THÔI CƠM THIPhần 6 · trang 59–68
Bản chữ chưa hiệu đính. Phần chữ dưới đây do máy nhận dạng từ bản scan, chưa được đối chiếu và chưa áp dụng bảng đính chính của chính tác giả ở cuối sách. Bản scan mới là bản chuẩn.
Trang sách 59THÔI CƠM THI
Trang sách 61Cụ tổng Bân người làng Tích-Sơn, huyện Tam-Dương, tỉnh Vĩnh-Yên. Làng Tich- Sơn ở cạnh tỉnh ly Vĩnh-Yên độ vài trăm thước, và có một vài thôn ở ngay sát cánh với nhiều khu tỉnh ly.
Cu Tồng năm nay ngoài năm mươi; cụ đã dụ đến hơn ba chục lần ở việc làng đầu năm. Kề từ ngày cụ phải ngồi bạn thứ hai. mươi bày cho đến ngay nay lần mò được lên đền bàn thứ hai trong xã cụ đã tốn biết bao nhiên công trinh về những nồi cơm đầu năm. Bây gtờ lên lão, cái công việc thổi cơm thi đã có con em trong lang, còn cụ thì chỉ việc mũ ni che tai, ra đình khế khà vài chén rượu thần, hoặc có năm nào ngứa mòm thì bắi bẻ vài nồi
Trang sách 62cơm khê, sống, rắn hoặc nhão, hay là khea mấy nồi cơm trắng, dẻo, thơm và mịn, Nói truyện với các cụ đồng bàn, cụ tổng thường vuốt vài sợi râu bạc nói: c Làng ta tuy nhiều tục dỏ, nhưng các cụ tính tục thỏi cơm đầu năm của ta bay biết bao nhiều. Vì có nồi cơm đầu năm, mà quanh păm trẻ nó mới chịu đề ý dến cơm nước chứ, con gái quê mà không biết thồi cơm thì vất đi ».
Cụ tổng nói rất phải, vì tuy thi cơm ở đinh là của con trai, nhưng thỏi com phần nhiều là công việc của các bà nội trợ và của các thiếu nữ khéo tay.
Lệ làng Tích-sơn cứ hàng năm mở bội về ngày mồng ba tháng kiến-giần. Trai làng cho đến bốn mươi luổi phải thổi mỗi người một nồi cơm mang đến đinh trinh các cụ :
đó là tục thi cơm. Muốn được thi cơm phải vào làng trước đã. Vào làng nghĩa la trinh diện với dân đề chịu các phân vinh nhục của lệ dân. Nhiều người tuy đã đứng tuổi, nhưng chưa vào làng thì cũng không được dự cuộc thi cơm.
Năm ngoái, vào hồi lễ tất niên cụ tổng
Trang sách 63đã nói với đồng bàn dân đề xin vào làng cho thắng con út là thẳng củ Hoạch năm nay nó đang bọc lớp nhì trường tỉnh Vĩnh- yên. Đã vào làng thi phải có nồi cơm thì.
Nhớ lai thuở xưa, những nồi cơm của minh vẫn giẻo, vẫn khéo, cụ muốn rẳng nồi cơm của cu Hoạch năm nay phải đứng vào hàng danh-dự xuốt hai giẫy Đông. Tây trong làng. Cụ bảo cu bà : « Đẩy bà mày liện thổi thế nào cho tôi được mát mặt với bàn Thượng thì thổi. Bắt con Tẽo nó phải trông nơm cho em nó. Ấy con gải đã nhớn thì phải biết thôi cơm rồi sau này mà thôi cơm lễ cho chồng ». Rồi cụ vừa cười vừa nói đùa : « Ngày xưa lôi lấy bà cũng chỉ vì nồi cơm cho chủ Môc đấy ». Cụ bà cũng cười, cười để mà nghĩ đến những ngày xưa khi cụ tổng còn đi ngồi tồng sư, cứ hàng năm cụ phải trông nom cho chồng đến vất vả vì nồi cơm. Thấm thoắt thế mà đã ngoài ba chục năm. Cụ lờ mờ tưởng đến những nồi cơm trắng mịn, không cháy, không nhão và khi cắt ra thì thật là một miếng cơm nắm nén kỹ.
Dên làng lích-Sơn có một nghệ thuật
Trang sách 64thôi cơm. Nồi cơm của họ chỉa mà không róc nồi một cách lạ bao giờ có chảy và lùng. Tài tinh nhất có hai điều : điền thứ nhất là cơm của bọ nguyên ở trong nồi thổi ra mà min như cơm nắm. Cả một nồi cơm đỗ ra là một nắm cơm vậy, nhưng đây bà một nắm cơm không có vỏ, vì họ thổi dụng công nên cơm không bao giờ có lấy một. mẫu cháy con. Muốn ăn ta cứ việc sắt ra thành từng miếng ăn rất thơm và lại hơi man mát mùi nhựa gạo.
Điều thứ hai là thôi nồi cơm chín như vậy mà cái nồi không bén. Cái nồi đất vẫn là cái nồi đất mới nguyên, không có vết khói, vết lửa. Đôi khi cũng có người thổi vụng về thì có chút ít vết lửa, nhưng đấy là một điều hiểm.
