Gián quyền hoặc bãi quyền người thừa hưởng hương hỏa (tiếp)Phần 59

Về bản chữ này. Bản chữ này lấy từ một ấn bản đã sắp chữ và số hóa, nên vẫn còn lỗi đánh máy và lỗi quét.

người soi gương, vì mặt mình không sạch, nên cái bóng trong gương cũng bẩn.

Vậy thì trong khi tác pháp có sai lầm đều do tâm niệm của người chưa trong sạch.

Phải khởi tưởng như thế, và phải hết lòng cung kính ái mộ thì bất cứ việc làm phúc gì cũng đều biến thành phật sự thanh tịnh và vẫn không mất lợi ích riêng.

Trong gia quyến, khi rước tăng tới cầu siêu thì nên đối trước bàn linh nhắc lại lời nói trên nhiều lần, thường là bảy lần, thì dầu trong khi thực hiện Phật sự có sự sai lầm, việc cầu siêu vẫn có kết quả.

Việc phúc đức của người sống đối với sự siêu thăng của người chết Con cháu làm lễ cầu siêu cho ông cha, người sống làm lễ cầu siêu cho người chết, trong việc cầu siêu, lễ bái đã đành nhưng việc làm phúc không thể không có được, vì việc làm phúc tạo công đức để gánh đỡ tội lỗi cho người chết.

Cái yếu điểm của người làm phúc, có thể gọi là việc nghĩa, phải lấy hạnh bố thí làm gốc. Bố thí đây nghĩa là lấy di sản của kẻ chết, nếu không có thì lấy của cải của bà con, bạn bè đem làm việc phúc đức để tạo lợi ích cho người chết.

Trong kinh Vô thường có nói:

-

Sau khi người chết đã lâm chung, nên lấy y phục mới mẻ của họ, hoặc những vật thụ dụng của kẻ còn sống chia làm ba phần, vì người chết đó mà cúng dàng Tam bảo gồm Phật đà, Đạt ma và tăng già. Nhờ sự cúng dàng này, người chết dầu cho nghiệp nặng cũng trở thành nhẹ và được công đức.

Không nên đem những y phục tốt đẹp mà mặc cho người chết, vì không những vô ích mà còn tăng thêm tội của họ.

Xưa thì làm như vậy, nhưng nay, vì hoàn cảnh hiện tại, có thể đem áo quần, di sản đổi lấy tiền làm việc bố thí, trang nghiêm Phật tượng, ấn tống kinh điển, cúng dàng tăng già. Cũng có thể làm những việc khác như phóng sinh hoặc các công cuộc xã hội giúp ích cho người nghèo khổ.

Nhờ những công đức việc làm phúc đó, người chết dầu bị đọa vào ngã quỷ cũng được hưởng rất nhiều lợi ích.

Trong kinh Ưu bà tắc có nói:

Nếu người cha chết rồi bị đọa vào trong ngã quỷ, và người con vì cha làm những việc phúc đức, thì người cha được hưởng thụ ngay. Nếu được lên Trời, người cha không nghĩ tới vật dụng trong cõi đời nữa, vì trên trời không thiếu gì. Nếu phải đọa vào địa ngục, thân người cha phải chịu bao nhiêu khổ não, không được rảnh rang để nhớ nghĩ nên không được hưởng thụ. Đọa vào súc sinh cũng vậy. Nếu hỏi tại sao ở trong ngạ quỷ liền được hưởng thụ lợi ích, thì vì người ấy sẵn có lòng tham lam bỏn xẻn, cho nên phải đọa vào ngạ quỷ, nhưng khi làm ngạ quỷ thường hay hối hận tội lỗi, suy nghĩ nhiều muốn được lợi ích, nên được hưởng.

Đấy là nói rõ chỗ lợi ích của quỷ thú, còn đối với công phu làm việc phúc thì thật không luống uổng. Không phải chỉ kẻ chết được hưởng mà ngay những bà con hiện tại cũng chung phần được hưởng.

Kinh Phật cũng đã nói: Nếu như kẻ chết đã thác sinh vào các đạo khác, nhưng còn bao nhiêu bà con còn đọa trong ngạ quỷ, nếu có việc làm phúc thì cũng được lợi ích. Bởi vậy, người hiểu biết nên vị ngạ quỷ mà siêng năng làm việc công đức.

