TÍN NGƯỠNG VIỆT NAMPhần 3

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

Theo Đào Văn Tập trong “Tự Điển Việt nam phổ Thông”, tín ngưỡng là lòng tin tưởng và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa.

Ở đây, chỉ xin nói về tôn giáo, nhất là về sự sùng tín của dân Việt nam đối với các đạo cũng như đối với các sức mạnh vô hình đã chi phối phần thiêng liêng của con người.

Nói đến sùng tín tức là nói đến thờ phụng, nói đến việc thi hành những nghi thức đặt ra bởi một tôn giáo, nghi thức khác nhau tùy theo tôn giáo và trong một tôn giáo có khi cũng khác nhau tùy theo các vị thần linh được tôn thờ.

Người Việt nam theo nhiều tôn giáo, và đối với tôn giáo nào cũng có sự

ngưỡng mộ và tin tưởng, một khi đã tin theo. ngoài các tôn giáo, dân ta còn thờ kính tổ tiên, thờ kính các vị anh hùng của dân tộc, và thờ kính bất cứ một người nào đã thi ân cho tổ tiên chúng ta; sự thờ kính này có thể thực hiện trên toàn quốc như đối với Hai Bà Trưng, Hưng Đạo Vương, Quan Thánh Đế

Quân v.v... hoặc chỉ thu hẹp ở một vài địa phương và có khi chỉ ở một thôn một xã đối với các vị thần riêng của một hoặc nhiều địa phương.

Khảo về tín ngưỡng Việt nam, chúng ta cần phải đi ngược dòng lịch sử trở

lại từ Thượng cổ thời đại, nghĩa là từ lúc họ Hồng Bàng mới lập quốc với vua Kinh Dương Vương.

Cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới, từ Đông sang Tây, từ nam lên Bắc, qua các châu Âu, Á, Mỹ, Úc, phi, lúc sơ khởi người Việt nam tôn thờ và tin tưởng tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình mà ta cho rằng có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến ta được: Trời, Đất, Sấm, Sét, Gió, Mưa, nước, Lửa, Núi, Sông, Trăng, Sao v.v...

Dần dần với sự suy nghĩ và hiểu biết lại thêm chịu ảnh hưởng của người Trung Hoa, cho đến trước thời kỳ tiếp xúc với người Tây phương, trong sự

tín ngưỡng của ta chỉ còn thờ Trời, phật, Thần, Thánh và tổ tiên.

Lẽ tất nhiên trong sự tin tưởng còn nhiều điều mê tín dị đoan, nhưng thử

hỏi trên thế giới này, đã có dân tộc nào dám tự hào có một tôn giáo không có những điều mê tín dị đoan chẳng nhiều thì ít.

Sau cuộc tiếp xúc với người phương Tây từ thế kỷ thứ XVI, người Việt nam lại có một số theo đạo Thiên chúa, và gần đây còn có nhiều người theo các đạo khác, đạo Tin Lành, đạo cao Đài, đạo Bah’ai v.v...

Tất cả các đạo giáo hiện hành ở Việt nam, không có đạo nào là thuần túy của ta, kể cả đạo cao Đài mới sáng lập vào tiền bán thế kỷ thứ XX bởi một giáo chủ Việt nam, nhưng thần thánh vẫn là lấy ở các đạo khác mà tập trung lại. Những tôn giáo ta tin theo nếu không do người Trung Hoa mang sang ta trong những thời kỳ đô hộ thì cũng do người Tây phương mới mang lại từ

mấy trăm năm gần đây.

Nếu trong tín ngưỡng ta có cái gì đặc biệt hơn hết, phải nói đó là thờ

phượng tổ tiên và việc cúng giỗ những người đã khuất. Tục cúng giỗ cũng do người Trung Hoa truyền sang ta, nhưng với nhiều sự biến đổi, việc cúng giỗ của ta ngày nay không còn giống hẳn người Trung Hoa và đã mang một sắc thái riêng biệt Việt nam.

Đối với dân tộc Việt nam, đạo nào cũng là trọng, và trong cuộc sinh sống hàng ngày, dân ta rất rộng rãi trong vấn đề tín ngưỡng.

Có nhiều gia đình, cha theo đạo phật, con theo đạo Thiên chúa, hoặc đạo cao Đài, chồng theo đạo phật, vợ theo đạo Tin Lành mà trong nhà không hề

bao giờ có sự xích mích về tôn giáo và cũng không ai dè bỉu chê bai ai.