Cụ tồng bà là người thổi cơm xuất sắc và o bậc nhất nhi trong làng. Cụ đã thồi cơm cho cụ ông, cho bác Hinh là con trai cả cụ, năm nay cụ lại trông nom cho cô Tẽo thởi cơm cho cn Hoạch. Cụ bảo Tẽo : " Con gải bầm (1) liệu đấy. Con trai (1) Bằm là tiếng gọi mẹ ở vài vùng Vĩnh-yêo và Sơn-tây.
Trang sách 65ông lý năm nay cũng nộp cơm làng đấy, coa phải làm thế nào cho em con nó hơn thì làm. Phải thế thì sau con về làm dâu nhà ấy họ mới khỏi chê là không biết thỏi nồi cơm v: Ông lý đương định hỏi Tẽo cho con trai, vì ông biết nhà cu Tổng là nhà gia giáo thì con gải phải thao việc nội trợ. Đáng lẽ cưới hồi trong năm nhưng vì ít ngày dên cụ tổng xin hoãn đến ngoài xuân. Vả lại cụ lồng còn muốn khoe với ông lý cài tài thổi nồi cơm khéo của con gải ở giữa làng.
Bây giờ đã hai mươi sáu tháng chạp. Tối hôm ấy cu tông bà bảo Tẽo : « Mai ngày phiên chợ tinh đấy, chọn mua lấy chiếc nồi đất để ra giêng thổi cơm cho em nó thi với dân. Con nên chọn chiếc nào già mà đỏ thi nó đỡ bắt lửa. Để rồi bàm giậy con cách thổi cơm không cần lửa thì • mới ngon và khéo ». Cụ tổng bà thôi cơm thi khéo lắm. It khi ta thấy nồi cơm của cụ có bén lửa, bởi lẽ rất ít khi cụ dùng đến lửa. Muốn thôi một nồi cơm thi đầu năm thật là công pha. Phải có bai chiếc
Trang sách 66nồi, một chiếc nồi đồng và một chiếc nồi đất. Hai chiếc nồi thì tất nhiên là phải Đùng hai bếp lửa hay nói cho đúng là một bếp lửa và một bếp than. Bếp lửa bắc nồi đồng và bếp than đan nồi đất. Nỗi đồng đun nước cho sôi, rồi nước sôi ấy đỗ sang nồi đất. Nước đổ sang nồi đất đã nóng rồi, không cần đun bằng lửa nữa nên mặt ngoài nồi không bao giờ ám khói.
Bãy giờ, gạo đã vo lừ vửa giờ về trước đồ vào nồi đất. Gạo phải vo trước và phải để khô nước cho khỏi lạnh thì cơm khỏi chương. Cho vào nước rồi, người thổi cơm mới ghế đều lên. Ở dưới bếp phải giữ than hồng cho cơm chín. Cơm ghế rồi, người ta dùng một chiếc lá mit miết lên trên mặt cho mịn và cho nồi cơm được chắc như cơm nắm. Như thể tức là thổi cơm mở vung vậy. Thôi khéo thì cơm dẻo, mịn và thơm mát và nồi cũng không ám khói.
Mọi người vẫn thổi cơm lối ấy. Nhưng cũng có vài người thổi giỏi hơn, không cần đếa than ở bếp nồi đất mà chỉ cần lửa bếp nồi đồng- Họ nấu cơm bằng nước
Trang sách 67sôi. Họ bỏ gạo vo vào nồi đất, đỗ nước vào, rồi lại chắt ra, xong, lai đỗ . sồi lượi nước sôi khác vào. Họ thay nước mãi đến khi cơm. chín thì thôi. Như vậy chiếc nời đất không thể bén lửa, ám khói.
Thẩm thoát thể mà đã mồng ba tháng giêng. Làng Tích-Sơn lại mở hội như mọi năm lại có đủ các trò: chém lợn, giết gà, kéo co..; nhưng dân làng chủ ý nhất đến cuộc chấm cơm thi.
Hai bên và ở giữa đinh, suốt từ trong đến ngoài, chỉ những nồi cơm, nồi nọ liền nỗi kia. Mỗi nồi một anh con trai.
Ở vung và ở nồi có viết chữ bằng vôi.
Các cụ đi soát một lượt bao nhiêu nồi khéo đều cho bưng di. Những nồi được bưng đi là những nồi nhất và nhì. Cùng thỏi khéo bằng nhau, những nồi của chức sắc được bản nhất và của các trai đinh phải thứ nhì. Những nồi nhất nhì để thờ rồi các cụ được thừa hưởng và đem biếu khách thập phương đến lễ thánh. Các nôi khác về phần các dân đinh ăn với nhau, bốn
Trang sách 68người một bán, mỗi bàn bai nồi cơm• Lúc chấm cơm ở đình, dân các nơi kéo đến xem rất đông. Các ông huynh thứ trong làng có vẻ hãnh điện cùng thiên hạ vì mỹ tục của làng mình. Các ông như khoe khoang nói với nhau: « Cứ gi ở trong truyện Phạm-Công, Cúc-Hoa mới có thổi cơm thi lại không hàng vạn à?»
Các cuộc lế lễ đã xong. Dân làng ai ngồi về bàn ấy, cụ Tồng và ông Lý ngồi cùng bàn. Nồi cơm này có biên : < Phùng đình-Hoach, thập tử ». Cụ Tổng chỉ vào, bảo ông Lý: < Nồi cơm này của cháu đấy, ông Lý ạ. Chị nó ở nhà thồi cho nó đấy ».
Rồi cụ cười ha hả sung sướng. Ông Lý cũng cười theo.