Tuy nhiên, trong khi dùng tài sản của người chết đem làm việc phúc, phải xét tính tình lúc sinh thời của người này. Nếu lúc sống họ hà tiện bủn xỉn, nay chết đi thấy của cải của mình bị đem cho người khác, họ sẽ tiếc, và đo đó khởi lên tà niệm, sẽ có tội thêm. Bởi vậy trước khi dùng tài sản của họ làm việc phúc đức cần phải khai thị cho họ hay. Dưới đây là mẫu mấy lời khai thị, gia quyến người chết thường dùng.

Thưa

(thứ vị người chết đối với người sống)

Nay tôi đem di sản của người làm Phật sự và làm việc phúc đức, đem của cải hữu lậu làm việc vô lậu, nhờ công đức này người sẽ được siêu sinh tịnh độ.

Người phải chăm lòng thành kính niệm Phật A di đà cầu ngài cứu độ cho. Đối với di sản cần phải rời bỏ, chớ nên bận lòng, phải hoàn toàn không luyến tiếc tham đắm vì những thế tài giàu có hoàn toàn để lại cho người, người cũng không thọ dụng được nữa, chúng đã thành vô dụng.

Nghi thức cúng Phật trong một vài trường hợp đặc biệt

Cúng qui lăng

Trong các đám tang, sau khi hạ huyệt, lấp đất rồi, những người theo đạo phật có làm lễ quy lăng tức là làm lễ cúng phật độ vong ngay ở bên mộ cầu quán gần đấy. cúng xong, nếu gia chủ đã sắm thuyền bát nhã, các sư tăng làm lễ chèo đò để đưa vong vượt biển theo phật về chốn Tây phương cực lạc thế giới. Sau đó các sư cầm hương đi chung quanh mộ gọi là đi dung nhan.

Lể bắt cầu giải oan

Người Việt Nam rất sợ lúc chết đi sẽ thành những vong hồn cô quả, không người cúng vái, phải đi cướp cháo lá đa, nghĩa là sẽ không có người cúng giỗ, thành những ma đói ma khát, chờ những dịp cúng thí cô hồn thì tới cướp đồ lễ cúng gồm có cháo đựng trong những bồ đài bằng lá đa và các lễ vật khác.

Ta cũng lại rất sợ vong hồn của những người thân, bị chết bất đắc kỳ tử

hải làm ma ở nơi thọ nạn, chết đuối ở dưới sông, dưới ao, chết ngã cây thì ở

trên cây v.v... Do đó, ta có tục làm lễ bắt cầu giải oan để vong hồn này được lên chùa nhờ cảnh phật ngõ hầu được siêu thăng.

Lễ bắt cầu giải oan cho những vong hồn tử nạn có một nghi thức riêng, nghi thức này chú trọng đến việc chiêu hồn người ngộ nạn và tiếp dẫn hồn này tới cửa chùa ăn mày kinh phật.

Người nào chết ở nơi nào, lễ được cử hành ngay ở nơi đó, dù người bất hạnh chết về việc gì: chết đuối lễ cử hành ở bờ sông, bờ hồ, chết vì ngã cây lễ cử hành ở gốc cây, bị kẻ thù đâm chết tại đường xá, lễ cử hành ngay tại quãng đường thọ nạn.

Bắt cầu cho người chết đuối

Gọi là lễ bắt cầu giải oan, không phải vì trong buổi lễ có một chiếc cầu, nhưng chính là để tạo một con đường, coi như chiếc cầu để đưa oan hồn tới cảnh Phật. Nói giải oan là vì người thọ nạn coi như bị chết oan, nên phải có cúng giải oan và tụng kinh để giải trừ oan khiên.

VIỆC SỬA SOẠN

Việc làm lễ bắt cầu giải oan trước khi cử hành phải cần một sự sửa soạn cẩn thận theo lời chỉ dẫn của Pháp sư hoặc của nhà sư nhận đứng cúng lễ

này. Sửa soạn để chuẩn bị các tự khí và lễ vật.

Trong lễ này, đối với người chết đuối, hai chữ bắt cầu còn có nghĩa tạo nên chiếc cầu vật chất để vong hồn người này leo từ dưới nước lên cạn trước

khi được tiếp dẫn tới một cảnh chùa. các tự khí gồm:

1- Hai bàn thờ,

2- Một tấm gương,

3- Một cây kim tích trượng,

4- Một thần phan,

5- Một hình nhân,

6- Một cầu vải (xem hình vẽ),

7- Một chiếc thang dọc chuối,

8- Bảy lá cờ giấy,

9- Một con gà trống, gọi là thần kê,

10- Một nồi bùa,

11- Một chiếc thuyền cắm ở bến, chỗ nạn nhân lâm nạn.

