề thi trong khoa cử.

Cho đến đời nhà Lê, đạo Lão vẫn không suy, tuy rằng không được thịnh như đạo Khổng và đạo Phật. Vua Lê Thần Tôn đã cho phép Trần Lộ lập ra Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

đạo nội tràng. Từ đó về sau đạo Lão vẫn tồn tại, mặc dù kém phổ thông. Các bậc cao nhân dật sĩ phần nhiều điều hiểu biết đạo Lão và lĩnh hội được tinh thần đạo. Những người phóng khoáng, những người ưa thanh tĩnh, những người có mưu cơ, những người biết nhẫn nhục đều hợp với đạo Lão.

Tuy nhiên ảnh hưởng của đạo Lão tại Việt nam ta đã tạo nên hai hạng người khác nhau:

-

Bực thượng lưu học thức nhiễm những tin tưởng tiêu diêu phóng khoáng, chán đường công danh phú quý thích an nhàn tự do.

-

Người bình dân tin tưởng ở những truyện thần tiên huyền ảo, vì biến thể của đạo Lão.

BIẾN THỂ CỦA ĐẠO LÃO

Tất cả những điều trình bày trong tập sách này về các tôn giáo, chỉ là những điều sơ lược chính yếu của mỗi đạo; đây không phải là một tập sách có mục đích nghiên cứu triết lý của mỗi đạo, hoặc bình luận về triết lý này, những điều viết ra đây cốt để có một đôi ý niệm về mỗi đạo. Ý niệm nầy sẽ

giúp các bạn hiểu cặn kẽ hơn về sự liên quan giữa các đạo và phong tục Việt nam.

Riêng về đạo Lão, cái tôn chỉ cao xa của Lão Tử về sau đã bị các lưu phái biến thành lối thuật số, cách tu luyện đạo phù thủy với những điều dị đoan làm hư hại dân trí mà không có ích dụng gì. Đó chỉ là do các môn đồ đạo phái căn cứ theo tôn chỉ đạo Lão mà suy diễn ra một cách lầm lỗi vô tình hoặc cố ý.

Nếu cái tinh thần đạo Lão được các bậc trí thức tìm hiểu thì những hình thức sai lầm bề ngoài về các việc ma quỉ, thần tiên, kiêng khem, cấm kỵ, phương tai, kỳ phúc đã được quần chúng tin theo rất nhiều.

Nhiều môn đồ đạo phái đã lợi dụng sự tin theo đó của nhiều người, bày đặt ra những trò bùa bèn ấn quyết trừ ma, trừ quỷ để trực lợi trong đám người ít kiến thức! Đạo giáo đâu có vậy! Đó chỉ là biến thể đáng tiếc! Biến thể này chính do sự không hiểu đạo mà ra vậy.

Lần lượt dưới đây, chúng ta thử tìm hiểu mọi biến thể đó với các môn phái do chúng sinh ra.

Phù thủy

Theo Phan Kế Bính thì phù thủy có phép luyện âm binh, âm tướng, thường đêm khuya đến những noi tha ma mộ địa, đốt hưong khấn khứa luyện phù, luyện phép để cầu cho các âm hồn phải theo hiệu lệnh của mình.

Những nhà có người chết, gặp giờ xấu, sợ có trùng tức là có hung thần tra khảo phải nhờ thầy phù thủy cho bùa dán trong quan tài, yểm chung quanh huyệt cũng như ở trong nhà để trấn áp tà ma. Người đau ốm cho là ma làm, mời thầy phù thủy để diệt ma. Muốn diệt ma, ngoài việc dùng bùa, thầy phù thủy thượng phụ trượng hoặc phụ thần bạch xà.

Phụ trượng nghĩa là niệm chú yểm vào cây trượng, cho người cầm đi khua khắp nhà để đuổi ma.

Phụ thần bạch xà thì dùng một con rắn bằng rơm rồi phù phép vào con rắn để con rắn bò quanh nhà diệt tà ma. Con rắn thường bò được là nhờ

trong ruột có bộ phận cử động bằng máy, nhưng những người quá tin cho là thầy phù thủy cao tay có phép lạ.

Thầy phù thủy có khi phụ đồng chổi, đọc chú để cây chổi cử động được nhưng sự thật cái chổi cử động cũng chẳng khác chi con rắn bằng rơm bò quanh nhà.

Ngoài ra, những người có thân nhân quá vãng, thương nhớ, thường nhờ

thầy phù thủy phụ cành phan để mời hương hồn người chết về nói chuyện.