Muốn biết về phong tục Việt nam thiết tưởng cũng cần hiểu sơ qua về tín ngưỡng của dân ta, biết sơ lược về cách thờ phụng của mỗi tôn giáo, mặc những điều mê tín dị đoan ít nhiều vẫn hằng có.

Người ngoại quốc thường chê người Việt nam có một tín ngưỡng hỗn độn không phân biệt tôn giáo với mê tín, pha trộn nhiều tôn giáo quá. Chỉ

nhận xét về bề mặt, không đi sâu để tìm hiểu nguyên do sự tin tưởng đạo giáo của dân Việt nam, ý kiến trên tưởng như là đúng, nhưng sự thực, trên cương vị tôn giáo, dân ta tuy có sự pha trộn, nhưng tôn giáo nào vẫn rành rẽ tôn giáo đó, còn về sự mê tín, thì thử hỏi dân tộc nào không có những điều mê tín dị đoan riêng, và thử hỏi đã có tôn giáo nào tránh hết những điều huyền hoặc.

Việt nam có rất nhiều tôn giáo; dân ta chấp nhận bất cứ tôn giáo nào mà giáo điều không đi ngược lại với căn bản đạo đức của dân tộc, không chống lại những điều đã được tổ tiên ta công nhận, rút trong nền tảng đạo đức của Đông phương là nhân, Lễ, nghĩa, Trí, Tín.

Tất cả mọi tôn giáo du nhập vào Việt nam đều được đón nhận và có thể

được phổ biến dễ dàng trong dân gian, trừ những tôn giáo không phù hợp với nền luân lý của ta. Có những tôn giáo vào nước ta sau các tôn giáo khác Tín ngưỡng Việt Nam – Quyển thượng

nhưng đã phổ cập rất mau chóng đến mọi từng lớp xã hội và được đồng thời cùng sùng tín với các tôn giáo khác, nhưng cũng có những tôn giáo khi lan truyền vào nước ta đã gặp khó khăn một phần vì sự ngăn cản của chính quyền, một phần vì sự dè dặt của quần chúng. Lại có những tôn giáo, khi tới Việt nam đã bị từ khước hẳn, vì các giáo điều đi ngược lại nếp sống thuần túy của dân ta.

Trong các tôn giáo đã vấp phải khó khăn, ta phải kể Thiên chúa giáo đã được truyền vào Việt nam từ đời vua Lê Trang Tôn, nhưng không được phổ

biến mấy, và tới thế kỷ trước đã trải qua những giai đoạn thật là gay gắt. Giáo lý của đạo này xây dựng trên căn bản bác ái, coi mọi người như anh em, rất hợp với đạo đức Việt nam nhưng sự truyền giáo đã bị chính quyền hồi đó ngăn cản và do đó gây sự nghi ngờ trong người dân.

Ta đừng chê chính quyền là hẹp lượng khi không chấp nhận cho một tôn giáo mới được hành đạo tại đất nước mình. Riêng đối với Thiên chúa giáo, khi vua quan Việt nam ngăn cản sự truyền giáo chính là vì lý do chính trị.

Giáo sư nghiêm Thẩm trong cuốn “Sơ phác về những điều kiêng kỵ Việt nam[1]” đã viết:

“Những tu sĩ thừa sai không tự giới hạn trong việc truyền giáo, các vị còn dẫn theo những con buôn biển lận, họ, ngoài mục đích chinh phục kinh tế, còn có mục đích thôn tính đất đai.

“Chính giới cũ cảm thấy mối nguy mang lại bởi tư tưởng và con người phương Tây, tìm cách ngăn cản sự du nhập vào trong nước của người Âu, dù là nhà truyền giáo hay con buôn, và bó buộc giáo dân việt Nam phải từ bỏ

đạo mới. Chính quyền đã thường áp dụng những biện pháp bạo tàn...

“Giáo dân, thấy bị đe dọa và mang trong lòng hy vọng thầm kín được sùng tín đạo mới của mình, dưới một chính thể mới, đã không nhiều thì ít, công nhiên cộng tác với ngoại xâm”.

Nhiều tác giả pháp, trong đó có ông G. conlet cũng đồng quan điểm trên, cho rằng chính vấn đề chính trị đã làm khó khăn cho sự truyền đạo của Thiên chúa giáo ở Việt nam. Ông đã viết trong tập “cultes et Religions de l’Indochine an- namite” (Sự thờ phụng và các Tôn giáo Việt nam).

“Nếu những nhà truyền giáo thiên Chúa giáo, nếu những giáo dân bản xứ

[1] Esquisse d’une Etude sur les interdits chez les Vietnamiens, “Bộ văn hóa giáo dục” xuất bản tại Sài Gòn, 1965.