Đồ lễ gồm những đồ lễ thường dùng, hương đăng hoa quả, xôi oản.

Ý nghĩa và công dụng của mỗi tự khí trên.

Hai bàn thờ, một là bàn thờ Hà Bá, Âm phủ dẫn hồn sứ giả và chư thần, còn bàn thờ thứ hai là bàn thờ vong kẻ thọ nạn.

Bàn thờ Hà Bá và chư thần đặt trong một long đình, có hai chiếc mũ và một thông điệp. Hai chiếc mũ, một chiếc trắn là mũ Hà Bá, còn một chiếc vàng là mũ của Âm phủ dẫn hồn sứ giả. Ngoài ra trong lòng đình còn bày các đồ lễ như thường lệ.

Thông điệp gửi cho sứ giả, cho Ngũ đạo tướng quân và đương cảnh Thổ

địa chính thần để yêu cầu các vị này tiếp dẫn vong hồn đương sự vào thần phan.

Bàn thờ vong linh nạn nhân giản dị hơn. Đây chỉ là một chiếc bàn hoặc án thư trên có bài vị hay hình ảnh nạn nhân cùng với các đồ lễ thông thường.

có đặt tại mé tả bàn thờ chiếc đĩa đựng hai đồng tiền dùng để xin âm dương.

chiếc gương đặt trên một tấm ván nhỏ. Tấm ván này kê trên đòn tay long đình, - bàn thờ thứ nhất, và luồn dưới bàn thờ thứ hai, lòi ra ngoài bàn thờ

này. Gương này dùng để khai quang.

Hai bên tấm ván có cây kim tích trượng dựng ở mé bên phải, hình nhân và thần phan đặt về bên trái.

Kim tích trượng là cây gậy tượng trưng dấu hiệu của đức Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đây là một cây gậy gỗ, trên đầu có chiếc vòng bằng đồng, - vòng hào quang. Đính vào vòng hào quang có miếng dạ đỏ dài có viết sáu chữ

Nam mô thập phương chư phật.

Đức Địa Tạng Vương dùng cây kim tích trượng làm rung động hoàng tuyền, bẻ rơi khóa ngục và ngăn cản mọi sự khổ não. có một mảnh vải hẹp và dài buộc vào kim tích trượng, hai đầu thõng xuống, chỗ buộc tết múi thành hình Phật ấn để giúp cho vong linh nạn nhân đi tới được đất Phật.

Thần phan hình chữ nhật dài, bằng giấy, trên đầu có dấu úm của nhà Phật.

Tiếng úm đứng đầu câu kinh “Úm ma ni bát ri hồng”, các Phật tử vẫn tụng niệm để tỏ lòng tôn ngưỡng đức Phật.

Thần phan chia là ba ngăn theo chiều dài, ngăn giữa ghi tên họ nghề

nghiệp nạn nhân, ngăn bên phải ngày sinh, ngăn bên trái ngày tử.

Dưới thần phan chừa ba thẻo trống để ghi tên ba vị thần coi về thể xác, tên ghi từ trái sang phải: Bành cư, Bành Kiêu, Bành chất. Dưới tên thần Bành cư có ghi câu chú: “Tam hồn câu chí”, nghĩa là ba hồn đều tới; dưới tên thần Bành chất cũng có một câu chú: “Thất phách câu lai”, nghĩa là bảy vía đều lại.

Nếu nạn nhân là đàn bà thì câu chú sẽ là “cửu phách câu lai”. Sau mỗi câu đều có ghi thêm chữ Tốc! nghĩa là lập tức.

Thần phan buộc vào một cành tre. Xưa nay trong tang lễ vẫn dùng cành tre làm cành phan.

Khi hồn nạn nhân đã được giải oan bắt cầu, sẽ nhập vào cành phan dưới sự che chở của đức Địa Tạng Vương, được tượng trưng tại buổi lễ này bởi cây kim tích trượng.

cầu vải còn được gọi là cầu hồn bắc từ sông lên, nhưng chưa chạm tới mặt nước, cho tới tấm ván có đặt chiếc gương khai giang. cầu được chống đỡ bởi những chiếc cọc có sáu xà ngang bằng tre.

Thang dọc chuối bắc vào cầu hồn, nơi xà ngang cuối cùng, chân thang ngâm dưới nước. Vong hồn nạn nhân sẽ dùng thang này leo lên cầu vải.