Phụ cành phan nghĩa là có một người sống cầm một cành tre, ngồi trước đàn, rồi thầy phù thủy niệm chú phụ động để hồn người khuất nhập vào người ngồi trước đàn và có thể nói được với người đang sống.

Trong lúc phụ cành phan, tiu cảnh trống chiêng gõ vang rền lẫn vào lời đọc phép của thầy phù thủy, thêm mùi hương ngào ngạt, khiến người ngồi đồng bị thôi miên có thể mê mẩn đi được.

Có người nói rằng những thầy phù thủy cao tay có thể bắt ấn phù phép niệm chú để cho người sống xuống được âm phủ tìm giáp mặt người thân đã khuất trò chuyện.

Phù thủy lại có phép làm bùa yêu bùa mê. Bùa yêu làm cho hai người ghét nhau phải thương nhau. Bùa mê làm cho người tình trở nên mê mẩn có khi hóa điên dại, phải có bùa giải mới hết.

Người ta cũng lại nói rằng các thầy phù thủy có lắm phép kỳ lạ, sai khiến nổi âm binh làm những công việc của người trần, nhưng phần nhiều thực hiện về đêm:

-

Sai âm binh đi tát nước.

-

Sai âm binh ném đá gạch vào nhà người khác.

Những thầy phù thủy mỗi khi điều khiển âm binh xong phải có lễ khao quân, nếu không âm binh sẽ phản lại đánh trả thầy. Và mỗi khi sai âm binh thầy phù thủy phải canh chừng đừng để trời sáng, phải thâu âm binh về trước khi có ánh dương ló ra. Bị lộ thiên cơ, nghĩa là bị người trần trông thấy vào ban ngày, âm binh cũng đánh trả thầy.

Thuật thủy là một việc huyền ảo, thực thực hư hư, các thầy phù thủy khéo thôi miên con người, nên thường được người đời tín nhiệm.

Nhiều thầy phù thủy muốn tỏ ra mình cao tay, thường phù ấn làm phép khấn các vị thiên thần như Tề Thiên Đại Thánh, Thác Tháp Thiên Vương v.v...

Tĩnh

Mỗi thầy phù thủy đều lập một ngôi tĩnh để thờ các vị thần về đạo Lão, và cũng là nơi để lập ấn bắt quyết, cầu khẩn các thần để trị ma trừ quỷ.

Theo nghĩa đen, Tĩnh là một bàn thờ nhỏ ở một nơi yên tĩnh, thờ một vị

thần mà dân chúng tin theo uy lực như Thái Thượng Lão Quân, Độc cước thần, Trương thiên sứ... các vị thần này đều thuộc về đạo Lão.

Trong những ngày sóc vọng tuần tiết, dân chúng thôn xóm làng xã chung quanh kéo nhau tới tĩnh lễ, xin bùa, xin dấu, cầu sự phò hộ để được bình an.

Những người ốm đau đến xin chữa bệnh, những người buôn bán tới xin bùa cầu tài, và những trai gái thương yêu nhau cũng đến xin bùa để đôi bên càng say nhau.

BÀI TRÍ MỘT NGÔI TĨNH

Thường các thầy phù thủy dành riêng một gian nhà để lập tĩnh.

Việc kê bày xếp đặt một bàn thờ tại một ngôi tĩnh cũng tương tự như cách trang trí một bàn thờ khác, chỉ về chi tiết mới có sự khác biệt.

Kê sát ngay vào tường hậu gian nhà là một hương án cao. Trên hương án có bài vị, tượng hoặc tranh vẽ vị thần mà thầy phù thủy thờ phụng, đặt trên một chiếc khám hoặc một chiếc ngai.

Trước ngai là hòm ấn kiếm, lẽ tất nhiên ấn gỗ và kiếm gỗ, tượng trưng cho uy pháp của vị thần.

Thần không có sắc vua phong, nhưng hai bên ngai cũng có hai chiếc tráp đựng quyển sách chép sự tích vị thần với những sự tâng bốc tất nhiên phải có và một bản sao tờ sắc không biết thầy phù thủy đã căn cứ vào đâu mà

chép.

Rồi đài rượu, mâm bồng, bình hương và những đồ tự khí khác: tam sự, ngũ sự, còn có những nghìn vàng và đồ mã bày ở bàn thờ.

Ngoài cùng bàn thờ là một chiếc y môn.