đôi khi giúp đỡ rất nhiều cho những đoàn quân xâm lược, lẽ đương nhiên họ

bị nghi ngờ bởi quan chức nhà vua và quân đội việt nam”.

Đến đây, có người sẽ hỏi tại sao, khi các tôn giáo khác du nhập vào Việt nam lại không bị chính quyền ngăn cản và không gặp sự dè dặt của dân chúng. Đọc lại lịch sử, ta nhận thấy các đạo nho, Lão, Thích do người Trung Hoa truyền sang khi họ cai trị nước ta; họ là chính quyền, họ đã chấp nhận, còn dân chúng nào có sự dè dặt được. Nói khác đi ba tôn giáo kia đã du nhập vào Việt nam sau khi Việt nam bị Trung Hoa thôn tính, sự kiện trái hẳn với đạo Thiên chúa.

Ngoài các tôn giáo được dân ta sùng kính tới nay, khi nói tới tín ngưỡng ta không thể bỏ qua được sự tôn thờ và tín ngưỡng những sức mạnh hữu hình hay vô hình khác.

Như đã nói, dân Việt nam tôn trọng nền luân lý dựa trên căn bản đạo đức là nhân, Lễ, nghĩa, Trí, Tín.

Ở đây phải nói đến chữ lễ. Biết giữ lễ nghĩa là biết đối xử với người như

người đối xử với mình, tùy theo địa vị của người và địa vị của mình. Chịu ơn người, phải biết nhớ ơn, được người giúp đỡ phải biết báo đền lại.

Dân ta tôn thờ và tin tưởng những sức mạnh vô hình chính là vì ân, nghĩa là vì lễ vậy. người ngoại quốc cho là mê tín, nhưng ở người Việt nam thì đây chỉ là giữ lễ.

Ta thờ kính Thần Mưa, vì mưa làm cây cối xanh tốt, mùa màng tốt đẹp, được ăn quả, được hưởng lúa gạo, ta nhớ ơn Thần Mưa; ta thờ kính Thần Sấm Sét vì Sấm Sét giết kẻ bạo tàn, diệt trừ tà quái...

Đừng đem khoa học ra mà giải thích; trên lãnh vực tín ngưỡng, có nhiều lý lẽ riêng và khoa học không giảng giải nổi dù với sự chứng minh hiển nhiên.

Tín ngưỡng là tín ngưỡng, khoa học là khoa học. Nói đến tín ngưỡng là bao hàm ý nghĩa ngưỡng mộ và tin tưởng một cách say mê.

Người ngoại quốc thường nói như chế giễu là dân ta nhiều thần quá, và chính nhiều người Việt nam trong một vài cuốn sách cũng có sự chế giễu này.

Ông phan phát Huôn trong Việt nam giáo sử khi đề cập đến thần đạo cũng viết: “Người việt Nam thờ cúng đủ loại thần. Các vị thần ấy có thể xưa kia là người có hồn có xác, những vị thần ấy cũng có thể là một con vật hoặc một tảng đá!”.

Nói đến tín ngưỡng tất nhiên có nhiều điều mâu thuẫn, và huyền hoặc, nhưng thường tất cả những điều huyền hoặc và mâu thuẫn đã là thể chất của nhiều tôn giáo.

Không chấp nhận một tôn giáo đó là quyền của mỗi người, nhưng mỗi người cần tôn trọng tín ngưỡng của người khác.

Vấn đề tín ngưỡng Việt nam, kể ra thì hơi phức tạp, nếu đề cập tới một cách chủ quan. NƠÌ đây là nơi gặp gỡ của nhiều tôn giáo, và mỗi tôn giáo đều có cái hay riêng, nhưng dù hay đến đâu, trong mỗi tôn giáo đều có những điều huyền hoặc mà các tín đồ không hề bao giờ cho đó là dị đoan.

Người hiểu biết không bao giờ đụng chạm đến tín ngưỡng của người khác, nhất là cố tình đem những sự huyền hoặc để chê bai. Với ánh sáng khoa học, với nền văn minh ngày càng tiến, rồi đây có lẽ những sự dị đoan mê tín, hiện đang có trong tín ngưỡng nhiều người qua nhiều tôn giáo khác nhau, sẽ tự đào thải, nhưng cái căn bản đạo đức của tôn giáo sẽ là những điều trường tồn không bao giờ mất được dù cho rằng tôn giáo đó có không còn ở Việt nam hay ở hoàn vũ nữa.