Bảy lá cờ giấy cắm dọc theo cầu vải vào ngay chỗ có các cọc đỡ các xà ngang bằng tre. Trên cờ có ghi các câu chú, lệnh của Địa Tạng Vương cho Hà Bá và các sứ giả đi tìm kiếm hồn vía nạn nhân. các câu chú ghi trong bảy lá cờ như sau:

Hà Bá Thủy Cung tiếp dẫn tam hồn thất phách thượng lộ.

Hà Bá Thủy Cung tiếp dẫn vong hồn siêu thăng thượng lộ.

Nam phương xích y sứ giả tiếp dẫn vong hồn độ siêu thượng lộ.

Đông phương thanh y sứ giả tiếp dẫn vong hồn độ siêu thượng lộ.

Trung ương hoàng y sứ giả tiếp dẫn vong hồn độ siêu thượng lộ.

Bắc phương hắc y sứ giả tiếp dẫn vong hồn độ siêu thượng lộ.

Tây phương bạch y sứ giả tiếp dẫn vong hồn độ siêu thượng lộ.

Hình nhân bằng đồ mã dùng để thế mạng cho nạn nhân. Trên ngực hình nhân có viết hàng chữ: “Hình nhân nhất tương thế mệnh Hồ quý công quý Mẫn”, nghĩa là hình nhân dùng thế mạng cho ông họ Hồ tên húy là Mẫn.

Hình nhân này sẽ được ném xuống sông.

Thần kê, con gà trống được nhốt trong lồng đặt bên thần tượng, dưới cầu vải. Pháp sư đã cho gà nuốt một lá bùa để cho gà có phép linh tìm được vong hồn người thọ nạn.

Các pháp sư cho rằng gà trống có năm đức tính cao quý:

Văn, tượng trưng bởi mào gà,

Vũ, tượng trưng bởi cựa gà,

Dũng, tượng trưng bởi sự bất khuất của con gà trống hay chọi nhau không sợ kẻ thù.

Nhân, tượng trưng bởi sự biết thương đồng loại, mỗi khi có ăn đều gọi đồng loại.

Tín, tượng trưng bởi tiếng gáy canh không bao giờ sai.

Bởi gà trống đã nuốt bùa nên gọi là thần kê.

Nồi bùa là một chiếc nồi đất có vung trong đựng bùa, trên vung có chèn gạch để ngăn giữ mãnh lực ở trong nồi không thể gây tai nạn cho thân nhân nạn nhân.

chiếc thuyền để dùng trong lúc làm lễ, đem chở nồi bùa, hình nhân và thần kê ra giữa sông, ném xuống dòng nước.

NGHI THỨC BUỔI LỄ

Lễ bắt cầu giải oan do một vị sư hoặc một pháp sư làm chủ lễ.

Chủ lễ ngồi trên một chiếc chiếu trải ngay xuống đất bên tay mặt bàn thờ, giữa bàn thờ và dòng sông, có hai phụ tá giúp việc. Bắt đầu pháp sư đọc sớ

xin Hà Bá chiêu hồn nạn nhân, trong lúc đó hai người phụ tá đánh cảnh và đánh trống.

Gia chủ và con cháu nạn nhân, nếu có, ngồi trên một chiếc chiếu khác, trước bàn thờ chênh chếch chiếu của pháp sư và ở cùng về một phía của cầu hồn. Những người này trong lúc pháp sư đọc sớ, thỉnh thoảng lại lễ vào bàn thờ.

Sớ khấn nhân danh tín chủ, nghĩa là người đứng lên tổ chức lễ Bắt cầu, thường là gia chủ.

Sớ gồm hai đoạn:

Đoạn đầu sớ trình bày lý do buổi lễ, cầu khẩn Thập phương chư Phật, Tam phủ Thánh hiền, Thần Hổ, Hà Bá Thủy quan bộ chúng (Thần sông, Thần cầu), Truy hồn sứ giả v.v... để xin phù hộ cho vong hồn người chết được siêu độ

và gia chủ được an ninh.

Đoạn thứ hai của sớ lại chia ra làm ba phần khác nhau: Phần trên cầu khẩn Thập phương thường trụ tam bảo (Ba bảo vật bất diệt của mười phương), U

Minh giáo chủ, Đại Thánh Địa Tạng, Đại Thánh Thủy tạng Vương bồ tát, chư

vị bồ tát ma ha tát.

Phần giữa khấn Phạn Vương, Đế Thích và Hải Nhạc long cung.

Thứ ba là khấn đến vong hồn nạn nhân, cầu cho hồn vía nạn nhân sống sao thác vậy để được Thần phật độ trì.

Sau các lễ khấn vái trên, pháp sư cầu đến Tam giới dẫn hồn sứ giả để xin tiếp dẫn linh hồn nạn nhân lên cầu.