Một ngôi tĩnh có thể có ba bốn bình hương. Bình hương chính lớn hơn những bình hương phụ, các bình hương phụ để thờ các thần phụ tá vị chính thần ngôi tĩnh.

Ngôi tĩnh nào cũng có một chiếc kiểng. Trước khi cúng khấn, thầy phù thủy bao giờ cũng đánh ba tiếng kiểng giáo đầu.

Các bình hương ở một ngôi tĩnh luôn luôn ngày đêm có thắp hương. Theo các thầy phù thủy nói, thì lúc nào ở tĩnh cũng có sự giáng lâm của thần hoặc của các bộ hạ ngài, do đó việc đèn nhang không thể sơ xuất được.

Tại cột gian tĩnh có treo những bức liễn, nhưng không phải để viết những đôi câu đối, mà ở đó thầy phù thủy có vẽ bùa ấn chữ son, biểu hiện cho uy lực của vị thần thầy thờ phụng.

Thanh đồng

Tục quan niệm rằng nhiều người có căn thờ, nghĩa là số phải thờ một vị

thần nào của đạo Lão mới bình yên được. Có thể những vị thần này trước đây không phải là của đạo Lão, nhưng các lưu phái tại Việt nam đã tôn thờ

các vị này và coi các vị là thần linh theo Lão giáo: Hưng Đạo Vương, Tản Viên Sơn Thần, Liễu Hạnh công chúa, cửu Thiên huyền nữ, Thượng Ngàn thánh mẫu, v.v...

Tùy sự thờ phụng của từng người có căn thờ, những người này được gọi là Thanh đồng hoặc đồng cốt.

Thanh đồng là những người thờ về đức Hưng Đạo Vương, người có căn thờ ngài lập điện tại nhà và có các con hương tới lễ bái.

Những người này, trong những ngày lễ hội tại đền Kiếp Bạc hoặc đền Bảo Lộc đều tới lễ và lên đồng bắt tà. Tà đây là chỉ phạm nhan và bộ hạ của hắn.

Phạm nhan nguyên là tướng của Mông cổ bị Hương Đạo Vương giết.

Đàn bà sinh sản đau yếu hữu sinh vô dưỡng cho là mình bị phạm nhan ám, hoặc tiền phu tiền thê ghen tuông, hoặc ma quỉ trêu cợt, đem vàng bạc tới cửa điện lễ bái nhờ thanh đồng kêu khấn xin trừ tạ.

Người có bệnh ngồi đồng bịt khăn đỏ vào mặt. Thanh đồng cầm hương Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

thư trên mặt và tay người này, rồi niệm chú khấn nguyện. Trong lúc đó cung văn đánh trống gõ phách, ca những bài văn sai để ốp đồng. Bị thôi miên người ngồi đồng lảo đảo: đó là lúc tà ma đã nhập!

Thanh đồng liền ra oai quát hỏi người bệnh như tra tấn tù nhân.

Người bệnh liền tự mình cầm vồ đập vào đầu mình, hoặc cầm bàn vả tát vào mặt, hoặc cầm roi đánh vào mình. Đó là tà ma bị sự trừng phạt. Rồi tà ma cung chiêu nhận tội, làm tờ cam kết không quấy nhiễu người bệnh nữa, trên tờ cam kết có in dấu tay của con tà.

Người ta bảo rằng dấu tay trên tờ cam kết tuy người bệnh in vào, nhưng không là dấu của người bệnh, đó là dấu tay của con tà, so sánh với tay người bệnh khi hết bệnh không giống nhau.

Tờ cam kết có dấu ấn của thanh đồng được trao cho người bệnh mang về dán ở đầu giường, nếu bị đau yếu trở lại thì lại mang vàng hương tới điện kêu, thánh sẽ lại trị tội con tà.

Cũng có khi bóng ma không ốp vào người bệnh, mà trái lại bóng thánh lại nhập vào thanh đồng. Thanh đồng sẽ ra oai để tra tấn con tà: Tự thắt cổ bằng lụa, nung đỏ lưỡi cày rồi xỏ chân vào, nấu dầu sôi uống rồi lại phun ra, nhai nắm hương đang cháy, lấy lình xiên mép, lấy dao rạch lưỡi v.v...

Lúc rạch lưỡi chảy máu, máu được phun vào một tờ giấy để làm bùa gọi là dấu mặn. Bùa này, người bệnh đốt uống với tàn hương nước thải để trị tà, hoặc dùng để đeo hay dán ở buồng ngủ để trấn áp ma quỷ.