Khấn vái xong, pháp sư dùng những nén hương đang cháy vạch lên không trung hai chữ “Nhập tốc” nghĩa là vào ngay.

Lễ Hà Bá chiêu hồn đã xong, các vị thần linh và vong hồn nạn nhân lúc này đã hiểu rõ lòng thành và sự cầu khẩn của tín chủ.

Giờ đây, một người phụ tá của pháp sư đọc sớ chiêu hồn nạn nhân, xin thần thánh phù hộ cho hồn phách nạn nhân được lên cầu vải, để có thể xây mộ cho nạn nhân được.

Kế đó sớ được đem đốt. pháp sư xin âm dương đã được thần linh chấp nhận mọi việc.

Sau đến lá sớ cuối cùng. Đây là sớ khấn vong hồn nạn nhân.

Sớ đọc ba lần, mỗi lần vợ con nạn nhân lại lễ vái và khóc lóc.

pháp sư dùng hương đang cháy vẽ chú ra lệnh cho hồn phách nạn nhân nhập cành phan.

Sau là lễ khai quang. pháp sư dùng tấm gương để làm lễ này. Mục đích lễ

khai quang là cốt cho hồn phách nạn nhân trở lại sáng suốt hết u mê.

Tiếp theo lễ Khai quang là lễ thế mạng trên sông. pháp sư và hai phụ tá cùng với tín chủ và các con xuống thuyền mang theo hình nhân, thần kê và nồi bùa.

Thuyền bơi chung quanh nơi nạn nhân ngộ nạn.

pháp sư lúc đó thắt một chiếc thắt lưng xanh. Trong lúc thuyền bơi thì luôn mồm ông niệm chú. Hai người phụ tá đánh trống và đánh cảnh.

pháp sư tay cầm thần kê đọc chú. Kế đó hình nhân được ném xuống sông để thế mạng cho người thọ nạn. pháp sư lại đọc lên năm đức tính của thần kê rồi ném luôn thần kê xuống sông.

Sau cùng là nồi bùa cũng được liệng xuống nước.

pháp sư lại niệm chú để mọi tai ương không thể đến với gia đình gia chủ

được.

Lễ đến đây là xong.

Ở trên chỉ trình bày lễ Bắt cầu giải oan cho người chết đuối, nhưng lễ này vẫn được cúng cho tất cả những người bị chết oan bất cứ tai nạn gì. Nghi thức chỉ có những thay đổi chi tiết, và những vật dụng dùng trong buổi lễ

cũng thay đổi hoặc giảm bớt đi.

Đối với những người chết ở trên cạn thì không có chiếc thuyền, chiếc thang dọc chuối và cầu vải.

Khi nạn nhân chết ở núi thì khấn Sơn thần thay vì Hà Bá, còn nếu chết ở

đồng

bằng thì

khấn

Thổ địa

dương

cảnh chi

thần.

Điều

cốt yếu

của buổi

lễ, như

trên đã

nói

là

chiêu

hồn

người

khuất và

tiếp dẫn linh hồn người này tới đất phật để ăn mày kinh kệ ngõ hầu mọi sự

oan khiên được giải hết.

Lễ Kỳ An

Thực ra lễ Kỳ An (Kỳ Yên) không phải riêng là một lễ của nhà Phật, đây là một lễ dùng uy tín của kinh Phật để trấn an trong làng xã.

Lễ Kỳ An cử hành vào khoảng cuối xuân đầu hạ tại mỗi xã, có khi tại mỗi thôn.

Mùa hạ là mùa viêm nhiệt, tức là mùa dịch khí, có nhiều người mắc chứng bịnh dịch tả, dịch hạch v.v... Tục ta tin là các quan âm bắt lính, những người chết về các chứng bệnh dịch sẽ biến thành lính của các quan ôn tại cõi âm.

Để tránh sự bắt lính của quan ôn nhằm vào dân làng, lễ Kỳ An được tổ

chức.

Lễ Kỳ An dùng toàn đồ vàng mã. có nơi chỉ làm lễ một buổi, có nơi lập đàn tràng cúng tế ba đêm ngày liền hoặc một tuần.

ĐÀN TRÀNG

Khi lập đàn thường lập hai đàn: đàn nội và đàn ngoại.

Đàn nội thờ Trời, Đất, Phật, Thánh, Nam Tào, Bắc Đẩu, các thần dương niên, dương cảnh và ngũ phương chi thần v.v...

Đàn ngoại thờ Minh vương, vua cõi âm, có hai viên quan văn võ đứng đầu, văn cầm bút đứng bên tả, võ cầm kiếm đứng bên hữu. Bên ngoài có năm vị

Ôn chúa, mỗi vị một sắc mũ áo, mỗi vị một thanh kiếm và một lá cờ.

Trong nội đàn, Trời, Đất, Phật, Thánh và chư thần được tượng trưng bằng mũ áo mã, hoặc bằng các bát hương. Riêng chư thần có thể là những hình nhân người mã. cũng có đôi khi, nhưng trường hợp rất ít, người ta làm tượng cả đức Ngọc Hoàng, đức Phật và chư Thánh Thần.

Tại đàn ngoài, từ Minh Vương đến hai viên quan văn võ, các vị ôn chúa đều là người mã.

Ngoài các vị trên, ở đàn ngoài còn thần Giám đàn, tượng trưng bằng một người mã tay chống thanh gươm trông vào nội đàn.

Ngoài sân có một binh lính cưỡi ngựa, lưng cài lá cờ mang chữ lệnh gọi là cờ lệnh. Đây là tên quân có nhiệm vụ truyền lệnh của Thần Thánh và của chư vị quan âm.

Ngoài nữa còn la liệt các đồ mã khác: quán thày bói, cầu cô hàng, ông Thiên lôi, bà La sát, núi Thu tinh, thuyền rồng, voi, ngựa, chiêng, trống, hình nhân, khí giới v.v...

CÚNG LỄ

Về cúng lễ, đầu tiên cử hành cúng tại đàn ngoài.

Có một pháp sư hoặc một hòa thượng làm chủ lễ. Có các môn đạo khua trống đánh nạo bạt rầm rĩ, múa gươm, múa cờ.

Thu tinh cấm giới

Pháp sư hoặc Hòa Thượng tụng kinh, phù chú để thu vào núi Thu tinh hết các thạch tinh cốt khí, yêu ma lệ quỉ, ngăn cấm không cho xâm phạm đến giới hạn trong làng. Lễ này gọi là Thu tinh cấm giới. Với lễ này, người trong làng không sợ bị ôn thần âm binh bắt nữa, nhưng nếu ai đi khỏi địa phận làng vẫn có thể bị bắt lính được, nghĩa là mắc bệnh dịch mà chết.

Lễ Phát Tấu

Sau lễ Thu tinh cấm giới ở đàn ngoài và lễ phát tấu ở đàn trong. Lễ phát tấu nghĩa là lễ đọc sớ tấu của Trời, phật để xin Trời phật phù hộ cho dân làng.

Đọc xong lễ phát tấu xong, pháp sư và các môn đạo đọc kinh tới sáng.

Ngày hôm sau lại tụng kinh cả ngày. Lẽ tất nhiên có sự luân phiên giữa pháp sư và môn đạo hoặc giữa các nhà sư, vì suốt đêm ngày luôn luôn phải có người tụng kinh trước đàn. Trong lúc đó, thiện nam tín nữ cũng luôn luôn thay phiên nhau tới lễ kinh.

Lễ dâng lục cúng.

Tối thứ hai làm lễ dâng tục cúng tại đàn nội, tức là lễ dâng sáu lễ vật gồm hương, hoa, đèn, trầu, quả và thức ăn. Trong lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chạy đàn nghĩa chạy lượn ra lượn vào quanh đàn, rồi mới tiến dâng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn, hai vị tăng ni tay múa may rất dẻo mà các đồ lễ không rơi và đèn cũng không tắt.

Lễ cát đoạn.

Lục cúng dâng xong là lễ cúng cát đoạn, hoặc gọi là cát khiên. Mục đích lễ này là để giải hết oan khiên cho chúng sinh. cát nghĩa là cắt, đoạn nghĩa là đứt. cát đoạn là cắt đứt, còn cát khiên nghĩa là cắt oan khiên.

Tại đàn tràng có một sợi giây trăng từ đầu nọ qua đầu kia; trên sợi giây này có treo rất nhiều quần áo chúng sinh tức là những bộ quần áo nhỏ bằng giấy màu ngũ sắc, và 630 đồng kẽm. Sau này không có tiền kẽm người ta dùng 630 đồng tiền trinh, và nếu tiền trinh không có, người ta thay thế bằng giấy tiền. Không hiểu tại sao lại lấy con số 630, có lẽ con số này tượng trưng cho một số đông, hoặc là tại một quan tiền kẽm có 600 đồng, nay phải có một quan và thêm số lẻ, như tục lệ ta mỗi khi mở hàng thường cần có lẻ loi để lấy may mắn.