Con bệnh khỏi đau phải tới lễ tạ đại điện.

Hàng năm vào ngày 20 tháng 8, tức là ngày húy nhật đức Hưng Đạo Vương, các thanh đồng kéo nhau về đền Kiếp Bạc, hoặc đền Bảo Lộc lễ bái cúng tế. Trong dịp này, những người đó sắm cờ kiếm, xin yểm phép để thay bộ cờ kiếm cũ năm trước.

Hưng Đạo Vương là một vị anh hùng dân tộc, đã từng ba phen đánh đuổi giặc nguyên, và trong khi giết giặc đã giết được một viên tướng nguyên tên gọi là nguyễn nhan tục gọi là Phạm Nhan, tức là tên Nhan phạm tội. Tục truyền rằng nguyễn nhan có phép yêu, Hưng Đạo Vương đã phá phép yêu trị tội hắn. người đời sau cho là ngài có tài trừ tà ma yêu quỷ, do đó có tục trừ tà của các thanh đồng.

Điện

Cũng giống như tĩnh, điện là một nơi thờ tự riêng của tư gia, nhưng được dân chúng tới lễ bái trong dịp tuần tiết sóc vọng, hoặc khi muốn cầu xin việc gì. Nhiều khi có người tới lễ bái rất đông, không kém gì một nơi thờ tự công cộng.

Điện do các thanh đồng hoặc đồng cốt lập nên.

Điện của thanh đồng được trang trí tương tự như một ngôi tĩnh.

Trên bàn thờ có bài vị, tượng hoặc hình Hưng Đạo Vương. Lại thêm kiếm ấn.

Ở mé trên bàn thờ có hoành phi, và ở cột có câu đối.

Trên mái nhà có cài nhiều roi dâu để thanh đồng dùng tra khảo tà ma quỷ

quái, - tà ma sợ roi dâu.

Cũng như ở Tĩnh, một điện có nhiều bình hương phụ ngoài bình hương chính để thờ các bộ hạ của Hưng Đạo Vương.

Các thanh đồng có bày thêm trên điện những xấp vàng mã để được hóa vào những buổi lễ.

Đồng cốt

Đồng cốt là những người có căn thờ về chư vị như Liễu Hạnh công chúa, cửu Thiên Huyền nữ, Thượng ngàn công chúa... hoặc các vị hoàng tử, các cậu các cô.

Đồng cốt chia ra đồng Đức Mẹ, đồng Đức Ông, đồng cậu, đồng cô tùy theo người có căn thờ theo vị nào:

Thờ các bà công chúa là đồng Đức Mẹ;

Thờ các vị hoàng tử là đồng Đức Ông;

Thờ các cậu là đồng cậu;

Thờ các cô là đồng cô.

Các hoàng tử có thể là con vua, hoặc là những vị linh thiêng được các người có căn đồng tôn lên, còn các cậu và các cô là những người chết trẻ

gặp giờ linh được tôn thờ.

Có người chỉ có căn số thờ một vị, có người theo căn số phải thờ nhiều vị.

Thờ một vị hay nhiều vị, đồng cốt đều lập điện thờ và được mọi người tin theo kéo nhau tới cầu cúng lễ bái trong những tuần tiết hoặc những khi ốm đau.

Căn đồng

Thế nào là những người có căn số phải thờ, tức là có căn đồng.

Không phải tự nhiên ai cũng lập điện thờ, hoặc cũng tới điện để lên đồng lên bóng.

Thường đồng cốt phần lớn là đàn bà.

Những bà, những cô hay đau yếu, hoặc đôi khi mặt đỏ rần rần, nằm mơ

thấy bay trên không, thấy lội dưới nước, đi xem bói, đi lễ bái được thầy bói hoặc các ông đồng bà cốt bảo là số thờ, thánh bắt đồng.

Người có số thờ này đem vàng hương tới một cửa điện xin làm con công đệ tử và phải đội bát phù hương, nghĩa là những bình hương nhỏ để ở bàn thờ chư vị tại điện; những ngày tuần tiết người có số thờ đến lễ rồi đội những bình hương đó lên đầu. Bình hương đặt trên một chiếc mâm nhỏ và có thắp hương. Có người phải đội một bát phù hương, có người căn đồng nặng phải đội hai ba bát hoặc nhiều hơn.

Có người chỉ phải đội bát phù hương, có người được chư vị bắt đồng thì phải ngồi bóng thánh. Nếu vì lý do còn trẻ tuổi có thể làm lễ xin khất đồng được.