Pháp sư cúng khẩn đọc chú rồi cầm dao cắt đứt sợi giây này làm đôi, việc cắt giây này có nghĩa là cắt giây oan nghiệt để giải thoát chúng sinh.

Những bộ quần áo giấy được thu góp đem đốt còn 630 đồng kẽm hoặc đồng trinh thì rớt xuống sân đàn, khi hết lễ có kẻ khó hoặc trẻ mục đồng tới nhặt.

Lễ cúng Tràng phiên.

Sau lễ cắt đoạn là lễ cúng tràng phiên, nghĩa là lễ cúng cây phướn. cây phướn là một cây tre cao trên có treo một chiếc phướn. Đầu cây phướn làm thành hình con quạ ngậm một tấm lụa đỏ dài chừng bốn năm thước...

Cây phướn làm theo một tích cũ của nhà phật. Tục truyền rằng ngày xưa có một người tính tình bạo nghịch độc ác và rất hay giết người, nhưng anh ta lại là một người con rất hiếu và rất kính sợ mẹ, một bữa kia có mấy người tới quyên giáo.

Sự hiện diện của mấy nhà sư quyên giáo khiến anh ta bỗng nhiên hồi âm hướng thiện và anh ta muốn có gì để cúng nhà chùa. Trong nhà không sẵn tiền, sẵn gạo, anh ta lòng thành xin đem quyên bộ ruột của mình. Đoạn anh ta tự moi ruột đưa ra rồi chết. Các người quyên giáo nể tấm lòng thành, mang bộ ruột đi, nhưng vì bộ ruột trở mùi, các nhà sư không chịu nổi mới đem quăng xuống khe suối. Có một con quạ tha bộ ruột ấy bay đến cửa chùa, đậu trên ngọn cây mà kêu. Đức phật thấu rõ lòng chân thành của anh ta, nên tại chùa chiền đều có treo cây phướn để nhắc lại sự hồi thiện của người ấy. Tấm lụa đỏ dài trên cây phướn tượng trưng cho bộ ruột đã được con quạ tha từ

khe suối đến nhà chùa.

Tích cũ nhắc lại là như vậy, và được dân gian truyền tụng, nhưng ta phải hiểu rằng cây phướn là cờ lệnh riêng của nhà phật, và ma quỷ thấy cây phướn thì sợ phật nên phải lánh xa. Do đó tại các đàn tràng đều có trồng cây phướn để trấn áp ma quỷ.

Lễ cúng tràng phiên cũng có đọc kinh và dâng lễ vật.

Đàn Mông sơn.

Tối hôm sau lên đàn Mông sơn. Đàn Mông sơn còn gọi là đàn thí thực.

Trên đàn có bảy oản quả hương hoa, có một bát cơm úp và một đôi đũa bông để cúng phật, một nhà sư mặc áo cà sa đại diện đức phật ngồi trấn đàn.

Ở dưới đàn có bày hoa quả và thực vật như cơm đã nắm thành những nắm nhỏ, cháo, bỏng, ngô, khoai, kẹo, bánh v.v... Đây là những đồ lễ để bố

thí cho chúng sinh.

Ta cho rằng, các cô hồn uổng tử không có người cúng lễ sẽ tới cướp những hoa quả thực vật tại đàn thí thực này.

Pháp sư và môn đạo cúng xong thì có những người xô nhau vào cướp những đồ lễ nói trên. Việc cúng này, trước hết là thí thực cho chúng sinh, nhưng sau khi các chúng sinh đã hưởng thì những người nghèo ở cõi trần cũng cùng nhau tranh cướp những đồ thí thực trên. Tục gọi việc tranh cướp này là cướp cháo thí.

Lễ phóng sinh

Sau khi mọi người nghèo khó và các trẻ em tranh nhau cướp xong những cơm cháo bánh trái là lễ phóng sinh.

Phóng sinh nghĩa là thả sống những con vật đã mua về. Những con vật này, lẽ ra người khác mua dùng để ăn thì khi lễ Kỳ An người ta mua chúng về cốt để đem thả chúng, có ý là cho chúng sống lại, lẽ ra chúng phải chết.

Lễ tạ Trời Phật.

Trong lễ tạ Trời Phật, có sớ lễ tạ. Pháp sư làm lễ cầu kinh, đọc sớ. Dân làng vào lễ theo. Ai nấy đều khấn vái để Trời Phật phù hộ cho dân làng được bình yên tai qua nạn khỏi.

Lễ tiễn ôn chúa.

Trong lễ tiễn Ôn chúa có cúng xôi bò lợn rượu. Pháp sư một tay cầm nắm hương đang cháy hoặc bó lửa, thư phù niệm chú, tay kia cầm ấn quyết triệt lộ, tiễn Ôn chúa ra khỏi đầu làng đầu chợ, ngã ba ngã bảy rồi mới đem đốt chúa vị Ôn chúa người mã đã cúng ở đàn ngoài. Việc làm này có ý nghĩa tống khứ ôn dịch đi thật xa, không để cho quanh quẩn ở địa phận làng xã nữa.

Ở về vùng Phúc Yên, trong lễ Kỳ An, có tục mỗi xóm dựng một vị thiên lôi để trấn trừ ma quỷ Ôn thần. các Pháp sư đi từng ngõ, có người phụ tá đi theo đánh trống đánh nạo bạt và niệm chú khu trừ ma quỷ.

Trong khi làm lễ Kỳ An tại nhiều làng có lệ bày ra hát bội, mở trò bách hí như múa rối, đáo đĩa, đánh vật để dân làng mua vui.

Lễ Kỳ An là lễ thường cúng hàng năm mỗi khi xuân bắt đầu qua, hạ bắt đầu tới để ngừa trước việc bắt lính của các quan Ôn.

Lễ tiến thảo

Ngoài trường hợp cúng hàng năm, nếu trong xã nào bất thần có dịch khí lưu hành, dân làng có nhiều người chết, lập tức người ta thiết đàn ở giữa

đình làm lễ cúng tiễn quan Ôn, lễ nầy gọi là lễ tiến thảo. Ngoài đồ lễ của làng gồm vàng hương hoa quả, dân làng ai có gì thì mang ra cúng, gạo, rượu, tiền bạc, xôi chè v.v... Cúng xong, đồ lễ của ai người đó mang về, ngoài trừ đồ mã được đốt ngay tại đình. Gặp những năm tai họa nặng nề, nghĩa là dịch khí làm chết nhiều người, dân làng thường làm lễ tiến thảo đến hai ba lần để

mong cho làng được bình yên.

Hội chư bà

Chư Bà là những người từ năm mươi tuổi trở lên, hoặc người có tuổi mà góa chồng mượn cửa chùa làm nơi vui thú[22]

Thường tại làng nào cũng vậy, có một số các bà đến một tuổi già, muốn gây lấy phúc đức, lo làm lành ăn chay niệm phật. Các bà đến quy tại chùa và tổ chức thành hội với nhau để cùng lo phật sự.

Muốn đi quy để vào hội chư bà, trước hết phải sửa lễ cúng phật, lễ cần tinh khiết và thường chỉ gồm trầu cau. Trong buổi lễ này, một vị tăng hay ni làm lễ cho người xin qui thụ giới, và kể từ đó, đương sự được vào hội chư bà và được gọi là bà vãi.

Thường, làng đã có chùa thì có hội chư bà.

Những bà vãi mới vào hội, tối tối phải tới chùa học kinh do vị tăng ni truyền dạy hoặc do các vãi dạy lẫn nhau. Hàng tháng trong những ngày sóc vọng, các bà vãi phải có lễ lên chùa để trước là dâng lễ phật sau là kính biếu tăng ni.

Về mùa hè, chư bà thường lên chùa tụng kinh và lễ phật, mỗi tối lễ tới năm trăm lễ. Nếu vãi nào không lên chùa được thì ở nhà cũng phải tụng niệm như ở chùa vậy. Việc tụng niệm kéo dài tới nửa đêm mới xong.

Tháng tháng các bà vãi cùng nhau đóng tiền góp gạo giúp đỡ nhà chùa, và mỗi khi, đầu mùa có của lạ, các vãi thường tìm mua lễ phật và kính biếu tăng ni.

Mỗi khi nhà chùa có việc gì, các vãi hết lòng giúp đỡ, và thường khi được các tăng ni yêu cầu điều gì về phật sự không bao giờ các vãi từ chối.

Trong hàng các vãi, luôn luôn có một người nhanh nhẹn ở lại chùa để

giúp đỡ tăng ni trong việc đèn nhang thờ phụng, cũng có khi trong việc bếp nước cho nhà chùa, gọi là vãi thủ hộ.

[22] Phan Kế Bính - Việt Nam Phong tục.

Trong những dịp tuần tiết, các vãi được tăng ni ban phát cho thức gì đều lấy làm cung kính quý trọng, vì đây là lộc phật. Việc ban phát lộc phật như